Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PLEIKU

TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 195/2024/HSST

Ngày: 25/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Thắm

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Quách Đình Hoằng

Bà Doãn Thị Lệ

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Hải, Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vinh, Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 181/2024/TLST – HS ngày 04 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 194/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:

Cao Bá T, T1 gọi khác: Không; sinh ngày 14 tháng 6 năm 1996 tại Gia Lai; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Làng C, xã C, thành phố P, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Thợ sơn; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Cao T2, sinh năm 1970 và bà Đặng Thị T3, sinh năm 1974; Bị cáo có vợ là Lương Thị Ngọc T4, sinh năm 1998 đã ly hôn năm 2021 và có một con sinh năm 2017; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Bị cáo Cao Bá T bị tạm giữ từ ngày 29/6/2024 đến ngày 02/7/2024 sau đó chuyển tạm giam. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

Bị hại: Chị Võ Thị Kim T5, sinh năm 2002. Địa chỉ: Số A N, phường I, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Nguyễn P, sinh năm 1992. Địa chỉ: A B, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
  2. Anh Vũ Duy L, sinh năm 1997. Địa chỉ: Thôn D, xã G, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
  3. Chị Nguyễn Lê Thanh T6, sinh năm 2003. Địa chỉ: C T, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
  4. Bà Trần Thị Thúy H, sinh năm 1967. Địa chỉ: Hẻm S đường T, Tổ A, phường P, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
  5. Chị Cao Thị Thùy D, sinh năm 1999. Địa chỉ: Làng C, xã C, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
  6. Chị Nguyễn Thị Minh T7, sinh năm 1991. Địa chỉ: Số A đường T, phường P, thành phố P, tỉnh Gia lai. Vắng mặt.

Người làm chứng: Anh Nguyễn Công T8, sinh năm 1990. Địa chỉ: F đường T, phường I, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 22/04/2024, Cao Bá T sử dụng 01 điện thoại di động hiệu S1 (không rõ chủng loại) vào ứng dụng M có tên tài khoản “Tài Ti” nhắn tin vào trang fanpage Facebook tên “Apple service - A Trần Phú G - Hệ thống bán lẻ toàn Iphone toàn quốc” của cửa hàng A (địa chỉ số A đường T, TP ., tỉnh Gia Lai) hỏi mua 01 điện thoại di động hiệu Iphone, loại 12 Pro Max 256GB màu vàng, số I: 354876057637638 và 01 điện thoại di động Iphone, loại 13 Pro Max 128GB màu vàng, số I: 358408874472924 thì chị Võ Thị Kim T5 (là nhân viên cửa hàng Apple 123, quản lý trang Facebook của cửa hàng) nhận được tin nhắn của T, chị T5 thỏa thuận giá bán chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max 256GB với giá 14.390.000 đồng và chiếc điện thoại di động Iphone 13 Pro Max 128GB với giá 16.290.000 đồng. Đến 20 giờ ngày 24/04/2024, T đến cửa hàng T11 do chị Nguyễn Thị Minh T7 làm chủ ở số A đường T, phường P, TP ., tỉnh Gia Lai và nhờ chị T7 chuyển khoản số tiền 150.000 đồng (để đặt cọc 02 điện thoại di động) cho anh Nguyễn P (là chủ cửa hàng điện thoại Apple 123). Sau đó, T và chị T5 thống nhất gặp nhau tại hẻm S đường T, Tổ A, phường P, TP ., tỉnh Gia Lai để giao điện thoại. Đến 16 giờ 30 ngày 25/04/2024, chị T5 cùng anh Nguyễn Công T8 (là nhân viên của hàng Apple 123) mang 02 điện thoại nêu trên đến trước hẻm S đường T, Tổ A, phường P, TP ., tỉnh Gia Lai để giao hàng cho T; đến nơi thấy T đang đứng một mình, chị T5 đến xác nhận có phải T là khách hàng đặt mua điện thoại thông qua trang Facebook “Tài Ti” không thì T xác nhận đúng; sau đó, T yêu cầu chị T5 đưa 02 điện thoại di động để kiểm tra, nên chị T5 giao 02 chiếc điện thoại Iphone 12 Pro Max và Iphone 13 Pro Max cho T. Sau khi nhận được 02 điện thoại từ chị T5, T liền cầm và bỏ chạy đến chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave của T (đã để sẵn trước đó) đề nổ máy bỏ chạy; thấy vậy chị T5 và anh T8 cùng đuổi theo nhưng không kịp. Sau đó, chị T5 đến Công an phường P, TP . trình báo sự việc nêu trên. Sau khi chiếm đoạt được 02 chiếc điện thoại nêu trên, T mang 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone, loại 12 Pro Max 256GB màu vàng đến cửa hàng cầm cố F81 ở địa chỉ số D đường T, phường T, TP ., tỉnh Gia Lai bán, nhưng anh Vũ Duy L (là nhân viên của hàng) không mua do tài không biết mật khẩu; lúc này có một người đàn ông (không xác định được nhân thân, lai lịch, là khách đến mua điện thoại) hỏi mua chiếc điện thoại này của T với giá 8.000.000 đồng và T đồng ý bán cho người đàn ông này, số tiền 8.000.000 đồng T đã tiêu xài cá nhân hết

Đến ngày 26/04/2024, Công an phường P tiếp nhận thông tin của chị Nguyễn Lê Thanh T6 về việc ngày 25/04/2024 chị T6 có trò chuyện với Cao Bá T (là anh ruột của Cao Đức P1 là người yêu của chị T6) qua ứng dụng Messenger thì T nói mới giật 02 điện thoại của cửa hàng A; chị T6 có khuyên T trả lại tài sản cho cửa hàng A thì T nói để lại 01 chiếc điện thoại di động Iphone, loại 13 Pro Max 128GB màu vàng tại trụ điện trước nhà số G đường N, TP ., tỉnh Gia Lai. Sau đó, Công an phường P cùng với chị T6 tiến hành kiểm tra tại trụ điện trước nhà số G đường N, TP ., thì phát hiện, tạm giữ: 01 điện thoại di động Iphone, loại 13 Pro Max 128GB màu vàng. Sau khi tiếp nhận tin báo nêu trên, Công an phường P báo cáo Công an thành phố P để giải quyết theo thẩm quyền. Đến ngày 29/6/2024, Cao Bá T bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P bắt theo quyết định truy nã

Qua định giá, xác định 01 điện thoại di động hiệu Iphone, loại 12 Pro Max 256GB màu vàng, số I: 354876057637638, có trị giá 12.000.000 đồng; 01 điện thoại di động Iphone, loại 13 Pro Max 128GB màu vàng, số I: 358408874472924, có trị giá 15.000.000 đồng

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như những tình tiết nêu trên.

Bản Cáo trạng số 197/CT-VKS ngày 04 tháng 9 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Cao Bá T về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng, không thay đổi bổ sung gì và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Cao Bá T phạm tội “Cướp giật tài sản”. Áp dụng Khoản 1 Điều 171; Điều 38; Điều 50; điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Cao Bá T mức án từ 1 năm 9 tháng đến 2 năm 3 tháng tù.

Về dân sự đã giải quyết xong, không đề cập đến

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo

Xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung công số tiền 150.000 đồng tiền Ngân hàng N. Truy thu số tiền 8.000.000 đồng do bị cáo T thu lợi bất chính từ việc phạm tội.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm. Trước khi Hội đồng xét xử nghị án bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi tố tụng và các quyết định tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.

[2] Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai bị hại, lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với lời khai người làm chứng; người chứng kiến và phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Đồng thời căn cứ vào bản Kết luận định giá tài sản số 112/KL-HĐĐGTS ngày 30/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân thành phố P, có đủ cơ sở kết luận: Lợi dụng sự sơ hở mất cảnh giác của người khác, vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 25/4/2024, tại hẻm S đường T, Tổ A, phường P, TP ., tỉnh Gia Lai, sau khi được chị Võ Thị Kim T5 đưa cho 02 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone, Cao Bá T đã chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu Iphone, loại 12 Pro Max 256GB màu vàng, số I: 354876057637638 và 01 điện thoại di động Iphone, loại 13 Pro Max 128GB màu vàng, số I: 358408874472924 có tổng trị giá 27.000.000 đồng rồi nhanh chóng tẩu thoát. Đến ngày 29/6/2024, Cao Bá T bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P bắt theo quyết định truy nã.

Bị cáo Cao Bá T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản của người khác có tổng trị giá 27.000.000đồng rồi nhanh chóng tẩu thoát là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện đó là lỗi cố ý, nên hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo Cao Bá T về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Đây là vụ án “Cướp giật tài sản”, hành vi của bị cáo được xác định là tội phạm nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản, xâm phạm trật tự trị an xã hội.

[4] Để có mức án thỏa đáng, ngoài việc xem xét, tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội nêu trên thì còn phải xem xét đến nhân thân, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ của bị cáo trong vụ án để quyết định hình phạt cụ thể:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu đã bị kết án hai lần.

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận về hành vi của bản thân và các tình tiết có liên quan, tác động gia đình bồi thường cho bị hại và được bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự; căn cứ vào nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo, căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần lên cho bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, như vậy mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay.

[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 171 Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng” nên bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung. Xét thấy bị cáo không có tài sản riêng nên HĐXX miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về dân sự: Chị Cao Thị Thùy D (sinh năm 1999; trú tại làng C, xã C, TP ., tỉnh Gia Lai là em ruột của bị cáo Cao Bá T) đã tự nguyện bồi thường cho chị Võ Thị Kim T5 số tiền 12.500.000 đồng;sau khi nhận được số tiền bồi thường, chị T5 không có yêu cầu gì thêm đồng thời chị T5 đã xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo T, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[8] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 chiếc điện thoại di động Iphone, loại 13 Pro Max 128GB màu vàng, số I: 358408874472924; qua điều tra xác định đây là tài sản của cửa hàng A; Cơ quan điều tra đã tiến hành trả lại chiếc điện thoại này cho chị Võ Thị Kim T5. Sau khi nhận lại tài sản nêu trên, chị T5 không có ý kiến gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Đối với 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone, loại 12 Pro Max 256GB màu vàng, số I: 354876057637638 sau khi chiếm đoạt Cao Bá T đã bán cho một người đàn ông (không xác định được nhân thân, lai lịch). Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không thu giữ được, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Đối với 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung (không rõ chủng loại) mà bị cáo Cao Bá T sử dụng để trao đổi với chị Võ Thị Kim T5 sau đó thực hiện hành vi phạm tội. Quá trình điều tra T khai nhận chiếc điện thoại hiệu Samsung này là tài sản của T, sau khi thực hiện hành vi phạm tội thì chiếc điện thoại này bị hư hỏng nên T đã vứt bỏ, không nhớ vị trí nên Cơ quan điều tra không thu giữ được, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, không rõ biển kiểm soát bị cáo Cao Bá T khai nhận đã mượn xe mô tô trên của một người đàn ông tên T9. Khi mượn xe, T nói mượn xe để đi công việc, không nói mượn xe để đi cướp giật tài sản sau khi T thực hiện hành vi phạm tội xong thì T đã trả lại xe mô tô này cho T9. Hiện Cơ quan điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch của T9 và chưa xác định được xe mô tô nêu trên. Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Đối với số tiền 150.000 đồng mà bị cáo Cao Bá T sử dụng để đặt cọc cho cửa hàng Apple 123 nhằm tạo niềm tin với chị Võ Thị Kim T5 cần tịch thu sung công quỹ nhà nước. Truy thu số tiền 8.000.000 đồng do bị cáo T thu lợi bất chính từ việc phạm tội.

[8] Về các vấn đề khác: Đối với người đàn ông đã mua của Cao Bá T 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone, loại 12 Pro Max 256GB màu vàng, số I: 354876057637638 chiếm đoạt trái phép của chị Võ Thị Kim T5 do T không biết nhân thân, lai lịch của người đàn ông này, Cơ quan điều tra chưa có căn cứ xử lý. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P tiếp tục điều tra, xác minh, khi có căn cứ sẽ xử lý sau, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với chị Nguyễn Thị Minh T7 là người chuyển tiền đặt cọc điện thoại giúp Cao Bá T, qua điều tra xác định do trước đó Cao Bá T hay mua đồ tại tiệm tạp hoá của chị T7 nên ngày 24/4/2024, Cao Bá T nhờ chị T7 chuyển khoản số tiền 150.000 đồng vào tài khoản của anh Nguyễn P thì chị T7 đồng ý. Việc T nhờ chị T7 chuyển 150.000 đồng cho anh P để tạo niềm tin nhằm thực hiện hành vi phạm tội thì bản thân chị T7 hoàn toàn không biết. Do vậy, Cơ quan điều tra không xem xét, xử lý đối với chị T7 về vai trò đồng phạm với T trong vụ án là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Đối với đối người đàn ông tên T9 là người cho Cao Bá T mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, không rõ biển số sau đó T sử dụng xe mô tô này để thực hiện hành vi phạm tội. Do T không rõ nhân thân lai lịch của T9 nên Cơ quan điều tra chưa thể tiến hành điều tra xác minh. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P tiếp tục điều tra, xác minh, khi có căn cứ sẽ xử lý sau, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Cao Bá T phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 171; Điều 50; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Cao Bá T 2 (Hai) năm 6 (S) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 29/6/2024.
  3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự

    Xử: Tịch thu sung công số tiền 150.000 đồng tiền Ngân hàng N. Truy thu buộc bị cáo Cao Bá T nộp số tiền 8.000.000 đồng tiền Ngân hàng N sung công quỹ nhà nước.

    (Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 16/9/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P, tỉnh Gia Lai và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai).

  4. Về án phí:

    Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

    Xử buộc bị cáo Cao Bá T phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331 và 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

    Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Gia Lai;
  • - VKSND Tp. Pleiku;
  • - Công an Tp. Pleiku;
  • - Chi cục THADS Tp. Pleiku;
  • - Bị cáo, người bào chữa (nếu có);
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hồng Thắm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 195/2024/HSST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI về cướp giật tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 195/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cao Bá Tài phạm tội Cướp giật tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger