|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 195/2023/DS-ST Ngày 25 – 8 – 2023 V/v tranh chấp HĐ về hụi |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lâm Hoài Ân
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Võ Thanh Liêm
- 2. Ông Võ Sĩ Hùng
Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thị Thắm – Là Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
Ngày 25 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 202/2023/TLST-DS, ngày 26 tháng 4 năm 2023 về việc tranh chấp hợp đồng về hụi theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 213/2023/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 6 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1971; Địa chỉ: số 208, đường K, khóm 10, phường N, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Cẩm G và ông Bùi Hữu N; Địa chỉ: đường K, khóm 8, phường N, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Anh Nguyễn Toàn T, sinh năm 1985; Địa chỉ: số 140, đường Đ, khóm 2, phường A, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau là người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Đ theo văn bản ủy quyền ngày 25/3/2023 (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án được bổ sung tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bà Nguyễn Thị Đ (nguyên đơn) trình bày:
Ngày 27/11/2020, bà Đ mở 01 dây hụi, loại hụi 1.000.000 đồng, tháng khui 01 lần, dây hụi gồm 29 chân, vợ chồng bà G tham chơi 02 chân và đã hốt hụi ở kỳ thứ 2, thứ 4. Đến ngày 29/11/2020, bà Đ tiếp tục mở 01 dây hụi, loại hụi 1.000.000 đồng, tháng khui 01 lần, dây hụi gồm 29 chân, vợ chồng bà G tham chơi 02 chân và đã hốt hụi ở kỳ thứ 8, thứ 12. Tiếp đến ngày 04/12/2020, bà Đ mở tiếp 01 dây hụi, loại hụi 1.000.000 đồng, tháng khui 01 lần, dây hụi gồm 29 chân, vợ chồng bà G tham chơi 02 chân và đã hốt hụi ở kỳ thứ 5, thứ 14. Sau khi hốt hết 06 chân hụi của ba dây hụi nêu trên, vợ chồng bà G đã đóng hụi chết đến tháng 4 năm 2022 thì ngưng không đóng cho bà Đ nên trong mỗi dây hụi còn nợ 12 kỳ hụi chết với tổng số tiền là 72.000.000 đồng.
Đến ngày 08/01/2021, bà Đ mở tiếp 01 dây hụi, loại hụi 1.000.000 đồng, tháng khui 01 lần, dây hụi gồm 33 chân, vợ chồng bà G tham chơi 02 chân và đã hốt hụi ở kỳ thứ 2, thứ 6. Trong dây hụi này, vợ chồng bà G cũng đống hụi chết đến tháng 4 năm 2022 thì ngưng không đóng cho bà Đ nên còn nợ 17 kỳ hụi chết với số tiền là 34.000.000 đồng.
Tiếp tục vào năm 2022, bà Đ mở 03 dây hụi, cụ thể: Ngày 15/02/2022, mở dây hụi 1.000.000 đồng, tháng khui 01 lần, dây hụi gồm 29 chân, vợ chồng bà G tham chơi 04 chân; Ngày 18/02/2022, mở dây hụi 1.000.000 đồng, tháng khui 01 lần, dây hụi gồm 29 chân, vợ chồng bà G tham chơi 02 chân và ngày 20/02/2022, mở dây hụi 1.000.000 đồng, tháng khui 01 lần, dây hụi gồm 29 chân, vợ chồng bà G tham chơi 02 chân. Tổng cộng vợ chồng bà G tham gia chơi 08 chân hụi. Quá trình chơi hụi, vợ chồng bà G đã hốt 01 chân ở kỳ đầu tiên và kêu bà Đ mua lại 05 chân hụi nên bà Đ đồng ý mua và đã giao xong tiền 06 chân hụi cho vợ chồng bà G. Đến kỳ thứ hai (nhằm ngày 15/3/2022), vợ chồng bà G tiếp tục hốt 02 chân hụi còn lại và đóng được 01 kỳ hụi chết của 06 chân hụi đầu nhưng sau khi hốt hụi xong, từ tháng 4 năm 2022 thì vợ chồng bà G ngưng không đóng hụi chết cho bà Đ nữa và trong 08 chân hụi này, vợ chồng bà G nợ mỗi chân là 27 kỳ hụi chết, 08 chân nợ 216 kỳ hụi chết với số tiền 216.000.000 đồng.
Nay bà Đ yêu cầu ông N cùng bà G có trách nhiệm trả một lần hết số tiền hụi còn nợ của tất cả các dây hụi trên với tổng số tiền là 322.000.000 đồng (ba trăm hai mươi hai triệu đồng). Ngoài ra, bà Đ không yêu cầu thêm khoản nào khác.
Đối với ông N và bà G, Tòa án đã niêm yết Thông báo, các văn bản tố tụng và triệu tập nhiều lần nhưng ông, bà không đến Toà cũng không gửi văn bản để nêu ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà Đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
- Về tố tụng, bị đơn đã được thông báo, triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không rõ lý do nên căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự, Toà án vẫn tiến hành đưa vụ án ra xét xử.
- Tranh chấp giữa nguyên và bị đơn được xác định là tranh chấp hợp đồng về hụi. Quá trình thực hiện thỏa thuận về hụi, bị đơn đã lĩnh hụi nhưng không thực hiện nghĩa vụ góp hụi dẫn đến nguyên đơn phải đứng ra góp thay cho bị đơn để thực hiện nghĩa vụ đối với các thành viên còn lại trong các dây hụi nêu trên khi họ lĩnh hụi nên giữa các đương sự xảy ra tranh chấp.
- Xét nội dung tranh chấp, Hội đồng xét xử thấy rằng việc chơi hụi giữa các đương sự có lập danh sách hụi viên tuy không đăng ký, không được chứng thực của cơ quan có thẩm quyền nhưng theo lời trình bày của nguyên đơn tại đơn khởi kiện và của người đại diện hợp pháp cho nguyên đơn tại phiên tòa, thể hiện mỗi lần bị đơn lĩnh hụi, nguyên đơn giao tiền hốt hụi trực tiếp cho bị đơn, việc bị đơn tham gia chơi hụi và việc giao tiền hụi các hụi viên đều biết, được các hụi viên và cả bị đơn viết giấy xác nhận. Mặc dù, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ, song vẫn vắng mặt không rõ lý do và trong thời gian giải quyết vụ án, bị đơn không đến Toà, không gửi văn bản ý kiến để phản bác hoặc phản tố đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh việc tham gia giao dịch hụi, ngày ngưng góp hụi cũng như số tiền hụi bị đơn còn nợ nguyên đơn là tự từ bỏ quyền, lợi ích hợp pháp của mình bởi theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nghĩa vụ cung cấp chứng cứ chứng minh là của đương sự nên lời trình bày của người đại diện hợp pháp cho nguyên đơn được chấp nhận.
- Với phân tích tại các đoạn [1] và [2] nêu trên, Hội đồng xét xử thấy rằng tuy trong các dây hụi bị đơn tham gia có dây hụi đã mãn, dây hụi chưa mãn nhưng do bị đơn vắng mặt và không gửi ý kiến đến Tòa nên căn cứ vào chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp và lời trình bày tại phiên tòa, có cơ sở xác định từ tháng 4 năm 2022, bị đơn không đóng hụi chết cho nguyên đơn là thời gian bị đơn vi phạm nghĩa vụ góp hụi đối với nguyên đơn (chủ hụi). Tuy rằng các dây hụi nguyên đơn mở là hụi hưởng hoa hồng và có lãi, nhưng đối với những dây hụi đã mãn hiện không còn giấy tờ, tài liệu chứng minh số tiền bỏ hụi của từng lần mà thành viên bỏ thăm để được lĩnh hụi là bao nhiêu còn các dây hụi chưa mãn, nguyên đơn phải thực hiện nghĩa vụ góp hụi chết thay cho bị đơn để duy trì việc giao dịch hụi khi có thành viên lĩnh hụi. Do đó, chưa đủ căn cứ để điều chỉnh lãi suất nên cần buộc bị đơn có trách nhiệm trả cho nguyên đơn số tiền hụi còn nợ tính đến ngày hụi mãn là phù hợp.
- Về thời gian thanh toán, nguyên đơn có yêu cầu bị đơn trả một lần hết số tiền nợ nhưng Hội đồng xét xử xét thấy, việc thanh toán thuộc thẩm quyền giải quyết của Cơ quan thi hành án sau khi bản án có hiệu lực pháp luật nên không đề cập xem xét trong vụ án.
- Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch, bị đơn phải chịu. Nguyên đơn không phải chịu, số tiền tạm ứng án phí nguyên đơn đã nộp được trả lại.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 468, 471 của Bộ luật Dân sự.
Căn cứ vào các Điều 147, 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Căn cứ vào Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- - Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Đ.
- - Buộc ông Bùi Hữu N và bà Nguyễn Cẩm G trả cho bà Nguyễn Thị Đ số tiền là 322.000.000 đồng (ba trăm hai mươi hai triệu đồng).
- - Kể từ ngày bà Nguyễn Thị Đ có đơn yêu cầu thi hành án, ông Bùi Hữu N và bà Nguyễn Cẩm G không tự nguyện thi hành xong, thì phải trả thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.
- - Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
- Ông Bùi Hữu N và bà Nguyễn Cẩm G phải nộp số tiền là 16.100.000 đồng (mười sáu triệu một trăm nghìn đồng, chưa nộp).
- Bà Nguyễn Thị Đ không phải nộp. Ngày 25/4/2023, bà Đẹp đã nộp số tiền tạm ứng án phí là 8.050.000 đồng (tám triệu không trăm năm chục nghìn đồng) theo biên lai thu số 0003263 được trả lại toàn bộ cho bà Đ.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Lâm Hoài Ân |
4
Bản án số 195/2023/DS-ST ngày 25/08/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng về hụi
- Số bản án: 195/2023/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng về hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/08/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 27/11/2020, bà Đ mở 01 dây hụi, loại hụi 1.000.000 đồng, tháng khui 01 lần, dây hụi gồm 29 chân, vợ chồng bà G tham chơi 02 chân và đã hốt hụi ở kỳ thứ 2, thứ 4. Đến ngày 29/11/2020, bà Đ tiếp tục mở 01 dây hụi, loại hụi 1.000.000 đồng, tháng khui 01 lần, dây hụi gồm 29 chân, vợ chồng bà G tham chơi 02 chân và đã hốt hụi ở kỳ thứ 8, thứ 12. Tiếp đến ngày 04/12/2020, bà Đ mở tiếp 01 dây hụi, loại hụi 1.000.000 đồng, tháng khui 01 lần, dây hụi gồm 29 chân, vợ chồng bà2 G tham chơi 02 chân và đã hốt hụi ở kỳ thứ 5, thứ 14. Sau khi hốt hết 06 chân hụi của ba dây hụi nêu trên, vợ chồng bà G đã đóng hụi chết đến tháng 4 năm 2022 thì ngưng không đóng cho bà Đ nên trong mỗi dây hụi còn nợ 12 kỳ hụi chết với tổng số tiền là 72.000.000 đồng. Đến ngày 08/01/2021, bà Đ mở tiếp 01 dây hụi, loại hụi 1.000.000 đồng, tháng khui 01 lần, dây hụi gồm 33 chân, vợ chồng bà G tham chơi 02 chân và đã hốt hụi ở kỳ thứ 2, thứ 6. Trong dây hụi này, vợ chồng bà G cũng đống hụi chết đến tháng 4 năm 2022 thì ngưng không đóng cho bà Đ nên còn nợ 17 kỳ hụi chết với số tiền là 34.000.000 đồng. Tiếp tục vào năm 2022, bà Đ mở 03 dây hụi, cụ thể: Ngày 15/02/2022, mở dây hụi 1.000.000 đồng, tháng khui 01 lần, dây hụi gồm 29 chân, vợ chồng bà G tham chơi 04 chân; Ngày 18/02/2022, mở dây hụi 1.000.000 đồng, tháng khui 01 lần, dây hụi gồm 29 chân, vợ chồng bà G tham chơi 02 chân và ngày 20/02/2022, mở dây hụi 1.000.000 đồng, tháng khui 01 lần, dây hụi gồm 29 chân, vợ chồng bà G tham chơi 02 chân. Tổng cộng vợ chồng bà G tham gia chơi 08 chân hụi. Quá trình chơi hụi, vợ chồng bà G đã hốt 01 chân ở kỳ đầu tiên và kêu bà Đ mua lại 05 chân hụi nên bà Đ đồng ý mua và đã giao xong tiền 06 chân hụi cho vợ chồng bà G. Đến kỳ thứ hai (nhằm ngày 15/3/2022), vợ chồng bà G tiếp tục hốt 02 chân hụi còn lại và đóng được 01 kỳ hụi chết của 06 chân hụi đầu nhưng sau khi hốt hụi xong, từ tháng 4 năm 2022 thì vợ chồng bà G ngưng không đóng hụi chết cho bà Đ nữa và trong 08 chân hụi này, vợ chồng bà G nợ mỗi chân là 27 kỳ hụi chết, 08 chân nợ 216 kỳ hụi chết với số tiền 216.000.000 đồng. Nay bà Đ yêu cầu ông N cùng bà G có trách nhiệm trả một lần hết số tiền hụi còn nợ của tất cả các dây hụi trên với tổng số tiền là 322.000.000 đồng (ba trăm hai mươi hai triệu đồng).
