Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:195/2024/HS-ST

Ngày 24/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Mạnh Thắng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hoàng Văn Tuân.

2. Bà Thân Thị Tuyết Nhung.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hoàng Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Đĩnh - Kiểm sát viên

Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại điểm cầu Trung tâm Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B. Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử phiên tòa trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 174/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:176/2024/QĐXXST-HS ngày 4 tháng 9 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số:60/2024/QĐST-HS ngày 18 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo: Vũ Văn C, sinh năm 1973; Nơi thường trú và nơi ở: Số nhà A, đường N, tổ dân phố T, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 12/12; Con ông Vũ L, sinh năm 1932 (đã chết) và bà Trương Thị L1, sinh năm 1936 (đã chết); Gia đình có 9 anh chị em, bị cáo là thứ 9; Vợ là Nguyễn Thị T, sinh năm 1976 (đã ly hôn).

Tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 320 ngày 17/8/2010 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 19 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/3/2023.

Tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Năm 1997 bị Tòa án thị xã Bắc Giang (nay là thành phố B) xử phạt 02 tháng tù về tội “Đánh bạc”, đã chấp hành xong bản án và được xóa án tích.

- Năm 2002 bị Công an thị xã B, tỉnh Bắc Giang đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc thời hạn 24 tháng.

Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/5/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B, có mặt tại phiên toà.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Anh Võ Trần T1, sinh năm 1992 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số A, đường B, khóm D, phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

* Người chứng kiến:

- Anh Nguyễn Công B, sinh năm 2003 (Vắng mặt)

Địa chỉ: TỔ DÂN PHỐ T, PHƯỜNG L, THÀNH PHỐ B, TỈNH BẮC GIANG.

- Ông Vũ Văn S, sinh năm 1970 (Vắng mặt)

Địa chỉ: TỔ DÂN PHỐ C, PHƯỜNG L, THÀNH PHỐ B, TỈNH BẮC GIANG.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong một lần ngồi uống nước và nói chuyện với một thanh niên không quen biết tại quán nước ở khu vực G tỉnh Bắc Giang, Vũ Văn C, sinh năm 1973 trú tại số nhà A, đường N, tổ dân phố T, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang có nhu cầu mua ma túy để sử dụng nên người thanh niên này cho C số điện thoại 0399.054.xxx của người bán ma túy tên T2. Chính lưu số điện thoại của T2 trong danh bạ điện thoại là “Trung D”.

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 20/5/2024, C sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, lắp sim số 0867.367.898 gọi đến số điện thoại 0399.054.xxx của T2 hỏi mua 1.200.000 đồng tiền ma túy Heroine thì T2 đồng ý và hẹn chiều tối đến khu vực trạm bơm tại bờ đê thuộc tổ dân phố T, phường L, thành phố B để giao nhận ma túy. Khoảng 17 giờ cùng ngày, C đi đến điểm hẹn thì gặp một người đàn ông khoảng 30 tuổi, cao khoảng 1,7m, đội mũ bảo hiểm và đeo khẩu trang đang ngồi trên chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave, không gắn biển kiểm soát. Chính đưa cho người đàn ông này 1.200.000 đồng thì được người này đưa cho 01 túi ni lon màu xanh bên trong chứa chất ma túy Heroine. Chính cất túi ma túy vào trong người rồi đi về nhà, lên phòng ngủ ở tầng 2 dùng dao lam, kéo chia túi ma túy thành 18 phần nhỏ rồi gói vào trong các mảnh giấy bạc. Chính cho 18 gói ma túy đã chia vào túi ni lon màu xanh, một đầu có rãnh khóa nhựa rồi cất giấu trong túi quần để sử dụng dần.

Sáng ngày 22/5/2024, C bỏ túi ni lon đựng 18 gói ma túy ra rồi lấy 12 gói cho vào một túi ni lon màu xanh, một đầu có rãnh khóa nhựa; 01 gói cho vào chiếc ví da màu đen; dùng băng dính màu đen dán 03 gói vào đùi trái; còn 02 gói ma túy thì C vẫn để ở trong túi ni lon ban đầu để ở mặt bàn trong phòng ngủ tầng 2 của C. Sau đó, C cất túi ni lon đựng 12 gói ma túy vào túi quần bên trái và cất chiếc ví da đựng 01 túi ma túy vào túi quần phía sau bên phải rồi đi ra ngoài ăn sáng và tìm chỗ để sử dụng ma túy. Khoảng 07 giờ 30 phút cùng ngày, khi C đang đứng ở trước cửa nhà mình thì bị Công an thành phố B kiểm tra bắt quả tang và thu giữ vật chứng, tài sản gồm:

  • - 01 túi ni lon màu xanh một đầu có rãnh khóa nhựa, bên trong đựng 12 gói giấy bạc đều có một mặt màu vàng, một mặt màu trắng, bên trong đều đựng chất cục bột màu trắng nghi là ma túy, thu giữ trong túi quần bên trái Vũ Văn C đang mặc, được niêm phong trong phong bì có ký hiệu “QT1”.
  • - 01 gói giấy bạc bề mặt được dán bằng một mảnh băng dính màu đen; 02 gói giấy bạc bề mặt được dán chung bằng một mảnh băng dính màu đen; các gói giấy bạc đều có một mặt màu vàng, một mặt màu trắng, bên trong đều đựng chất cục bột màu trắng nghi là ma túy, thu giữ tại đùi trái Vũ Văn C, được niêm phong trong phong bì có ký hiệu “QT2”.
  • - 01 gói giấy bạc có một mặt màu vàng, một mặt màu trắng, bên trong đựng chất cục bột màu trắng nghi là ma túy, thu giữ trong ví da màu đen trong túi quần phía sau bên phải Vũ Văn C đang mặc, được niêm phong trong phong bì có ký hiệu “QT3”.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu xanh, số seri 1: 357723108077518, số seri 2: 357723108077526, lắp sim số 0867.367.898.
  • - 01 ví da màu đen, bên trong có 1.600.000 đồng và 01 căn cước công dân mang tên Vũ Văn C.

Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp nơi ở của Vũ Văn C, kết quả thu giữ những vật chứng gồm:

  • - 01 túi ni lon màu xanh, một đầu có rãnh khóa nhựa, bên trong đựng 02 gói bạc đều đựng chất cục bột màu trắng nghi là ma túy, thu giữ tại mặt bàn trong phòng ngủ tầng 2 của C, được niêm phong trong phong bì có ký hiệu “KX1”.
  • - 01 hộp giấy màu đen, bên trong đựng nhiều mảnh giấy bạc đều có một mặt màu vàng, một mặt màu trắng; 01 dao lam; 01 chiếc kéo bằng kim loại, chuôi màu đen; 01 cuộn băng dính màu đen, tất cả được thu giữ tại mặt bàn trong phòng ngủ tầng 2 của C.

Xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể của Vũ Văn C có kết quả dương tính với ma túy MOR. Chính khai có sử dụng ma túy ngày 21/5/2024.

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định chất nghi ma tuý thu giữ của Vũ Văn C. Kết luận giám định số 1145/KL-KTHS ngày 27/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

Trong 01 phong bì có ký hiệu "QT1" đã được dán kín, niêm phong gửi giám định:

- Chất cục bột màu trắng đựng trong 12 gói giấy bạc có một mặt màu vàng, một mặt màu trắng, đựng trong 01 túi ni lon màu xanh một đầu có rãnh khóa bằng nhựa là ma túy, có tổng khối lượng 1,078 gam, loại Heroine (H).

Trong 01 phong bì có ký hiệu "QT2" đã được dán kín, niêm phong gửi giám định:

- Chất cục bột màu trắng đựng trong 01 gói giấy bạc, bên ngoài dán băng dính màu đen là ma tuý, có khối lượng 0,063 gam, loại Heroine (H).

- Chất cục bột màu trắng đựng trong 02 gói giấy bạc, bên ngoài dán băng dính màu đen là ma tuý, có tổng khối lượng 0,245 gam, loại Heroine (H).

Trong 01 phong bì có ký hiệu "QT3" đã được dán kín, niêm phong gửi giám định:

- Chất cục bột màu trắng đựng trong 01 gói giấy bạc một mặt màu trắng, một mặt màu vàng là ma tuý, có khối lượng 0,057 gam, loại Heroine (H).

Trong 01 phong bì có ký hiệu "KX1" đã được dán kín, niêm phong gửi giám định:

- Chất cục bột màu trắng đựng trong 02 gói giấy, được đựng trong 01 túi nilon màu xanh một đầu có rãnh khóa bằng nhựa là ma tuý, có tổng khối lượng 0,325 gam, loại Heroine (H).

Cơ quan điều tra đã kiểm tra điện thoại Nokia, lắp sim số 0867.367.898 của Vũ Văn C. Kết quả có cuộc gọi đi đến số 0399.054.904 lưu danh bạ là “Trung D”. Thời gian gọi phù hợp với lời khai của C về việc C gọi đến số 00399.054.904 để hỏi mua ma túy ngày 20/5/2024.

Đối với người bán ma túy mà C lưu danh bạ điện thoại tên là Trung D (số điện thoại 0399.054.xxx). Căn cứ lời khai của C và kết quả thu giữ điện tín, Cơ quan điều tra đã làm việc với Vũ Văn T3, sinh năm 1992, trú tại: Khóm D, phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mau. Tính khai không đăng ký, sử dụng số điện thoại 0399.054.xxx và không cung cấp thông tin cá nhân cho người khác để đăng ký sử dụng số điện thoại trên. Do vậy Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh người bán ma tuý cho C.

Đối với người thanh niên cho C số điện thoại 0399.054.xxx của người bán ma túy. C khai không quen biết, không biết tên và địa chỉ nên không làm rõ được, do vậy Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.

Tại bản Cáo trạng số 178/CT-VKS ngày 23 tháng 8 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Vũ Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình là sai, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người được triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa, bị cáo nhất trí và không có ý kiến gì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  1. Về tội danh và hình phạt: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Vũ Văn C từ 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 22/5/2024. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
  2. Về vật chứng: Căn cứ vào điểm a, c Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • - Tịch thu tiêu hủy: 04 phong bì thư đựng mẫu vật là chất ma túy hoàn lại sau giám định; 01 hộp giấy màu đen, bên trong đựng nhiều mảnh giấy bạc đều có một mặt màu vàng, một mặt màu trắng; 01 dao lam; 01 kéo bằng kim loại, chuôi màu đen; 01 cuộn băng dính màu đen;
    • - Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại Nokia 105 màu xanh, số seri 1: 357723108077518, số seri 2: 357723108077526, lắp sim số 0867.367.898, đã qua sử dụng.
    • - Trả cho Vũ Văn C số tiền 1.600.000đồng, 01 ví da, 01 căn cước công dân tên Vũ Văn C, nhưng tạm giữ số tiền 1.600.000đồng để đảm bảo thi hành án.
  3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai khiếu nại gì. Hội đồng xét xử đánh giá các hành vi, quyết định của cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án là hợp pháp.
  2. Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tuy nhiên, trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của những người này nên căn cứ vào Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt họ.
  3. Về hành vi của bị cáo theo cáo trạng truy tố:

    Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến, biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, Kết luận giám định, đủ cơ sở xác định:

    Ngày 20/5/2024, Vũ Văn C mua của người không quen biết 01 túi ma túy Heroine với giá 1.200.000 đồng rồi mang về nhà chia nhỏ thành nhiều gói mục đích để sử dụng. Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 22/5/2024, C cất giấu 02 gói ma túy tại phòng ngủ tầng 2 của mình và cất giấu 16 gói ma túy ở trên người mục đích để sử dụng thì bị Công an thành phố B bắt quả tang và khám xét thu giữ vật chứng. Kết quả giám định là chất ma túy Heroine có tổng khối lượng 1,768 gam.

    Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 của Bộ luật Hình sự. Bản Cáo trạng số 178/CT-VKS ngày 23 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo theo tội danh, điều luật trên là có căn cứ.

  4. Về tính chất hành vi: Hành vi của bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm những quy định về quản lý và sử dụng các chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm trật tự xã hội, làm mất an ninh trật tự tại địa phương, bị xã hội lên án. Hành vi của các bị cáo là nguyên nhân kéo theo nhiều tội phạm nguy hiểm khác, là căn nguyên của căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS...là nguyên nhân lớn ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình, an toàn trật tự công cộng của xã hội. Bị cáo biết rõ tác hại của ma túy nhưng chỉ vì mục đích, nhu cầu, lợi ích cá nhân, các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Các bị cáo đều có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, do vậy, cần xử nghiêm bằng pháp luật hình sự nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với những tội này.
  5. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
    • - Nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, năm 1997 đã bị Tòa án thị xã Bắc Giang (nay là thành phố B) xử phạt 02 tháng tù về tội “Đánh bạc”; Năm 2002, bị Công an thị xã B, tỉnh Bắc Giang đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc thời hạn 24 tháng; bị cáo bị xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 320 ngày 17/8/2010 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
    • - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo bị xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 320 ngày 17/8/2010 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 19 năm tù, chưa được xóa án tích, nay lại phạm tội mới nên phải chịu tình tiết tang nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
    • - Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, bố và mẹ của bị cáo là người có công trong kháng chiến được Nhà nước khen thưởng, nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
  6. Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
  7. Về vật chứng của vụ án:
    • - 04 phong bì thư đựng mẫu vật có ký hiệu lần lượt là "QT1", "QT2", "QT3", "KX1" là chất ma túy hoàn lại sau giám định cần tịch thu tiêu hủy.
    • - 01 hộp giấy màu đen, bên trong đựng nhiều mảnh giấy bạc đều có một mặt màu vàng, một mặt màu trắng; 01 dao lam; 01 chiếc kéo bằng kim loại, chuôi màu đen; 01 cuộn băng dính màu đen là vật không còn giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu hủy.
    • - 01 điện thoại Nokia 105 màu xanh, số seri 1: 357723108077518, số seri 2: 357723108077526, lắp sim số 0867.367.898, đã qua sử dụng, bị cáo dùng liên lạc mua ma túy, cần tịch thu sung ngân sách nhà nước;
    • - Số tiền 1.600.000đồng, 01 ví da, 01 căn cước công dân tên Vũ Văn C, không sử dụng thực hiện hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo, nhưng được tạm giữ số tiền 1.600.000đồng để đảm bảo thi hành án.
  8. Những vấn đề khác có liên quan trong vụ án:

    Đối với người bán ma túy mà C lưu danh bạ điện thoại tên là Trung D (số điện thoại 0399.054.xxx). Căn cứ lời khai của C và kết quả thu giữ điện tín, Cơ quan điều tra đã làm việc với Vũ Văn T3, sinh năm 1992, trú tại: Khóm D, phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mau. Tính khai không đăng ký, sử dụng số điện thoại 0399.054.xxx và không cung cấp thông tin cá nhân cho người khác để đăng ký sử dụng số điện thoại trên. Do vậy Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh người bán ma tuý cho C, Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.

    Đối với người thanh niên cho C số điện thoại 0399.054.xxx của người bán ma túy. C khai không quen biết, không biết tên và địa chỉ nên không làm rõ được, do vậy Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý, Hội đồng xét xử không xem xét.

  9. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  10. Ngoài ra cần áp dụng quy định tại Điều 329, Điều 331, Điều 333, khoản 1 Điều 337 của Bộ luật tố tụng hình sự để tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án và tuyên quyền kháng cáo, kháng nghị.
  11. Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa: các vấn đề về tội danh, điều khoản, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt, xử lý vật chứng đối với bị cáo và các vấn đề khác trong vụ án là phù hợp, có căn cứ nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 và điểm a khoản 3Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Về tội danh và hình phạt: Xử phạt bị cáo Vũ Văn C 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 22/5/2024.
  2. Về xử lý vật chứng:
    • - Tịch thu tiêu hủy: 04 phong bì thư đựng mẫu vật có ký hiệu lần lượt là "QT1", "QT2", "QT3", "KX1"; 01 hộp giấy màu đen, bên trong đựng nhiều mảnh giấy bạc đều có một mặt màu vàng, một mặt màu trắng; 01 dao lam; 01 kéo bằng kim loại, chuôi màu đen; 01 cuộn băng dính màu đen.
    • - Tịch thu sung Ngân sách nhà nước: 01 điện thoại Nokia 105 màu xanh, số seri 1: 357723108077518, số seri 2: 357723108077526, lắp sim số 0867.367.898, đã qua sử dụng.
    • - Trả lại cho Vũ Văn C số tiền 1.600.000đồng, 01 ví da, 01 căn cước công dân tên Vũ Văn C, nhưng tạm giữ số tiền 1.600.000đồng để đảm bảo thi hành án.
  3. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
  5. Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang
  • - VKSND thành phố Bắc Giang;
  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS TP Bắc Giang;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Giang;
  • - Cơ quan THAHS Công an thành phố Bắc Giang;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án;
  • - Bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - UBND phường Lê Lợi, Tp.Bắc Giang;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án; Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Mạnh Thắng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 195/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 195/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chính "Tàng trữ trái phép ma túy"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger