|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 195/2024/HSST. Ngày: 23-07-2024. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Ngọc Nam.
- Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Đình Quang.
- Ông Tạ Văn Đài.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Kiều Diễm- Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 194/2024/HSST ngày 25 tháng 06 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 191/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 07 năm 2024 đối với bị cáo:
Phạm Văn V, sinh năm 1979 tại Hải Phòng; nơi đăng ký thường trú: thôn N, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng; nơi ở: ấp Q, xã Q, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn P và bà Phạm Thị T; bị cáo có vợ và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 17/05/2007 bị Công an huyện A, thành phố Hải Phòng khởi tố bị cáo về hành vi “Cướp giật tài sản” đến ngày 14/06/2007 được đình chỉ điều tra theo Quyết định số 04/KSĐT-HS của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng; bị cáo bị giam giữ từ ngày 24/12/2023 đến ngày 02/01/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn. (Có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Hoàng Văn V1, sinh năm 1989, nơi cư trú: khu phố D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đoàn Duy P1, sinh năm 1985, nơi cư trú: ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Hữu H, sinh năm 1983, nơi cư trú: ấp A, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Thùy T1, sinh năm 1991, nơi cư trú: khu phố A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lương Trọng K, sinh năm 1991, nơi cư trú: ấp D, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1983, nơi cư trú: khu phố A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Văn V là đối tượng không có nghề nghiệp nên V nảy sinh ý định cho vay tiền với lãi suất cao để thu lợi. V sử dụng 02 số tài khoản của V mở tại Ngân hàng V3 số 0871004251459 và số 2506197988888 mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (MB) để giao nhận tiền với những người vay. Cụ thể V đã cho những người vay tiền cụ thể như sau:
Người thứ nhất: Từ ngày 09/12/2023 đến ngày 21/12/2023, V cho ông Hoàng Văn V1, sinh năm 1989, HKTT: khu phố D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai vay tiền nhiều lần cụ thể:
- Ngày 09/12/2023, V cho ông V1 vay số tiền 30.000.000 đồng với lãi suất 182%/năm, hình thức trả tiền lãi mỗi ngày 150.000 đồng, đến ngày 18/12/2023 thì ông V1 trả cho V số tiền 20.000.000 đồng tiền gốc, còn lại 10.000.000 đồng ông V1 tiếp tục trả lãi cho V mỗi ngày 50.000 đồng. Tính đến ngày 21/12/2023 số tiền lãi ông V1 phải trả cho V theo thỏa thuận là 1.650.000 đồng, trong đó tiền lãi vượt quá mức lãi suất vay cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 1.469.178 đồng. Khoản vay này ông V1 chưa trả tiền lãi cho V.
- Ngày 11/12/2023, V cho ông V1 vay số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất 304%/năm, hình thức trả góp cả tiền gốc và tiền lãi mỗi ngày 500.000 đồng (trong đó tiền gốc 416.666 đồng, tiền lãi là 83.333 đồng), tính đến ngày 21/12/2023 số tiền lãi ông V1 phải trả cho V là 916.667 đồng, trong đó tiền lãi vượt quá mức lãi suất vay cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 856.393 đồng. Đối với khoản vay này ông V1 đã trả cho V số tiền là 3.000.000 đồng (trong đó tiền gốc 2.500.000 đồng, tiền lãi là 500.000 đồng).
Người thứ 2: Từ ngày 03/8/2023 đến ngày 21/12/2023, V cho ông Đoàn Duy P1, sinh năm 1983, HKTT: ấp T, xã Đ, huyện T, Đồng Nai vay tiền cụ thể như sau:
- Vào ngày 03/08/2023, V cho ông P1 vay số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất 243%/năm, thời hạn vay trong vòng 30 ngày ông P1 phải trả V số tiền lãi là 2.000.000 đồng, trong đó tiền lãi vượt quá mức lãi suất vay cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 1.835.616 đồng. Đến ngày 30 của khoản vay, ông P1 đã trả cho V số tiền 11.000.000 đồng gồm cả lãi và gốc (do V bớt cho ông P1 1.000.000 đồng tiền lãi).
- Ngày 02/11/2023, V cho ông P1 vay số tiền 30.000.000 đồng với lãi suất 81%/năm, thời hạn vay trong vòng 30 ngày ông P1 phải trả V số tiền lãi 2.000.000 đồng, trong đó tiền lãi vượt quá mức lãi suất vay cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 1.506.849 đồng. Khoản vay này ông P1 còn nợ V số tiền gốc và lãi là 22.000.000 đồng.
- Ngày 19/12/2023, V cho ông P1 vay số tiền 30.000.000 đồng với lãi suất 166%/năm, hình thức trả góp hàng ngày cả gốc và lãi số tiền 1.500.000 đồng/ngày, góp trong vòng 22 ngày.V đưa cho ông P1 số tiền 6.500.000 đồng (trong đó trả lãi và gốc của khoản vay ngày 02/11/2023 số tiền 22.000.000 đồng và trừ số tiền 1.500.000 đồng của ngày vay đầu tiên). Tính đến ngày 21/12/2023 số tiền lãi ông P1 phải trả V là 409.091 đồng, trong đó tiền lãi vượt quá mức lãi suất vay cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 359.776 đồng khoản vay này ông P1 đã trả cho V được số tiền 3.000.000 đồng (gốc 2.727.000 đồng, lãi 273.000 đồng).
Người thứ 3: Ngày 10/11/2023, V cho ông Lê Hữu H, sinh năm 1983, HKTT: ấp A, xã S, huyện T, Đồng Nai vay số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất 243%/năm, hình thức trả góp cả gốc và lãi trong vòng 30 ngày mỗi ngày 400.000 đồng. Số tiền lãi của khoản vay này là 2.000.000 đồng, trong đó tiền lãi vượt quá mức lãi suất vay cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 1.835.616 đồng.
Khoản vay này ông H đã trả cho V được 10 ngày với số tiền 4.000.000 đồng (gốc 3.333.333 đồng, lãi 666.667 đồng).
Việc vay tiền giữa V và ông H chỉ thỏa thuận miệng và giao nhận tiền trực tiếp bằng tiền mặt.
Người thứ 4: Từ ngày 21/9/2023 đến ngày 21/12/2023, V cho bà Nguyễn Thị Thùy T1, sinh năm 1991, HKTT: khu phố A, thị trấn T, huyện T, Đồng Nai vay tiền cụ thể như sau:
- Ngày 21/9/2023, V cho bà T1 vay số tiền 20.000.000 đồng với lãi suất 243%/năm, hình thức trả góp tiền gốc và lãi mỗi ngày 800.000 đồng, trả liên tục trong vòng 30 ngày, số tiền lãi bà T1 phải trả V là 4.000.000 đồng, trong đó tiền lãi vượt quá mức lãi suất vay cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 3.671.233 đồng. Khoản vay này bà T1 đã trả xong.
- Ngày 07/12/2023, V cho bà T1 vay số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất 243%/năm, hình thức trả góp tiền gốc và lãi mỗi ngày 400.000 đồng, trả liên tục trong vòng 30 ngày. Tính đến ngày 21/12/2023 số tiền lãi bà T1 phải trả V là 1.000.000 đồng, trong đó tiền lãi vượt quá mức lãi suất vay cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 917.808 đồng. Khoản vay này bà T1 đã trả cho V được 15 ngày với số tiền 6.000.000 đồng (gốc 5.000.000 đồng, lãi 1.000.000 đồng).
Người thứ 5: Từ tháng 02/2023 đến ngày 21/12/2023, V cho ông Lương Trọng K, sinh năm 1991, HKTT: ấp D, xã S, huyện T, Đồng Nai vay tiền cụ thể như sau:
- Tháng 02/2022 (không nhớ rõ ngày), V cho ông K vay số tiền 3.000.000 đồng với lãi suất 304%/năm, hình thức trả góp cả gốc và lãi liên tục trong vòng 24 ngày, mỗi ngày 150.000 đồng. Số tiền lãi ông K phải trả V là 600.000 đồng, trong đó tiền lãi vượt quá mức lãi suất vay cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 560.548 đồng. Khoản vay này ông K đã trả xong.
- Tháng 03/2022 (không nhớ rõ ngày), V cho ông K vay số tiền 3.000.000 đồng với lãi suất 304%/năm, hình thức trả góp cả gốc và lãi liên tục trong vòng 24 ngày, mỗi ngày 150.000 đồng. Số tiền lãi ông K phải trả V là 600.000 đồng, trong đó tiền lãi vượt quá mức lãi suất vay cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 560.548 đồng. Khoản vay này ông K đã trả xong.
- Tháng 04/2022 (không nhớ rõ ngày), V cho ông K vay số tiền 3.000.000 đồng với lãi suất 304%/năm, hình thức trả góp cả gốc và lãi liên tục trong vòng 24 ngày, mỗi ngày 150.000 đồng. Số tiền lãi ông K phải trả V là 600.000 đồng, trong đó tiền lãi vượt quá mức lãi suất vay cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 560.548 đồng. Khoản vay này ông K đã trả xong.
- Ngày 05/5/2023, V cho ông K vay số tiền 5.000.000 đồng với lãi suất 304%/năm, hình thức trả góp cả gốc với lãi liên tục trong vòng 24 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng. Số tiền lãi ông K phải trả V là 1.000.000 đồng, trong đó tiền lãi vượt quá mức lãi suất vay cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 934.247 đồng. Khoản vay này ông K đã trả xong.
- Ngày 14/5/2023, V cho ông K vay số tiền 5.000.000 đồng với lãi suất 304%/năm, hình thức trả góp cả gốc với lãi liên tục trong vòng 24 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng. Số tiền lãi ông K phải trả V là 1.000.000 đồng, trong đó tiền lãi vượt quá mức lãi suất vay cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 934.247 đồng. Khoản vay này ông K đã trả xong.
- Ngày 26/5/2023, V cho ông K vay số tiền 5.000.000 đồng với lãi suất 304%/năm, hình thức trả góp cả gốc với lãi liên tục trong vòng 24 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng. Số tiền lãi ông K phải trả V là 1.000.000 đồng, trong đó tiền lãi vượt quá mức lãi suất vay cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 934.247 đồng. Khoản vay này ông K đã trả xong.
- Ngày 15/6/2023, V cho ông K vay số tiền 5.000.000 đồng với lãi suất 304%/năm, hình thức trả góp cả gốc với lãi liên tục trong vòng 24 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng. Số tiền lãi ông K phải trả V là 1.000.000 đồng, trong đó tiền lãi vượt quá mức lãi suất vay cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 934.247 đồng. Khoản vay này ông K đã trả xong.
- Ngày 06/7/2023, V cho ông K vay số tiền 5.000.000 đồng với lãi suất 304%/năm, hình thức trả góp cả gốc với lãi liên tục trong vòng 24 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng. Số tiền lãi ông K phải trả V là 1.000.000 đồng, trong đó tiền lãi vượt quá mức lãi suất vay cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 934.247 đồng. Khoản vay này ông K đã trả xong.
- Ngày 16/8/2023, V cho ông K vay số tiền 5.000.000 đồng với lãi suất 304%/năm, hình thức trả góp cả gốc với lãi liên tục trong vòng 24 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng. Số tiền lãi ông K phải trả V là 1.000.000 đồng, trong đó tiền lãi vượt quá mức lãi suất vay cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 934.247 đồng. Khoản vay này ông K đã trả xong.
- Ngày 06/9/2023, V cho ông K vay số tiền 5.000.000 đồng với lãi suất 304%/năm, hình thức trả góp cả gốc với lãi liên tục trong vòng 24 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng. Số tiền lãi ông K phải trả V là 1.000.000 đồng, trong đó tiền lãi vượt quá mức lãi suất vay cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 934.247 đồng. Khoản vay này ông K đã trả xong.
- Ngày 25/9/2023, V cho ông K vay số tiền 5.000.000 đồng với lãi suất 304%/năm, hình thức trả góp cả gốc với lãi liên tục trong vòng 24 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng. Số tiền lãi ông K phải trả V là 1.000.000 đồng, trong đó tiền lãi vượt quá mức lãi suất vay cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 934.247 đồng. Khoản vay này ông K đã trả xong.
- Ngày 15/11/2023, V cho ông K vay số tiền 5.000.000 đồng với lãi suất 304%/năm, hình thức trả góp cả gốc với lãi liên tục trong vòng 24 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng. Số tiền lãi ông K phải trả V là 1.000.000 đồng, trong đó tiền lãi vượt quá mức lãi suất vay cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 934.247 đồng. Khoản vay này ông K đã trả xong.
- Ngày 14/12/2023, V cho ông K vay số tiền 5.000.000 đồng với lãi suất 304%/năm, hình thức trả góp cả gốc với lãi liên tục trong vòng 24 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng. Số tiền lãi ông K phải trả V là 1.000.000 đồng, trong đó tiền lãi vượt quá mức lãi suất vay cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 934.247 đồng. Khoản vay này ông K đã trả xong.
- Ngày 19/12/2023, V cho ông K vay số tiền 5.000.000 đồng với lãi suất 304%/năm, hình thức trả góp cả gốc với lãi liên tục trong vòng 24 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng. Tính đến ngày 21/12/2023 số tiền lãi ông K phải trả V là 125.000 đồng, trong đó tiền lãi vượt quá mức lãi suất vay cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 116.781 đồng. Khoản vay này ông K đã trả cho V được số tiền 750.000 đồng (gốc 625.000 đồng, lãi 125.000 đồng).
Người thứ 6: Từ tháng 01/2023 đến ngày 21/12/2023, V cho bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1983, địa chỉ cư trú: khu phố A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai vay tiền cụ thể như sau:
- Tháng 01/2023 (không nhớ rõ ngày), V cho bà D vay số tiền 5.000.000 đồng với lãi suất 365%/năm, hình thức trả góp cả gốc với lãi trong vòng 25 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng. Số tiền lãi bà D phải trả V là 1.250.000 đồng, trong đó tiền lãi vượt quá mức lãi suất vay cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 1.181.507đồng. Khoản vay này bà D đã trả xong.
- Tháng 02/2023 (không nhớ rõ ngày), V cho bà D vay số tiền 5.000.000 đồng với lãi suất 365%/năm, hình thức trả góp cả gốc với lãi trong vòng 25 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng. Số tiền lãi bà D phải trả V là 1.250.000 đồng, trong đó tiền lãi vượt quá mức lãi suất vay cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 1.181.507đồng. Khoản vay này bà D đã trả xong.
- Tháng 3/2023 (không nhớ rõ ngày), V cho bà D vay số tiền 5.000.000 đồng với lãi suất 365%/năm, hình thức trả góp cả gốc với lãi trong vòng 25 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng. Số tiền lãi bà D phải trả V là 1.250.000 đồng, trong đó tiền lãi vượt quá mức lãi suất vay cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 1.181.507đồng. Khoản vay này bà D đã trả xong.
- Tháng 4/2023 (không nhớ rõ ngày), V cho bà D vay số tiền 5.000.000 đồng với lãi suất 365%/năm, hình thức trả góp cả gốc với lãi trong vòng 25 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng. Số tiền lãi bà D phải trả V là 1.250.000 đồng, trong đó tiền lãi vượt quá mức lãi suất vay cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 1.181.507đồng. Khoản vay này bà D đã trả xong.
- Tháng 5/2023 (không nhớ rõ ngày), V cho bà D vay số tiền 5.000.000 đồng với lãi suất 365%/năm, hình thức trả góp cả gốc với lãi trong vòng 25 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng. Số tiền lãi bà D phải trả V là 1.250.000 đồng, trong đó tiền lãi vượt quá mức lãi suất vay cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 1.181.507đồng. Khoản vay này bà D đã trả xong.
- Tháng 6/2023 (không nhớ rõ ngày), V cho bà D vay số tiền 5.000.000 đồng với lãi suất 365%/năm, hình thức trả góp cả gốc với lãi trong vòng 25 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng. Số tiền lãi bà D phải trả V là 1.250.000 đồng, trong đó tiền lãi vượt quá mức lãi suất vay cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 1.181.507đồng. Khoản vay này bà D đã trả xong.
- Tháng 7/2023 (không nhớ rõ ngày), V cho bà D vay số tiền 5.000.000 đồng với lãi suất 365%/năm, hình thức trả góp cả gốc với lãi trong vòng 25 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng. Số tiền lãi bà D phải trả V là 1.250.000 đồng, trong đó tiền lãi vượt quá mức lãi suất vay cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 1.181.507đồng. Khoản vay này bà D đã trả xong.
- Tháng 8/2023 (không nhớ rõ ngày), V cho bà D vay số tiền 5.000.000 đồng với lãi suất 365%/năm, hình thức trả góp cả gốc với lãi trong vòng 25 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng. Số tiền lãi bà D phải trả V là 1.250.000 đồng, trong đó tiền lãi vượt quá mức lãi suất vay cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 1.181.507 đồng. Khoản vay này bà D đã trả xong.
- Tháng 9/2023 (không nhớ rõ ngày), V cho bà D vay số tiền 5.000.000 đồng với lãi suất 365%/năm, hình thức trả góp cả gốc với lãi trong vòng 25 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng. Số tiền lãi bà D phải trả V là 1.250.000 đồng, trong đó tiền lãi vượt quá mức lãi suất vay cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 1.181.507đồng. Khoản vay này bà D đã trả xong.
- Tháng 10/2023 (không nhớ rõ ngày), V cho bà D vay số tiền 5.000.000 đồng với lãi suất 365%/năm, hình thức trả góp cả gốc với lãi trong vòng 25 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng. Số tiền lãi bà D phải trả V là 1.250.000 đồng, trong đó tiền lãi vượt quá mức lãi suất vay cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 1.181.507đồng. Khoản vay này bà D đã trả xong.
- Cũng trong tháng 10/2023 (không nhớ rõ ngày), V cho bà D vay số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất 365%/năm, hình thức trả góp cả gốc với lãi trong vòng 25 ngày, mỗi ngày 500.000 đồng. Số tiền lãi bà D phải trả V là 2.500.000 đồng, trong đó tiền lãi vượt quá mức lãi suất vay cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 2.363.014đồng. Khoản vay này bà D đã trả xong.
- Tháng 11/2023 (không nhớ rõ ngày), V cho bà D vay số tiền 5.000.000 đồng với lãi suất 365%/năm, hình thức trả góp cả gốc với lãi trong vòng 25 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng. Số tiền lãi bà D phải trả V là 1.250.000 đồng, trong đó tiền lãi vượt quá mức lãi suất vay cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 1.181.507đồng. Khoản vay này bà D đã trả xong.
- Cũng trong tháng 11/2023 (không nhớ rõ ngày), V cho bà D vay số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất 365%/năm, hình thức trả góp cả gốc với lãi trong vòng 25 ngày, mỗi ngày 500.000 đồng. Số tiền lãi bà D phải trả V là 2.500.000 đồng, trong đó tiền lãi vượt quá mức lãi suất vay cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 2.363.014 đồng. Khoản vay này bà D đã trả xong.
- Ngày 19/12/2023, V cho bà D vay số tiền 5.000.000 đồng với lãi suất 365%/năm, hình thức trả góp cả gốc với lãi trong vòng 25 ngày, mỗi ngày 250.000 đồng. Tính đến ngày 21/12/2023 số tiền lãi bà D phải trả V là 150.000 đồng, trong đó tiền lãi vượt quá mức lãi suất vay cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 141.781 đồng. Khoản vay này bà D đã trả cho V số tiền 750.000 đồng (gốc 600.000 đồng, lãi 150.000 đồng).
Việc vay tiền giữa V và bà D chỉ thỏa thuận miệng và giao nhận bằng tiền mặt trực tiếp với nhau.
Đến khoảng 18 giờ 30 phút ngày 21/12/2023 khi V đang đi đòi nợ thì bị Công an huyện T kiểm tra phát hiện hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Như vậy, tổng số tiền Phạm Văn V thu lợi bất chính từ việc cho vay lãi nặng là 39.950.894 đồng, trong đó số tiền lãi V thực thu là 36.132.619 đồng.
Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 và 01 xe mô tô biển số 34L1-03173.
Tại Cáo trạng số: 201/CT-VKS-TB ngày 19 tháng 06 năm 2024, Viện kiểm sát nhân Dân huyện T đã truy tố bị cáo Phạm Văn V về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch Dân sự” theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân Dân huyện Trảng Bom giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn V phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch Dân sự” và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 201, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Văn V từ 80.000.000 đồng đến 120.000.000 đồng; Xử lý vật chứng: Đối với 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 12 của V sử dụng vào việc phạm tội thì đề nghị Tòa tuyên tịch thu sung công, đối với chiếc xe mô tô biển số 34L1- 03173 là tài sản của bà Lê Thị H1, bà H1 mua lại xe của bà Đồng Thị N từ năm 2023 và sử dụng cho đến ngày 21/12/2023 thì V (là bạn của bà H1) mượn xe đi uống cà phê, việc V sử dụng xe vào việc phạm tội bà H1 không biết nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại xe cho bà H1; biện pháp tư pháp: Trong tổng số tiền V thu lợi bất chính 39.950.894 đồng, số tiền lãi V thực thu của những người vay ông V1, ông P1, ông H, ông K, bà D, bà T1 là 36.132.619 đồng nhưng ông V1, ông P1, ông H, ông K, bà D, bà T1 đều không yêu cầu V trả lại số tiền này. Đối với số tiền lãi còn lại (39.950.894 đồng – 36.132.619 đồng) = 3.818.275 đồng đây là khoản tiền lãi theo mức lãi suất tối đa quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự mà V đã thu của những người vay, là số tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội, đề nghị Tòa tuyên buộc V nộp để sung quỹ nhà nước. Đối với số tiền gốc 274.000.000 đồng V sử dụng để cho vay, trong đó có 55.214.667 đồng những người liên quan chưa trả cho V; số còn lại là (274.000.000 đồng - 55.214.667 đồng) = 218.785.333 đồng đề nghị Tòa tuyên buộc bị cáo V phải nộp lại để sung công quỹ nhà nước. Như vậy tổng số tiền V phải nộp để sung công là 218.785.333 đồng + 3.818.275 đồng = 222.603.608 đồng. Đối với số tiền những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vay của V nhưng chưa trả cho V gồm: Hoàng Văn V1 7.500.000 đồng (khoản vay ngày 11/12/2023); Đoàn Duy P1 27.273.000 đồng (khoản vay ngày 19/12/2023); Lê Hữu H 6.666.667 đồng (khoản vay ngày 10/11/2023); Nguyễn Thị Thùy T1 5.000.000 đồng (khoản vay ngày 07/12/2023); Lương Trọng K 4.375.000 đồng (khoản vay ngày 19/12/2023); Nguyễn Thị D 4.400.000 đồng (khoản vay ngày 19/12/2023) thì đây là số tiền bị cáo dùng vào việc phạm tội do vậy đề nghị Tòa tuyên buộc những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nộp để sung quỹ nhà nước; buộc các bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu trong cáo trạng, nội dung phân tích, luận tội của Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa và không có ý kiến bào chữa gì thêm. Đồng thời, trong lời nói sau cùng, bị cáo cũng đã đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để tạo điều kiện cho bị cáo sớm hòa nhập cộng đồng và làm người có ích cho xã hội.
Ngoài ra ngày 21/12/2023 Công an huyện T còn kiểm tra và làm việc với Lê Văn L, sinh năm 1997, HKTT: khu phố H, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An (nơi ở: khu phố C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai). Kết quả ban đầu xác định L được Phạm Văn D1, sinh năm 1993, HKTT: ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Long An thuê đi thu tiền góp cho D1, D1 trả lương cho L mỗi tháng 5.000.000 đồng. Hành vi của L không liên quan đến hành vi phạm tội của V, đồng thời hiện nay chưa làm việc được với D1, do vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tách ra xác minh làm rõ xử lý sau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; do bị cáo và người tham gia tố tụng khác cung cấp là đúng quy định của pháp luật. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử không ai có ý kiến thắc mắc, khiếu nại gì về tính hợp pháp của các chứng cứ nên những chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án là hợp pháp.
- Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận: Trong khoảng thời gian từ tháng 02/2022 đến ngày 21/12/2023 ở tại huyện T, tỉnh Đồng Nai, Phạm Văn V đã cho nhiều đối tượng vay tiền với lãi suất 166%/năm đến 304%/năm thu lợi bất chính số tiền 39.950.894 đồng. Sự thừa nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng cùng các chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được cho vay với lãi suất cao hơn quy định của pháp luật là vi phạm pháp luật nhưng do muốn kiếm tiền bằng con đường bất chính nên bị cáo cố ý hành động phạm tội, bất chấp sự trừng trị của pháp luật. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: bị cáo Phạm Văn V phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch Dân sự” theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ thì thấy: Bị cáo có nhân thân xấu. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần mức hình phạt cho bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
- Xử lý vật chứng:
- Tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước đối với 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 12 của V sử dụng vào việc phạm tội.
- Đối với chiếc xe mô tô biển số 34L1- 03173 là tài sản của bà Lê Thị H1, bà H1 mua lại xe của bà Đồng Thị N từ năm 2023 và sử dụng cho đến ngày 21/12/2023 thì V (là bạn của bà H1) mượn xe đi uống cà phê, việc V sử dụng xe vào việc phạm tội bà H1 không biết. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại xe cho bà H1.
- Về biện pháp tư pháp:
- Đối với số tiền gốc đối với số tiền gốc 274.000.000 đồng V sử dụng để cho vay, trong đó có 55.214.667 đồng những người liên quan chưa trả cho V; số còn lại là (274.000.000 đồng - 55.214.667 đồng) = 218.785.333 đồng: Đây là công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên buộc bị cáo nộp lại để tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước.
- Đối với số tiền những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vay của V nhưng chưa trả cho V gồm: Hoàng Văn V1 7.500.000 đồng (khoản vay ngày 11/12/2023); Đoàn Duy P1 27.273.000 đồng (khoản vay ngày 19/12/2023); Lê Hữu H 6.666.667 đồng (khoản vay ngày 10/11/2023); Nguyễn Thị Thùy T1 5.000.000 đồng (khoản vay ngày 07/12/2023); Lương Trọng K 4.375.000 đồng (khoản vay ngày 19/12/2023); Nguyễn Thị D 4.400.000 đồng (khoản vay ngày 19/12/2023), tổng cộng là 55.214.667 đồng: Đây là công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên buộc các người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nộp lại để tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước.
- Đối với số tiền 3.818.275 đồng là tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự (khoản 1 Điều 468) mà V thu của các người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Đây là khoản tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội nên buộc bị cáo V nộp lại để tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước.
- Đối với số tiền 36.132.619 đồng là khoản tiền lãi vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự (khoản 1 Điều 468) mà V thu của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Đây là số tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội nhưng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo V trả lại nên không xem xét.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về hành vi tố tụng, thẩm quyền tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật. Qua quá trình điều tra và truy tố, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- - Tuyên bố bị cáo Phạm Văn V phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch Dân sự”.
- - Xử phạt bị cáo Phạm Văn V 100.000.000 (một trăm triệu) đồng.
- Căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Về biện pháp tư pháp:
- Buộc bị cáo Nguyễn Văn V2 nộp lại 218.785.333 đồng là số tiền gốc V2 cho vay và số tiền 3.818.275 đồng là tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự (khoản 1 Điều 468) mà V2 thu của các người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, tổng cộng là 222.603.608 (hai trăm hai mươi hai triệu sáu trăm lẻ ba ngàn sáu trăm lẻ tám) đồng để tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước.
- Buộc ông Hoàng Văn V1 nộp lại số tiền 7.500.000 (bảy triệu năm trăm ngàn) đồng là tiền gốc mà ông V1 chưa trả cho bị cáo V2 (khoản vay ngày 11/12/2023) để tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước.
- Buộc ông Đoàn Duy P1 nộp lại số tiền 27.273.000 (hai mươi bảy triệu hai trăm bảy mươi ba ngàn) đồng là tiền gốc mà ông P1 chưa trả cho bị cáo V2 (khoản vay ngày 19/12/2023) để tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước.
- Buộc ông Lê Hữu H nộp lại số tiền 6.666.667 (sáu triệu sáu trăm sáu mươi sáu ngàn sáu trăm sáu mươi bảy) đồng là tiền gốc mà ông H chưa trả cho bị cáo V2 (khoản vay ngày 10/11/2023) để tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước.
- Buộc bà Nguyễn Thị Thùy T1 nộp lại số tiền 5.000.000 đồng là tiền gốc mà bà T1 chưa trả cho bị cáo V2 (khoản vay ngày 07/12/2023) để tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước.
- Buộc ông Lương Trọng K nộp lại số tiền 4.375.000 đồng là tiền gốc mà ông K chưa trả cho bị cáo V2 (khoản vay ngày 19/12/2023) để tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước.
- Buộc bà Nguyễn Thị D nộp lại số tiền 4.400.000 đồng là tiền gốc mà bà D chưa trả cho bị cáo V2 (khoản vay ngày 19/12/2023) để tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước.
- Đối với số tiền 36.132.619 đồng là khoản tiền lãi vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự (khoản 1 Điều 468) mà V2 thu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì các người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo V2 trả lại nên không xem xét.
- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Ngọc Nam |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
HỘI THẨM NHÂN DÂNTHẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Doãn Đức H2 – Đ
Bản án số 195/2024/HSST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 195/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch Dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trong khoảng thời gian từ tháng 02/2022 đến ngày 21/12/2023 ở tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, Phạm Văn Vinh đã cho nhiều đối tượng vay tiền với lãi suất 166%/năm đến 304%/năm thu lợi bất chính số tiền 39.950.894 đồng. Sự thừa nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng cùng các chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được cho vay với lãi suất cao hơn quy định của pháp luật là vi phạm pháp luật nhưng do muốn kiếm tiền bằng con đường bất chính nên bị cáo cố ý hành động phạm tội, bất chấp sự trừng trị của pháp luật. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: bị cáo Phạm Văn Vinh phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch Dân sự” theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
