TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 195/2024/DS-ST
Ngày: 30/9/2024
Về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Lâm Minh Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Thái Trung Nghĩa
Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Tâm, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu tham gia phiên tòa:
Bà Phạm Thị Diệp - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 27 và ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 433/2023/TLST-DS, ngày 14 tháng 12 năm 2023 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 196/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng N1;
Địa chỉ trụ sở chính: Số B đường L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Hoài P là người đại diện theo ủy quyền (theo văn bản ủy quyền số 434/GUQ-NHNo-VC ngày 27/9/2024) (ông P có mặt).
Địa chỉ: Số D đường N, khóm A, phường A, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.
- Bị đơn: Ông Thạch Văn T; sinh năm: 1981 (ông T vắng mặt)
Địa chỉ: Số H ấp H, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Ong Thị H; sinh năm: 1942 (bà H vắng mặt)
- Ông Lâm Văn X; sinh năm: 1975 (ông X vắng mặt)
- Bà Hồ Thị N; sinh năm: 1984 (bà N vắng mặt)
- Ông Lâm Văn H1; sinh năm: 1966 (ông H1 vắng mặt)
- Ông Thạch Văn T1; sinh năm: 1984 (ông T1 vắng mặt)
- Bà Trần Thị D; sinh năm: 1983 (bà D vắng mặt)
- Bà Thạch Thị T2; sinh năm: 1977 (bà T2 vắng mặt)
Địa chỉ: Số H ấp H, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.
Cùng địa chỉ: Số H ấp H, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.
Địa chỉ: Số I ấp H, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.
Địa chỉ: Số I ấp H, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.
Địa chỉ: Số 94 ấp Huỳnh Kỳ, xã Vĩnh Hải, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng
Địa chỉ: Ấp H, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 06/9/2023 của nguyên đơn Ngân hàng N1 cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn - ông Nguyễn Hoài P trình bày:
Ngày 18/12/2018, Ngân hàng N1 Chi nhánh thị xã V, Sóc Trăng với ông Thạch Văn T đã ký kết Hợp đồng tín dụng số 7606-LAV-201801382. Theo hợp đồng, ngân hàng N1 Chi nhánh thị xã V, Sóc Trăng cho ông Thạch Văn T vay số tiền 400.000.000 đồng; mục đích vay: Nuôi tôm; lãi suất: 9%/ năm; thanh toán trả lãi hàng quý; trả nợ một lần khi đến hạn, thời hạn vay là 12 tháng
Hợp đồng tín dụng trên được bảo đảm bằng hợp đồng thế chấp sau:
Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của người khác số 100/2016/VT/HĐTC ngày 28/12/2016 được ký kết giữa bà Ong Thị H và ngân hàng N1 Chi nhánh thị xã V, Sóc Trăng; tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như sau:
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số E 900530, có diện tích 12.581,6 m²; loại đất T; ĐM, LnK; thửa số 556, 600, 602, 617, 720 tờ bản đồ số 03, tọa lạc ấp H, xã V, huyện V, tỉnh Sóc Trăng (nay là thị xã V, tỉnh Sóc Trăng) do Ủy ban nhân dân huyện V (nay là UBND thị xã V) cấp cho hộ bà Ong Thị H ngày 04/05/1996.
Tính đến hết ngày 06/09/2023, tổng nợ của Ông Thạch Văn T tạm tính (do nợ lãi vẫn tiếp tục phát sinh) tại Ngân hàng N1 Chi nhánh thị xã V là: 620.900.000 đồng, trong đó:
- Nợ gốc: 400.000.000 đồng.
- Nợ lãi trong hạn: 152.100.000 đồng.
- Nợ lãi quá hạn: 68.800.000 đồng.
- Nợ lãi chậm trả: 0 đồng.
Ngân hàng N1 Chi nhánh thị xã V, Sóc Trăng đã nhiều lần làm việc trực tiếp và có văn bản yêu cầu ông Thạch Văn T thực hiện nghĩa vụ trả nợ nêu trên theo Hợp đồng tín dụng số 7606-LAV-201801382 ngày 18/12/2018, yêu cầu ông Thạch Văn T, bà Ong Thị H thực hiện nghĩa vụ theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của người khác số 100/2016/VT/HĐTC ngày 28/12/2016. Tuy nhiên, tính đến nay, ông Thạch Văn T vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả toàn bộ nợ gốc, nợ lãi cho ngân hàng N1.
Nay ngân hàng N1 yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Buộc ông Thạch Văn T và bà Ong Thị H phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng N1 toàn bộ số tiền nợ gốc và lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 7606-LAV-201801382 ngày 18/12/2018.
- Trường hợp ông Thạch Văn T và bà Ong Thị H không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp tài sản mà hai bên đã ký kết để thu hồi nợ.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Ngân hàng N1 rút một phần yêu cầu khởi kiện, phía ngân hàng không yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là các thửa đất số 556, 600, 602 và thửa 617, tờ bản đồ số 03, tọa lạc ấp H, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng; không yêu cầu bà Ong Thị H cùng liên đới với ông Thạch Văn T trả nợ cho ngân hàng và yêu cầu cụ thể như sau:
Buộc ông Thạch Văn T thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng N1 toàn bộ số tiền tính đến ngày 27/9/2024 là 678.950.000 đồng (trong đó: Nợ gốc: 400.000.000 đồng, lãi trong hạn: 190.800.000 đồng, lãi quá hạn: 88.150.000 đồng) và lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 7606-LAV-201801382 ngày 18/12/2018, kể từ ngày 28/9/2024 cho đến khi ông Thạch Văn T trả hết nợ gốc cho Ngân hàng N1.
Trường hợp ông Thạch Văn T không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm là thửa đất số 720, tờ bản đồ số 03 tọa lạc ấp H, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng theo Hợp đồng thế chấp số 100/2016/VT/HĐTC ngày 28/12/2016 mà hai bên đã ký kết để thu hồi nợ.
Đối với bị đơn ông Thạch Văn T: Dù được tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, tại Thông báo thể hiện đầy đủ những tình tiết, sự kiện, tài liệu, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N1 nhưng ông T không phản đối, không có văn bản trình bày ý kiến và không giao nộp tài liệu, chứng cứ. Đồng thời, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo toàn bộ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cho ông T và đưa vụ án ra xét xử theo quy định pháp luật. Tòa án triệu tập hợp lệ bị đơn Thạch Văn T tham gia phiên tòa lần hai nhưng bị đơn ông Thạch Văn T vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn theo luật định.
Tại biên bản lấy lời khai đối với ông Lâm Văn X, ông X trình bày: Vào năm 2009-2010, ông có đổi đất với em ruột của ông là bà bà Thạch Thị T2, theo đó bà T2 đổi cho ông quản lý, sử dụng và cất nhà ở tại phần đất được mẹ là bà Ong Thị H cho bà T2 (một phần thửa 720, tờ bản đồ số 03, tọa lạc ấp H, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng), phần đất này từ trước đến nay do bà Ong T3 đứng tên quyền sử dụng đất. Khi đổi có làm giấy viết tay, thỏa thuận khi nào lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ ngân hàng ra thì bà T2 sẽ có trách nhiệm làm thủ tục sang tên cho ông. Đến năm 2011 thì ông cất nhà trên toàn bộ phần đất đã đổi với bà T2. Phần đất này hiện nay đang thế chấp tại ngân hàng, trong trường hợp ngân hàng yêu cầu xem xét phát mãi nếu ông T không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì ông không đồng ý. Ông T phải có trách nhiệm trả nợ cho ngân hàng và chịu trách nhiệm thỏa thuận xử lý tài sản của ông T (tài sản riêng của ông T) để trả nợ.
Tại biên bản lấy lời khai đối với bà Thạch Thị T2, bà T2 trình bày: Đối với phần đất gắn liền với căn nhà của ông Lâm Văn X là do trước đây bà đổi đất với ông X để ông X được phần đất này cất nhà như hiện nay và phần đất trống giáp nhà của ông X cũng là của bà. Nguồn gốc đất là do mẹ bà Ong Thị H cho bà cách nay khoảng 27 năm, khi cho không có làm giấy tờ, chỉ nói bằng miệng, thời điểm mới cho thì bà có trồng dây thuốc cá nhưng đã không trồng cách nay đã lâu (khoảng mười mấy năm). Từ trước đến nay phần đất nêu trên là do mẹ bà Ong Thị H đứng tên quyền sử dụng đất (thuộc thửa 720, tờ bản đồ số 03, tọa lạc ấp H, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng) hiện nay đang thế chấp tại ngân hàng N1 – Chi nhánh thị xã V để ông T vay vốn tại ngân hàng. Đối với phần đất đã đổi với ông X, bà không có ý kiến gì, riêng đối với phần đất trống nêu trên thì trong trường hợp ngân hàng có yêu cầu xem xét để phát mãi thì bà không đồng ý, bà sẽ bàn bạc lại với ông T để ông T có phương án trả nợ cho ngân hàng. Đồng thời, bà cũng không yêu cầu gì trong vụ án này.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa nêu quan điểm: Qua thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký phiên tòa cũng như Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, chứng cứ được thu thập đầy đủ đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho các đương sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Đối với bị đơn Thạch Văn T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ong Thị H, Lâm Văn X, Hồ Thị N, Lâm Văn H1, Thạch Văn T1, Trần Thị D, Thạch Thị T2 được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vắng mặt đối với ông T, bà H, ông X, bà N, ông H1, ông T1, bà D và bà T2. Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn ông Thạch Văn T phải trả nguyên đơn Ngân hàng N1 số tiền 678.950.000 đồng (trong đó: Nợ gốc: 400.000.000 đồng, lãi trong hạn: 190.800.000 đồng, lãi quá hạn: 88.150.000 đồng) và lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 7606-LAV-201801382 ngày 18/12/2018, kể từ ngày 28/9/2024 cho đến khi ông Thạch Văn T trả hết nợ gốc cho Ngân hàng N1. Trường hợp ông Thạch Văn T không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì ngân hàng có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là thửa đất số 720, tờ bản đồ số 03, tọa lạc ấp H, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng theo hợp đồng thế chấp số 100/2016/VT/HĐTC ngày 28/12/2016 để thu hồi nợ. Trong trường hợp Ngân hàng N1 bán tài sản bảo đảm là quyền sử dụng thửa đất số 720, tờ bản đồ 03, diện tích 1.180m² tọa lạc ấp H, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng thì dành quyền ưu tiên ông Lâm Văn X và bà Hồ Thị N được mua (nhận chuyển nhượng) đối với phần đất ông X, bà N đang sử dụng cất nhà ở trong trường hợp ông X, bà N có nhu cầu mua. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ngân hàng N1 về việc yêu cầu xử lý tài sản thế chấp đối với các thửa đất số 600, 602 và thửa 617, tờ bản đồ số 03, tọa lạc ấp H, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng theo hợp đồng thế chấp số 100/2016/VT/HĐTC ngày 28/12/2016 và đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ngân hàng N1 về việc yêu cầu bà Ong Thị H cùng liên đới với ông Thạch Văn T trả nợ cho ngân hàng. Đồng thời quyết định về nghĩa vụ chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn ngân hàng N1 khởi kiện tranh chấp về hợp đồng tín dụng với bị đơn là ông Thạch Văn T có địa chỉ tại ấp H, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng. Do đó, theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
[2] Bị đơn ông Thạch Văn T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Ong Thị H, ông Lâm Văn X, bà Hồ Thị N, ông Lâm Văn H1, ông Thạch Văn T1, bà Trần Thị D, bà Thạch Thị T2 đã được triệu tập hợp lệ hai lần tham gia phiên tòa, đều vắng mặt không có lý do nên phải chịu hậu quả pháp lý về việc vắng mặt của mình. Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật và Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vụ án vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[3] Nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là các thửa đất số 600, 602 và thửa 617, tờ bản đồ số 03, tọa lạc ấp H, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng theo hợp đồng thế chấp số 100/2016/VT/HĐTC ngày 28/12/2016 và không yêu cầu bà Ong Thị H cùng liên đới với ông Thạch Văn T trả nợ cho ngân hàng. Xét thấy, việc rút một phần yêu cầu này của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Căn cứ khoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự, Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ngân hàng N1 về việc yêu cầu xử lý tài sản thế chấp đối với các thửa đất số 600, 602 và thửa 617, tờ bản đồ số 03, tọa lạc ấp H, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng theo hợp đồng thế chấp số 100/2016/VT/HĐTC ngày 28/12/2016 và đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ngân hàng N1 về việc yêu cầu bà Ong Thị H cùng liên đới với ông Thạch Văn T trả nợ cho ngân hàng.
[4] Về nội dung: Việc thỏa thuận vay tiền của bị đơn ông Thạch Văn T tại Hợp đồng tín dụng số 7606-LAV-201801382 ngày 18/12/2018 là tự nguyện, bình đẳng nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ của các bên trong giao dịch dân sự, phù hợp với quy định tại các Điều 116, 117 của Bộ luật dân sự năm 2015, hình thức và nội dung hợp đồng phù hợp với quy định tại các Điều 119, 398, 463 của Bộ luật dân sự năm 2015. Đồng thời, các bên thỏa thuận lãi suất trong hạn 09%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn là phù hợp với quy định tại Điều 466, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 và Điều 91, 95 của Luật các tổ chức tín dụng. Sau khi các bên ký kết hợp đồng, ông T còn nợ lại tiền nợ gốc là 400.000.000 đồng và tiền lãi chưa thanh toán cho đến nay nên đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ mà hai bên đã ký kết. Mặc dù Ngân hàng đã yêu cầu bị đơn ông Thạch Văn Thiên thanh T4 nợ nhưng ông T vẫn không thanh toán theo hợp đồng mà hai bên thỏa thuận. Do vậy, bị đơn ông Thạch Văn T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, là bên có lỗi trong việc thực hiện các thỏa thuận đã ký kết nên ngân hàng N1 yêu cầu bị đơn ông Thạch Văn T phải trả số tiền nợ gốc và nợ lãi tính kể từ ngày ông T vi phạm nghĩa vụ trả nợ đến ngày xét xử 27/9/2024 số tiền là 678.950.000 đồng (trong đó: Nợ gốc: 400.000.000 đồng, lãi trong hạn: 190.800.000 đồng, lãi quá hạn: 88.150.000 đồng) và yêu cầu tiếp tục tính lãi phát sinh từ ngày 28/9/2024 theo lãi suất trong hợp đồng tín dụng số 77606-LAV-201801382 ngày 18/12/2018 mà hai bên đã ký kết là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng N1, ông Thạch Văn T, bà Ong Thị H, ông Lâm Văn H1, ông Lâm Văn X, ông Thạch Văn T1, bà Trần Thị D đã ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số số 100/2016/VT/HĐTC ngày 28/12/2016, dùng tài sản là thửa đất số 720 tờ bản đồ số 03, tọa lạc ấp H, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng, do Ủy ban nhân dân huyện V (Nay là Ủy ban nhân dân thị xã V) cấp cho hộ bà Ong Thị H ngày 04/5/1996 để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ. Xét thấy, theo biên bản thẩm định tại chỗ đối với thửa đất thế chấp nêu trên đang tồn tại 01 phần căn nhà của ông Lâm Văn X và bà Hồ Thị N cụ thể như sau: Phần mái che phía trước căn nhà chính có kết cấu: Mái lợp tôn thiếc, đòn tay sắt, vách xây tường lửng, cột sắt, nền tráng ximăng, chiều ngang 07m, chiều dài 06m; một phần căn nhà chính có kết cấu: cột đúc, mái thái, trần laphong, cửa nhôm + sắt, vách xây tường 10, nền lót gạch men, có chiều ngang 07m, chiều dài 08m và một phần đất còn lại của thửa 720 có tồn tại 03 cây xoài loại A. Toàn bộ thửa đất nêu trên do hộ bà Ong Thị H đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp. Đồng thời, tất cả các thành viên trong hộ bà Ong Thị H và người đang quản lý, sử dụng đất gồm ông Thạch Văn T, bà Ong Thị H, ông Lâm Văn H1, ông Lâm Văn X, ông Thạch Văn T1, bà Trần Thị D đều thống nhất ký kết hợp đồng thế chấp số 100/2016/VT/HĐTC ngày 28/12/2016, dùng tài sản trong đó có thửa đất số 720 tờ bản đồ số 03, tọa lạc ấp H, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng, do Ủy ban nhân dân huyện V (Nay là Ủy ban nhân dân thị xã V) cấp cho hộ bà Ong Thị H ngày 04/5/1996 để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ cho ông Thạch Văn T. Mặt khác, Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số100/2016/VT/HĐTC ngày 28/12/2016 được ký kết giữa ngân hàng với các ông, bà nêu trên phù hợp theo quy định tại Điều 317, 318 của Bộ luật dân sự 2015, nội dung hợp đồng thế chấp có quy định rõ về quyền và nghĩa vụ của bên thế chấp và bên nhận thế chấp và có đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 12 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm, nên Hợp đồng thế chấp có giá trị pháp lý và có hiệu lực thi hành. Đối với bà Thạch Thị T2, tuy không ký vào hợp đồng thế chấp số 100/2016/VT/HĐTC ngày 28/12/2016 nhưng khi ông Thạch Văn T vay tiền và thế chấp quyền sử dụng dụng đất nêu trên, bà T2 không phản đối. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà T2 cũng không có yêu cầu độc lập. Đồng thời, bà T2 cho rằng một phần thửa 720 được mẹ bà Ong Thị H cho nhưng cũng không có căn cứ gì chứng minh. Mặt khác, trên phần đất hiện nay ngoài 03 cây xoài thì phần còn lại là đất trống, bà T2 đã không sử dụng cách nay đã lâu (khoảng mười mấy năm). Do đó, việc ngân hàng yêu cầu xem xét phát mãi đối với toàn bộ thửa đất 720, tờ bản đồ số 03 tọa lạc ấp H, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng trong trường hợp ông Thạch Văn T không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ là có căn cứ. Đối với phần đất gắn liền với căn nhà của ông Lâm Văn X và bà Hồ Thị N, do căn nhà đã cất kiên cố cho nên trong trường hợp ngân hàng đề nghị xử lý tài sản đảm bảo đối với thửa đất 720 nêu trên thì dành quyền ưu tiên mua (nhận chuyển nhượng) cho ông X và bà N đối với phần đất ông X, bà N đang sử dụng cất nhà ở trong trường hợp ông X, bà N có nhu cầu mua là phù hợp với Án lệ số 11/2017/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 14 tháng 12 năm 2017 và được công bố theo Quyết định số 299/QĐ-CA28 tháng 12 năm 2017 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[6] Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp với số tiền là 750.000 đồng, ông Thạch Văn T phải chịu theo quy định tại khoản 1 Điều 157 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do nguyên đơn ngân hàng N1 đã tạm ứng thanh toán nên buộc ông Thạch Văn T phải trả lại số tiền này cho nguyên đơn.
[7] Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Thạch Văn T phải chịu án phí đối với yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[8] Toàn bộ quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu là có căn cứ pháp lý và cơ sở thực tiễn như đã nhận định ở trên nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 157; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271, Điều 273, Điều 278 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ vào các Điều 116, 117, 119, 317, 318, 325, 398, 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự.
Căn cứ vào Điều 91 và Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ngân hàng N1 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng với bị đơn ông Thạch Văn T.
- Về xử lý tài sản thế chấp: Trường hợp ông Thạch Văn T không thanh toán hoặc thanh toán không hết nợ, nguyên đơn ngân hàng N1 được quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Đồng thời, bà Ong Thị H, ông Lâm X, bà Hồ Thị N, bà Thạch Thị T2, ông Lâm Văn H1, ông Thạch Văn T1 và bà Trần Thị D có nghĩa vụ cùng ông Thạch Văn T bàn giao tài sản thế chấp, cụ thể: Thửa đất số 720, mục đích sử dụng: InK, diện tích 1.180m² thuộc tờ bản đồ số 03 tọa lạc ấp H, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số E 900530 do Ủy ban nhân dân huyện V, tỉnh Sóc Trăng (nay là Ủy ban nhân dân thị xã V, tỉnh Sóc Trăng) cấp cho hộ bà Ong Thị H ngày 04/5/1996 và tài sản trên đất gồm: 01 phần căn nhà của ông Lâm Văn X và bà Hồ Thị N cụ thể như sau: Phần mái che phía trước căn nhà chính có kết cấu: Mái lợp tôn thiếc, đòn tay sắt, vách xây tường lửng, cột sắt, nền tráng ximăng, chiều ngang 07m, chiều dài 06m; một phần căn nhà chính có kết cấu: cột đúc, mái thái, trần laphong, cửa nhôm + sắt, vách xây tường 10, nền lót gạch men, có chiều ngang 07m, chiều dài 08m và 03 cây xoài loại A để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 100/2016/VT/HĐTC ngày 28/12/2016.
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ngân hàng N1 về việc yêu cầu xử lý tài sản thế chấp đối với các thửa đất số 600, 602 và thửa 617, tờ bản đồ số 03, tọa lạc ấp H, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng theo hợp đồng thế chấp số 100/2016/VT/HĐTC ngày 28/12/2016 và đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ngân hàng N1 về việc yêu cầu bà Ong Thị H cùng liên đới với ông Thạch Văn T trả nợ cho ngân hàng N1.
- Án phí dân sự sơ thẩm:
- Về quyền kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.
Buộc bị đơn ông Thạch Văn T có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng N1 số tiền 678.950.000 đồng (trong đó: Nợ gốc: 400.000.000 đồng, lãi trong hạn: 190.800.000 đồng, lãi quá hạn: 88.150.000 đồng). Ông Thạch Văn T phải trả lãi phát sinh kể từ ngày 28/9/2024 theo lãi suất trong Hợp đồng tín dụng số 7606-LAV-201801382 ngày 18/12/2018 mà hai bên đã ký kết cho đến khi ông Thiên thanh T4 hết nợ.
Trong trường hợp Ngân hàng N1 bán tài sản bảo đảm là quyền sử dụng thửa đất số 720, tờ bản đồ 03, diện tích 1.180m² tọa lạc ấp H, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng thì dành quyền ưu tiên ông Lâm Văn X và bà Hồ Thị N được mua (nhận chuyển nhượng) đối với phần đất ông X, bà N đang sử dụng cất nhà ở trong trường hợp anh ông X, bà N có nhu cầu mua.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật nếu ông Thạch Văn T thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ hoặc tất toán toàn bộ khoản vay thì ngân hàng N1 phải có trách nhiệm giải chấp và trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chủ tài sản.
- Ông Thạch Văn T phải chịu 31.158.000 đồng.
- Nguyên đơn ngân hàng N1 và P1 triên Nông thôn Việt Nam không phải chịu án phí, hoàn trả cho ngân hàng N1 và P1 triên Nông thôn Việt Nam số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 12.418.000 đồng theo biên lai thu số 0000387 ngày 05 tháng 12 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lâm Minh Tuấn |
Bản án số 195/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 195/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
