Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 195/2024/DS-ST

Ngày: 27-9-2024

V/v tranh chấp hợp đồng

tín dụng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ – TỈNH ĐỒNG NAΙ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Trúc Thuỷ

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Lương Thiện.
  2. Ông Trần Hữu Hậu.

Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Phương Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Mai – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 748/2024/TLST–DS ngày 15 tháng 7 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 246/2024/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 1391/2024/QÐST- DS ngày 04/9/2024, giữa các đương sự:

· Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S.

Địa chỉ: 2, N, phường V, quận C, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Phạm Quang Đ – Phó Giám đốc Ngân hàng TMCP S Chi nhánh Đ2 kiêm Trưởng phòng G (văn bản ủy quyền số 3525/2023/QĐ-PC ngày 25/12/2023).

Ông Đ ủy quyền lại cho ông Nguyễn Văn Đ1 – Trưởng bộ phận quản lý tín dụng và kiểm soát rủi ro (Văn bản ủy quyền ngày 03/5/2024).

Địa chỉ: 7, đường P, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Ông Vũ Ngọc L, sinh năm 1973.

Địa chỉ: I, tổ A, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

(Ông Đ1 có đơn xin xét xử mặt, ông L vắng mặt không lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S do người đại diện theo uỷ quyền là ông Nguyễn Văn Đ1 trình bày:

Ngày 28/07/2020, ông L có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng (các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng) và Giấy đề nghị ngày 14/12/2022 (nâng hạn mức thẻ tín dụng từ 20.000.000 đồng lên 50.000.000 đồng). Căn cứ thu nhập của ông L, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 50.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông L đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền gốc và lãi tính đến ngày 04/5/2024 là 56.840.000 đồng.

Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến ngày 04/5/2024, ông L chưa thanh toán cho Ngân hàng số tiền 56.840.000 đồng. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông L vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông L vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 01/03/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).

Tính đến ngày 27/9/2024, ông L còn nợ Ngân hàng các khoản sau: Nợ gốc 55.000.000 đồng, lãi quá hạn 21.554.318 đồng. Tổng cộng 76.554.318 đồng (Bảy mươi sáu triệu năm trăm năm mươi bốn nghìn ba trăm mười tám đồng).

Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp với ông L, yêu cầu ông L có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để ông L trả nợ, tuy nhiên ông L vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng đã ký.

Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông L phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 27/9/2024 là 76.554.318 đồng (Bảy mươi sáu triệu năm trăm năm mươi bốn đồng ba trăm mười tám nghìn). Trong đó: nợ gốc: 55.000.000 đồng, lãi quá hạn: 21.554.318 đồng và lãi phát sinh từ ngày 28/9/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

* Bị đơn ông Vũ Ngọc L đã được Toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn không có ý kiến, không đến Toà án để tham gia tố tụng.

* Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án được thực hiện đúng quy định. Bị đơn thực hiện chưa đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.

- Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Vũ Ngọc L phải trả cho Ngân hàng số tiền gốc là

55.000.000 đồng và lãi phát sinh theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng mà hai bên đã thỏa thuận ký kết. Bị đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Ngân hàng Thương mại cổ phần S khởi kiện yêu cầu ông Vũ Ngọc L trả tiền vay theo hợp đồng tín dụng đã ký kết nên xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Kết quả xác minh ngày 15/7/2024 do Công an phường T cung cấp thể hiện ông Vũ Ngọc L có hộ khẩu thường trú và hiện nay đang sinh sống tại địa chỉ: I, tổ A, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa theo điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ khoản 2 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định Ngân hàng Thương mại cổ phần S là nguyên đơn, ông Vũ Ngọc L là bị đơn.

Đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn có văn bản ủy quyền cho ông Nguyễn Văn Đ1. Văn bản ủy quyền hợp lệ nên được chấp nhận. Ông Đ1 có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Vũ Ngọc L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia các phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông Đ1.

[2] Về nội dung: Căn cứ vào Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng (các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng), Giấy đề nghị ngày 14/12/2022 (nâng hạn mức thẻ tín dụng từ 20.000.000 đồng lên 50.000.000 đồng), tóm tắt sao kê lịch sử giao dịch thẻ tín dụng của ông L đã đủ cơ sở để xác định Ngân hàng Thương mại cổ phần S đã cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 50.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân cho ông Vũ Ngọc L. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông L đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền gốc và lãi là 76.554.318 đồng. Trong đó nợ gốc: 55.000.000 đồng, lãi quá hạn: 21.554.318 đồng.

Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông L chưa thanh toán cho Ngân hàng số tiền 76.554.318 đồng. Qua nhiều lần nhắc nhở nhưng ông L vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông L vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 01/03/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 27/9/2024, ông L còn nợ Ngân hàng tổng số tiền 76.554.318 đồng. Trong đó nợ gốc: 55.000.000 đồng, lãi quá hạn: 21.554.318 đồng.

Nhận thấy việc ký kết Hợp đồng giữa ông L và Ngân hàng là tự nguyện, phù hợp với quy định pháp luật nên có giá trị pháp lý. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông L vi phạm nghĩa vụ thanh toán, không thực hiện đúng nội dung thỏa thuận theo hợp

đồng nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông L phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 27/9/2024 là 76.554.318 đồng (Bảy mươi sáu triệu năm trăm năm mươi bốn nghìn ba trăm mười tám đồng) và khoản lãi phát sinh từ ngày 28/9/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng là phù hợp với quy định pháp luật. Do đó cần chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S, buộc ông L phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S tổng số tiền: 76.554.318 đồng. Trong đó nợ gốc: 55.000.000 đồng, lãi quá hạn: 21.554.318 đồng.

Kể từ ngày 28/9/2024, ông Vũ Ngọc L còn phải tiếp tục chịu lãi suất theo mức lãi suất theo Hợp đồng tín dụng được ký giữa ông L và Ngân hàng Thương mại cổ phần S cho đến khi thanh toán xong. Trường hợp trong Hợp đồng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng Thương mại cổ phần S thì lãi suất mà ông Vũ Ngọc L phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với lãi suất của Ngân hàng Thương mại cổ phần S.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Ông L phải chịu: 3.827.716 đồng (Ba triệu tám trăm hai mươi bảy nghìn bảy trăm mười sáu đồng).

Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền 1.421.000 đồng (Một triệu bốn trăm hai mươi mốt nghìn đồng) theo biên lai thu số 0004610 ngày 05/7/2024 do Ngân hàng Thương mại cổ phần S của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hoà.

[4] Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với tài liệu, chứng cứ, quy định pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[5] Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 207, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 17 Quyết định 20/VBHN-NHNN ngày 22/5/2014 của Ngân hàng N quyết định về việc ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm có hiệu lực ngày 15/3/2019; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S.

    Buộc ông Vũ Ngọc L phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S tổng số tiền là tổng số tiền tính đến ngày 27/9/2024 là 76.554.318 đồng (Bảy mươi sáu triệu năm trăm năm mươi bốn nghìn ba trăm mười tám đồng). Trong đó nợ gốc là 55.000.000 đồng, lãi quá hạn 21.554.318 đồng.

    Kể từ ngày 28/9/2024, ông Vũ Ngọc L còn phải tiếp tục chịu lãi suất theo mức lãi suất theo Hợp đồng tín dụng được ký giữa ông L và Ngân hàng Thương mại cổ phần S cho đến khi thanh toán xong. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng Thương mại cổ phần S thì lãi suất mà ông Vũ Ngọc L phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với lãi suất của Ngân hàng Thương mại cổ phần S.

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Vũ Ngọc L phải chịu 3.827.716 đồng (Ba triệu tám trăm hai mươi bảy nghìn bảy trăm mười sáu đồng) án phí sơ thẩm.

    Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền 1.421.000 đồng (Một triệu bốn trăm hai mươi mốt nghìn đồng) theo biên lai thu số 0004610 ngày 05/7/2024 do Ngân hàng Thương mại cổ phần S nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hoà.

  3. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự.
  • - VKSND TP. Biên Hòa.
  • - Chi cục THADS TP. Biên Hoà.
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Trần Trúc Thủy

5

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 195/2024/DS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 195/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng Sacombank và Vũ Ngọc Long
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger