Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

Bản án số: 195/2024/HS-ST.

Ngày: 16-9-2024.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT – TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Thái

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đỗ Văn Hoà
  2. Bà Trần Thị Thanh Nga

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Vũ Thuỳ Chi - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phan Thiết.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Thịnh - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số 67/2024/HSST ngày 26 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 154/2024/HSST-QĐ ngày 24/5/2024, Thông báo về việc dời ngày xét xử số 469/2024/TB-TA ngày 24/6/2024 và Thông báo về việc thời gian mở lại phiên toà số 272/TB-TA ngày 30/8/2024 đối với bị cáo:

Đặng Hữu Anh H (tên gọi khác: Cu) - sinh năm 2003, tại Bình Thuận; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Không có. Nơi cư trú: Sống lang thang; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Nghề nghiệp: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Đặng Hữu Gia B (đã chết) và bà Nguyễn Thị T; Vợ, con: Chưa có.

Tiền án, Tiền sự: Không có;

Nhân thân:

  • + Ngày 16/4/2024, bị Toà án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xử phạt 4 năm tù về tội “cướp giật tài sản” tại bản án số 98/2024/HSST.
  • + Ngày 01/8/2024, bị Toà án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu xử phạt 15 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt 04 năm tù tại Bản án số 98/2024/HSST ngày 16/4/2024 của Toà án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 05 năm 03 tháng tù.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 03/11/2023 trong vụ án khác, hiện đã được trích xuất về tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P từ ngày 10/9/2024 để phục vụ việc xét xử, có mặt.

* Bị hại:

1/ Bà Nguyễn Thị Bích L, sinh năm 2002 (vắng mặt).

Địa chỉ: Khu phố H, phường Đ, thành phố P, Bình Thuận.

2/ Nguyễn Văn H1, sinh năm 2003 (vắng mặt)

Địa chỉ: Khu phố H, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào các ngày 25/9/2023 và ngày 12/10/2023, Đặng Hữu Anh H đã hai lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố P như sau:

Lần thứ nhất: Vào khoảng 22 giờ ngày 25/9/2023, anh Nguyễn Văn H1 điều khiển xe mô tô biển số 86C1 – 808.40 đi từ phường P, thành phố P để về nhà tại phường Đ, thành phố P. Trên đường đi do mệt nên H1 đã dừng xe trước số nhà I đường L, khu phố B, phường P, thành phố P để nghỉ rồi ngủ quên. Lúc này, Đặng Hữu Anh H đang đi bộ tìm tài sản để trộm cắp. Khi đi đến trước nhà số I đường L thì H phát hiện xe mô tô biển số 86C1 – 808.40 của anh H1 đang dựng trên đường, chìa khóa cắm sẵn trên xe, nhìn thấy anh H1 đang ngủ nên H mở khóa khởi động và điều khiển xe mô tô 86C1 – 808.40 đến tiệm bắn cá ở phường L, thành phố P. Tại đây, H mở cốp xe mô tô 86C1 – 808.40 thì thấy bản phô tô giấy chứng minh nhân dân và giấy đăng ký xe 86C1 – 808.40 đều mang tên Nguyễn Văn H1 nên H nói với Trần Văn T1 (sinh năm 1997, trú tại khu phố F, phường Đ, thành phố P, cũng đang chơi game tại đây): “lỡ bắn cá hết tiền rồi nên nhờ T1 đi cầm thế giùm”. T1 hỏi H “xe này của ai?” Hào trả lời “xe này của H” nên T1 đồng ý đi cầm thế xe giùm H. Lúc này, T1 gọi điện cho Lê Hồng P (sinh năm 1980, trú tại khu phố G, phường Đ, thành phố P) và hỏi “có cầm thế xe không?” thì P trả lời “có”. Sau đó, T1 điều khiển xe mô tô biển số 86C1 – 808.40 đến nhà P và nói với P muốn thế xe mô tô với giá 5.000.000 đồng. P hỏi T1 xe này của ai thì T1 nói “xe của H, kẹt tiền nên cầm, sáng mai quay lại lấy” và đưa giấy tờ xe cho Phong cầm. Nghe vậy, P đồng ý cầm thế và đưa 4.500.000 đồng cho T1 và P giữ lại 500.000 đồng tiền lãi. Sau đó, T1 đưa cho H 4.500.000 đồng, H đưa T1 500.000 đồng đi mua đồ ăn về cả hai cùng ăn, số tiền còn lại H tiêu xài cá nhân hết.

Ngày 26/9/2023, do H không đến lấy xe nên Lê Hồng P nhờ Nguyễn A (sinh năm 1988, trú tại khu phố G, phường Đ, thành phố P) mang xe mô tô biển số 86C1 – 808.40 đi cầm thế giùm thì Nguyễn A đồng ý. Nguyễn A mang xe mô tô đến tiệm cầm đồ số 12 (thuộc phường Đ, thành phố P) gặp Lê Quang V (sinh năm 1991, trú tại khu phố E, phường Đ, thành phố P) và nói “muốn cầm thế xe với giá 5.000.000 đồng” thì V hỏi “xe này ở đâu”, Nguyễn A trả lời “xe này của người thân trong nhà do kẹt tiền nên nhờ mang đi cầm”. V đồng ý và chuyển khoản cho Anh số tiền 5.000.000 đồng. Đến ngày 08/10/2023, do Lê Hồng P không chuộc lại xe nên Nguyễn A gọi điện cho Nguyễn Văn H2 (sinh năm 1996, trú tại khu phố D, phường P, thành phố P) và hỏi “có mua xe Sirius màu đen không?” thì H2 đồng ý mua xe với giá 5.700.000 đồng. Sau đó A bảo H2 đến tiệm C gặp Lê Quang V để lấy xe.

Cùng ngày 08/10/2023, sau khi mua xe mô tô biển số 86C1 – 808.40, Nguyễn Văn H2 nhờ Trương Văn D (sinh năm 1997, trú tại thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận) bán xe mô tô trên cho Nguyễn Minh T2 với giá 8.000.000 đồng. H2 cho D số tiền 500.000 đồng, số tiền còn lại H2 cầm và tiêu xài cá nhân. Ngày 12/10/2023, Nguyễn Minh T2 bán xe mô tô nêu trên cho Nguyễn Văn H1 (sinh năm 1987, trú tại khu phố B, phường P, thành phố P, là chủ tiệm mua bán xe Hùng Xì P1) với giá 10.500.000 đồng.

Đến khoảng 01 giờ 30 phút ngày 26/9/2023, anh H1 thức dậy thì phát hiện xe mô tô nêu trên bị mất nhưng không trình báo Công an. Đến ngày 18/10/2023, H1 phát hiện xe mô tô biển số 86C1- 808.40 của mình ở tiệm mua bán xe cũ “Hùng X” nên anh H1 đã đến Công an phường P trình báo sự việc.

Vật chứng của vụ án: 01 xe mô tô biển số 86C1 – 808.40, số máy E3X9E508908, số khung 3240JY188808; 01 bản phô tô Giấy đăng ký xe mô tô biển số 86C1 – 808.40 và 01 bản phô tô giấy CMND đều mang tên Nguyễn Văn H1 (do Nguyễn Văn H1, chủ tiệm mua bán xe cũ “Hùng Xì P1” giao nộp)

Tại Kết luận giám định số 266/KL-HĐĐG ngày 18/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố P kết luận: “xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đen xám, biển số 86C1 – 808.40, số khung 3240JY188808, số máy E3X9E508908, xe đã qua sử dụng, tình trạng xe bình thường, mua mới 18/10/2018, trị giá 9.333.333 đồng.”

Xử lý vật chứng và dân sự:

Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô biển số 86C1 – 808.40 cho bị hại Nguyễn Văn H1. Anh H1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự.

Lần thứ hai: Vào khoảng 19 giờ ngày 12/10/2023, Đặng Hữu Anh H đang đi bộ trên đường T thì phát hiện trước sân nhà số G đường T (thuộc khu phố D, phường Đ, thành phố P) có dựng 01 chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Exciter biển số 86C1 – 787.10 của chị Nguyễn Thị Bích L, chìa khóa cắm sẵn trên xe không có người trông coi nên H nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe này. H đi vào trong sân, quan sát xung quanh không có ai nên H lén lút dắt xe mô tô biển số 86C1 – 787.10 đi ra ngoài, khởi động máy và điều khiển xe đến huyện L, tỉnh Đồng Nai. Ngày 24/10/2023, H sử dụng xe mô tô biển số 86C1 – 787.10 thực hiện hành vi cướp giật tài sản tại huyện L, tỉnh Đồng Nai thì bị Công an huyện L bắt giữ và tạm giữ xe mô tô biển số 86C1 – 787.10.

Quá trình là việc với Công an huyện L, H đã khai nhận đã thực hiện hai vụ trộm cắp xe mô tô biển số 86C1 – 808.40 và xe mô tô biển số 86C1 – 787.10 tại thành phố P như đã nêu trên.

Khoảng 22 giờ ngày 12/10/2023, chị Nguyễn Thị Bích L phát hiện xe mô tô biển số 86C1 – 787.10 bị kẻ gian lấy trộm nên đã đến Công an phường Đ trình báo sự việc.

Vật chứng của vụ án: Xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter, biển số 86C1 – 787.10, số khung RLCUG0610JY711348, số máy G3D4E739883 (do Công an huyện L thu giữ và bàn giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố P để xử lý theo thẩm quyền).

Tại Kết luận giám định số 270/KL-HĐĐG ngày 21/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố P kết luận:

“Xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, màu xanh, biển số 86C1 – 787.10 đã qua sử dụng, tình trạng hoạt động bình thường, trị giá 14.000.000 đồng”

Xử lý vật chứng và dân sự:

Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô biển số 86C1 – 787.10 cho chị Nguyễn Thị Bích L. Chị L đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự.

Tại các lời khai, biên bản hỏi cung bị cáo, biên bản ghi lời khai của bị hại trong quá trình điều tra đều thể hiện bị cáo Đặng Hữu A1 Hào lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu đã có hành vi hai lần lén lút chiếm đoạt tài sản gồm 01 chiếc xe mô tô biển số 86C1 -808.40 trị giá 9.333.333 đồng của anh H1 và 01 chiếc xe mô tô biển số 86C1 – 787.10 có giá trị 14.000.000 đồng của chị L.

Với hành vi nêu trên, ngày 25/4/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết ra bản cáo trạng số 67/CT-VKS truy tố bị cáo H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết phát biểu lời luận tội và tranh luận: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thừa nhận hành vi lén lút chiếm đoạt tài gồm 01 chiếc xe mô tô biển số 86C1 - 808.40 trị giá 9.333.333 đồng của anh H1 và 01 chiếc xe mô tô biển số 86C1 – 787.10 có giá trị 14.000.000 đồng của chị L, do đó Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt đề nghị xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo H hai lần thực hiện hành vi phạm tội trộm cắp, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 2 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra tại Công an huyện L về hành vi cướp giật tài sản thì H khai nhận hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố P nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “người phạm tội tự thú” quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Qua đó đề nghị Hội đồng xét xử, áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm r, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Đặng Hữu Anh H từ 12 tháng tù đến 18 tháng tù. Tổng hợp với phần hình phạt 05 năm 03 tháng tù tại bản án số 123/2024/HSST ngày 01/8/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Hình phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành cho cả hai bản án là 6 năm 3 tháng cho đến 6 năm 09 tháng tù.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo không trình bày lời bào chữa cũng như không có ý kiến về lời luận tội của Viện kiểm sát đồng thời thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và đồng ý với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết. Bị cáo biết việc làm của mình là sai, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa;

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác,

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ buộc tội bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu, bị cáo thừa nhận cáo trạng truy tố là đúng, không oan. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, cũng như lời khai của bị hại và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Trong thời gian từ ngày 25/9/2023 và ngày 12/10/2023, Đặng Hữu Anh H đã hai lần hực hiện hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố P như sau:

Lần thứ nhất: Vào khoảng 22 giờ ngày 25/9/2023, tại trước số nhà I đường L, khu phố B, phường P, thành phố P, Đặng Hữu Anh H có hành vi trộm cắp xe mô tô biển số 86C1 – 808.40 trị giá giá 9.333.333 đồng của anh Nguyễn Văn H1.

Lần thứ hai: Vào khoảng 19 giờ ngày 12/10/2023, tại trước số nhà G đường T, khu phố D, phường Đ, thành phố P, Đặng Hữu Anh H có hành vi trộm cắp xe mô tô biển số 86C1 – 787.10 trị giá 14.000.000 đồng của chị Nguyễn Thị Bích L.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi hai lần lén lút chiếm đoạt tài sản cụ thể: 01 chiếc xe mô tô biển số 86C1 -808.40 trị giá 9.333.333 đồng của anh H1 và 01 chiếc xe mô tô biển số 86C1 – 787.10 có giá trị 14.000.000 đồng của chị L đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác; bị cáo là người có đầy đủ khả năng nhận thức cũng như khả năng điều khiển hành vi và thực hiện hành vi phạm tội một cách cố ý. Do đó Cáo trạng số 67/CT-VKS ngày 25/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ.

Hành vi của bị cáo không chỉ đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân nên cần phải xử phạt một mức án tù tương xứng nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo H hai lần thực hiện hành vi phạm tội trộm cắp, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 2 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra tại Công an huyện L về hành vi cướp giật tài sản thì H khai nhận hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố P nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “người phạm tội tự thú” quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu nên cần xem xét khi lượng hình.

[6] Về xử lý vật chứng: Ngày 19/01/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P đã xử lý vật chứng trả lại tài sản cho chị L. Ngày 18/01/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P đã xử lý vật chứng trả lại tài sản cho anh H1 nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Ngày 01/8/2024, H bị Toà án nhân dân thị xã Phú Mỹ xử phạt 15 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt 04 năm tù tại Bản án số 98/2024/HSST ngày 16/4/2024 của Toà án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 05 năm 03 tháng tù. Nay bị cáo H lại bị xét xử về tội: “Trộm cắp tài sản” nên cần áp dụng khoản 1 Điều 56 để tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả hai bản án.

[8] Về bồi thường dân sự: Tại phiên tòa bị hại vắng mặt nhưng tại hồ sơ thể hiện bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Đối với các đối tượng Trần Văn T1, Nguyễn A, Nguyễn Văn H2, Trương Văn D, Nguyễn Minh T2 và Nguyễn Văn H1 đi cầm thế và nhận cầm thế xe mô tô 86C1 – 808.40 giúp H nhưng T1, A, H2, D, T2 và H1 đều không biết xe mô tô nêu trên do H trộm cắp mà có, nên Cơ quan điều tra không xử lý Tài, A, H2, D, T2 và H1 về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là có căn cứ.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • * Căn cứ: khoản 1 Điều 173; điểm r, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự.
  • * Tuyên bố: Bị cáo Đặng Hữu Anh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • * Xử phạt: Bị cáo Đặng Hữu Anh H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp với phần hình phạt 05 năm 03 tháng tù tại bản án số 123/2024/HSST ngày 01/8/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Hình phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành cho cả hai bản án là 06 (sáu) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/11/2023.
  • * Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo H nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai có mặt bị cáo; báo cho biết bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (16/9/2024); bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • -VKSND tp Phan Thiết;
  • -TAND tỉnh Bình Thuận;
  • -Công an thành phố Phan Thiết;
  • -Người tham gia tố tụng;
  • -Thi hành án thành phố Phan Thiết;
  • -Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

(Đã ký)

PHAN THỊ THÁI

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 195/2024/HS-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT – TỈNH BÌNH THUẬN về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 195/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT – TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đặng Hữu Anh Hào phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger