TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 195/2024/DS-ST Ngày: 09-08-2024. V/v tranh chấp Hợp đồng tín dụng. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Đoàn Thanh Trúc
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1/ Bà Đinh Kim Hoàng
- 2/ Bà Võ Thanh Nga.
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 08 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 137/2024/DSST ngày 14 tháng 05 năm 2024 về việc tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 721/2024/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 07 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần K.
Địa chỉ: 4 P, phường V, Thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
Địa chỉ liên hệ: H L, Phường H, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: Nguyễn Chí C sinh năm 2000 “có mặt”.
(Quyết định ủy quyền số 3777/QĐ-NHKL ngày 20 tháng 9 năm 2023).
Bị đơn: Bà Đinh Ngọc Tú V, sinh năm 1992 “vắng mặt”.
Địa chỉ: A Đ, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Nguyễn Chí C trình bày: Ngày 24/01/2019, bà Đinh Ngọc Tú V ký kết với Giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K1 số 038/19/TC/1505-7095 với Ngân hàng Thương mại Cổ phần K. Căn cứ thu thập, Ngân hàng Thương mại Cổ phần K đồng ý cấp thẻ tín dụng cho bà Đinh Ngọc T Vy với các thông tin chi tiết như sau: Hạn mức cấp tín dụng: 50.000.000 đồng; mục đích vay: Tiêu dùng; lãi suất cho vay: 22%/năm; lãi suất chậm trả; 3.5%/kỳ; phí vượt hạn mức: 0.075%/ngày. Kỳ hạn trả lãi vay: hàng tháng. Tiền lãi vay được tính bằng (=) Dư nợ vay thực tế (x) lãi suất vay (%/năm) nhân (x) lãi suất vay (%/năm) Số ngày vay thực tế chia (: ) 365. Trong đó, nếu số ngày vay thực tế chưa đủ 01 ngày thì được tính đủ 01 ngày. Kỳ hạn trả nợ gốc: Thanh toán tối thiểu so với dư nợ trong kỳ là 5%. Tỷ lệ này do Ngân hàng Thương mại Cổ phần K quy định và có thể thay đổi trong từng thời kỳ. Số tiền thanh toán tối thiểu mỗi kì = 5%* (Dư nợ cuối kì – số tiền vượt mức trong kỳ - số tiền trả góp trong kỳ) + Số tiền vượt hạn mức trong ký+ số tiền trả góp trong kỳ. Dư nợ cuối kỳ = Dư nợ đầu kỳ - các khoản đã thanh toán trong kỳ + Các khoản chi tiêu trong kỳ + Phí + Lãi. Lãi suất vay: Theo quy định của Ngân hàng Thương mại Cổ phần K phù hợp với quy định của pháp luật trong từng thời kỳ và được công bố trên website https://kienlongbank.comCác loại phí theo thoả thuận tại Điều 2 và Điều 3 Phụ lục 1 Bản Chấp thuận về điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng quốc tế. Hình thức thanh toán: Lãi và gốc trả từ ngày 01 đến ngày 05 hàng tháng.
Quá trình thực hiện hợp đồng đã ký kết, bà Đinh Ngọc Tú V còn nợ Ngân hàng Thương mại Cổ phần K số tiền tạm tính đến ngày 09/08/2024 tổng cộng là 178.252.253 đồng, trong đó: nợ gốc là 40.000.000 đồng, nợ lãi là 138.252.253 đồng.
Ngân hàng Thương mại Cổ phần K đã nhiều lần đôn đốc nhắc nhở bà Đinh Ngọc Tú V thanh toán số nợ còn thiếu nhưng bị đơn vẫn cố tình né tránh. Do đó, Ngân hàng Thương mại Cổ phần K khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết các yêu cầu sau đây: Buộc bà Đinh Ngọc Tú V phải thanh toán một lần cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K số tiền tạm tính đến ngày 09/08/2024 tổng cộng là 178.252.253 đồng, trong đó: nợ gốc là 40.000.000 đồng, nợ lãi là 138.252.253 đồng. Ngoài ra, bà Đinh Ngọc Tú V còn phải có trách nhiệm tiếp tục thanh toán tiền lãi, phí phát sinh theo thỏa thuận tại Giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K1 số 038/19/TC/1505-7095 ngày 24/01/2019 từ ngày 10/08/2024 cho đến ngày thanh toán dứt nợ.
Bị đơn bà Đinh Ngọc Tú V mặc dù đã được Tòa án tống đạt giấy triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt nên không có lời khai tại tòa. Cụ thể Tòa án đã tống đạt các văn bản sau đây: Ngày 14/05/2024, Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh đã ra thông báo thụ lý số 137/TB-TLVA và đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý này cho bà Đinh Ngọc Tú V nhưng sau 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo thụ lý bà Đinh Ngọc Tú V vẫn không có ý kiến gì. Tòa án đã nhiều lần triệu tập bà Đinh Ngọc T Vy đến Tòa án để lấy lời khai, triệu tập tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà Đinh Ngọc Tú V đều vắng mặt không có lý do. Do đó trong hồ sơ vụ án không có lời trình bày của bị đơn.
Tại phiên tòa:
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Nguyễn Chí C có mặt, đồng thời xác định vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện là đề nghị bị đơn bà Đinh Ngọc Tú V phải có trách nhiệm thanh toán số tiền nợ gốc và nợ lãi tạm tính đến ngày 09/08/2024 tổng cộng là 178.252.253 đồng, trong đó: nợ gốc là 40.000.000 đồng, nợ lãi là 138.252.253 đồng. Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền. Ngoài ra, bà Đinh Ngọc Tú V còn phải có trách nhiệm tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh từ ngày 10/08/2024 cho đến khi trả xong nợ theo mức lãi suất được thỏa thuận tại hợp đồng đã ký kết. Thanh toán ngay khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Bị đơn bà Đinh Ngọc Tú V vắng mặt nên không có lời trình bày tại tòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi xét xử thì Thẩm phán đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán theo quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ việc cấp, tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự đúng theo quy định tại các Điều 170, Điều 171 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; thực hiện đúng về thời hạn đưa vụ án ra xét xử theo điểm a khoản 1 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Tòa án thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự, tiến hành theo đúng quy định tại Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự. Việc gửi hồ sơ cho Viện Kiểm sát nghiên cứu theo đúng quy định tại Điều 220; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã tuân thủ nguyên tắc xét xử về phiên tòa sơ thẩm được quy định tại Điều 222, Điều 223 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Căn cứ Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm: Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng và bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng) của Ngân hàng TMCP K với bà Đinh Ngọc Tú V thì yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở vì bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo quy định tại hợp đồng đã ký kết. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và buộc bị đơn phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về pháp luật tố tụng:
1.1. Về quan hệ tranh chấp:
Xét, Ngân hàng TMCP K khởi kiện yêu cầu bà Đinh Ngọc T Vy thanh toán số nợ còn thiếu của Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng). Như vậy, có cơ sở xác định đây là tranh chấp về Hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017.
1.2. Về thẩm quyền giải quyết:
Căn cứ kết quả xác minh của Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh tại Công an P, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh có nội dung thể hiện “Bà Đinh Ngọc Tú V, sinh năm 1992, có hộ khẩu thường trú tại A Đ, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh. Nhà bán năm 2009, không thực tế cư ngụ tại địa phương. Hiện nay đang cư ngụ tại 3 L, Phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh”.
Căn cứ kết quả xác minh của Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh tại Công an Phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh có nội dung thể hiện “Bà Đinh Ngọc Tú V, sinh năm 1992, không đăng ký tạm trú và không thực tế cư trú tại 3 L, Phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Hiện không rõ nơi cú trú.”
Xét, tại thời điểm giao kết hợp đồng tín dụng, bà Đinh Ngọc Tú V có địa chỉ nơi cư trú tại A Đ, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ Đơn tường trình của nguyên đơn thì ngân hàng TMCP K không biết địa chỉ nào khác của bà Đinh Ngọc Tú V, ngoại trừ địa chỉ được thể hiện tại hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa nguyên đơn và bị đơn. Như vậy, địa chỉ A Đ, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh được xác định là nơi cư trú cuối cùng của bà Đinh Ngọc Tú V. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn cố tình giấu địa chỉ không báo cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú, làm cho người khởi kiện không biết được nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện như quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Do đó, Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 và điểm a khoản 1 Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, có hiệu lực thi hành ngày 01/7/2016.
1.3. Thủ tục mở phiên tòa vắng mặt đương sự:
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện được việc tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà Đinh Ngọc Tú V tại địa chỉ nơi cư trú nhưng bà Đinh Ngọc Tú V không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án và cũng không nộp bất cứ tài liệu chứng cứ nào liên quan đến vụ án. Ngày 08/07/2024, Tòa án đã thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng hợp lệ như Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 676/2024/QĐXXST-DS và Giấy triệu tập tham gia phiên tòa vào ngày 22/7/2024 đối với bà Đinh Ngọc Tú V nhưng bị đơn vắng mặt không rõ lý do. Do đó, Tòa án không thể tiến hành xét xử vụ án được. Tại phiên tòa hôm nay: Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Nguyễn Chí C có mặt, bị đơn bà Đinh Ngọc Tú V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai có mặt tại phiên tòa vào ngày 09/08/2024 mà vẫn vắng mặt không rõ lý do. Vì vậy, Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành xét xử vắng mặt bà Đinh Ngọc Tú V là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, có hiệu lực thi hành ngày 01/7/2016.
[2]. Về pháp luật nội dung:
2.1. Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP K về việc buộc bà Đinh Ngọc Tú V phải có trách nhiệm thanh toán số tiền nợ gốc của Giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K1 số 038/19/TC/1505-7095 ngày 24/01/2019 với số tiền là 173.767.321 đồng.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án phù hợp với lời khai của nguyên đơn Ngân hàng TMCP K thì có cơ sở khẳng định: Ngày 24/01/2019, bà Đinh Ngọc Tú V ký Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng) với Ngân hàng TMCP K. Căn cứ vào thu nhập của bà Đinh Ngọc Tú V, Ngân hàng TMCP K đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 50.000.000 đồng nhằm mục đích tiêu dùng cá nhân. Quá trình thực hiện hợp đồng đã ký kết, bà Đinh Ngọc Tú V còn nợ Ngân hàng Thương mại Cổ phần K số tiền nợ gốc là 40.000.000 đồng. Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
2.2. Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP K về việc buộc bà Đinh Ngọc Tú V phải có trách nhiệm thanh toán số tiền nợ lãi của Giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K1 số 038/19/TC/1505-7095 ngày 24/01/2019 tạm tính đến ngày 09/08/2024 với số tiền là 138.252.253 đồng:
Xét, đây là tranh chấp giữa cá nhân với tổ chức tín dụng nên Tòa án áp dụng lãi suất do các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng để giải quyết. Căn cứ vào sự thỏa thuận của hai bên đương sự được ghi nhận tại Giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K1 số 038/19/TC/1505-7095 được ký kết ngày 24/01/2019 thì bà Đinh Ngọc T V còn phải thanh toán cho ngân hàng số tiền nợ lãi tạm tính đến ngày 09/08/2024 là 138.252.253 đồng. Ngoài ra, bà Đinh Ngọc Tú V còn phải có trách nhiệm tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh từ ngày 10/08/2024 cho đến khi trả xong nợ theo mức lãi suất được thỏa thuận tại hợp đồng đã ký kết. Như vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
2.3. Về thời hạn thanh toán:
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở khẳng định: Bà Đinh Ngọc Tú V đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán của hợp đồng tín dụng và nguyên đơn cũng đã nhắc nhở nhiều lần nhưng bị đơn vẫn cố tình tránh né thực hiện nghĩa vụ trả nợ là vi phạm nghĩa vụ thanh toán.
Tại Điều 280 Bộ luật dân sự năm 2015, có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2017 quy định về thực hiện nghĩa vụ trả tiền như sau: “Nghĩa vụ trả tiền phải được thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm và phương thức đã thỏa thuận”. Xét thấy, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở khẳng định mặc dù đã được nguyên đơn Ngân hàng TMCP K, nhắc nhở nhiều lần nhưng bị đơn bà Đinh Ngọc Tú V vẫn cố tình né tránh thực hiện nghĩa vụ trả nợ là vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Vì vậy, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán số nợ còn thiếu ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh là có căn cứ.
[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch trên số tiền phải thanh toán cho nguyên đơn; Hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Luật phí và lệ phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 21, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm a khoản 1 Điều 40, Điều 147, Điều 203, Điều 220, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự có hiệu lực thi hành ngày 01/7/2016;
- Căn cứ vào Điều 280, Điều 357, Điều 429, Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2017;
- Căn cứ vào Luật các Tổ chức tín dụng có hiệu thi hành ngày 01/01/2011;
- Căn cứ vào Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
- Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Buộc bà Đinh Ngọc Tú V có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng TMCP K số tiền nợ tạm tính đến 09/08/2024 của Giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K1 số 038/19/TC/1505-7095 ngày 24/01/2019 tổng cộng là 178.252.253 đồng, trong đó: nợ gốc là 40.000.000 đồng, nợ lãi là 138.252.253 đồng.
Thanh toán ngay khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày 10/08/2024 cho đến khi thi hành xong các khoản tiền nêu trên, hàng tháng bà Đinh Ngọc Tú V phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất nợ quá hạn do hai bên thỏa thuận tại Giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K1 số 038/19/TC/1505-7095 ngày 24/01/2019 tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Bà Đinh Ngọc Tú V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 8.912.613 đồng (tám triệu chín trăm mười hai nghìn sáu trăm mười ba đồng).
- H lại số tiền tạm ứng án phí là 3.862.000 đồng (ba triệu tám trăm sáu mươi hai nghìn đồng) cho Ngân hàng TMCP K đã nộp theo biên lai số 0034329 ngày 03/05/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Về quyền kháng cáo của các đương sự:
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đỗ Đoàn Thanh Trúc |
Bản án số 195/2024/DS-ST ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 195/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng giữa Nguyên đơn là Ngân hàng KL và Bị đơn là Đinh N T
