|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 195/2024/DS-ST Ngày 17-8-2024 V/v tranh chấp Hợp đồng tín dụng |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thúy;
Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Cờ;
Ông Bùi Long Hòa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Nga- Thư ký Tòa án nhân dân quận Đống Đa, TP Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa tham gia phiên tòa:
Bà Phạm Hà Thanh- Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 171/2024/TLST-DS ngày 15 tháng 5 năm 2024 về Tranh chấp Hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 164/2024/QĐXX-ST ngày 03/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 161 ngày 24/7/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S; Địa chỉ trụ sở chính: Số B đường N, phường V, Quận C, thành phố Hồ Chí Minh; Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D- Tổng Giám đốc; Đại diện theo ủy quyền: Ông Phan A (Giấy ủy quyền số 52112 ngày 17/7/2024).
Bị đơn: Bà Dương Thị N, sinh năm 1993; ĐKNKTT: Số D, ngõ V, phường H, quận Đ, Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 12/4/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện nguyên đơn Ngân hàng TMCP S (sau đây gọi tắt là S1) trình bày:
Ngày 10/8/2017, bà N có ký với S1 Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản, Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng- các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của bà N, S1 đã đồng ý cấp thẻ tín dụng số thẻ 486265-0510 với hạn mức sử dụng là 20.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, bà N đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 32.580.131 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay bà N đã thanh toán cho S1 số tiền 39.425.000 đồng (Thứ tự thanh toán áp dụng theo Điều 20 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, kể từ ngày chuyển nợ quá hạn sẽ thanh toán theo thứ tự gốc trước, lãi sau). Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà N vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà N vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của S1), ngày 01/10/2019 S1 đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của S1). Lãi suất quá hạn: (2,6%x150%)= 3,9%/tháng.
Tính đến ngày 03/7/2024, bà N còn nợ cụ thể các khoản sau:
- - Nợ gốc: 2.518.108 đồng.
- - Lãi quá hạn: 8.751.712 đồng.
- - Tổng dư nợ: 11.269.820 đồng.
S1 đã yêu cầu bà N có trách nhiệm thanh toán nhưng bà N vẫn chưa thanh toán các khoản nợ vay quá hạn cho S1, vi phạm các điều khoản quy định tại Hợp đồng đã ký.
Do đó để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của S1, S1 đề nghị Tòa án giải quyết những nội dung sau:
- - Buộc bà Dương Thị N phải trả ngay cho S1 tổng số tiền tạm tính đến ngày 03/7/2024 là 11.269.820 đồng.
- - Bà Dương Thị N có trách nhiệm thanh toán lãi phát sinh sau ngày 03/7/2024 cho đến khi trả xong nợ gốc theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Bị đơn bà Dương Thị N hiện không còn sinh sống tại nơi đăng ký nhân khẩu thường trú, không rõ ở đâu, Tòa án đã tống đạt niêm yết các văn bản tố tụng cho bà N theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa:
* Đại diện nguyên đơn trình bày:
Đề nghị Tòa án giải quyết buộc bà Dương Thị N phải thanh toán trả cho S1 tổng số tiền tạm tính đến ngày 17/8/2024 là 11.417.150 đồng, cụ thể như sau: Nợ gốc 2.518.108 đồng, lãi quá hạn 8.899.042 đồng.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án tại phiên tòa: HĐXX đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật TTDS về phiên tòa sơ thẩm.
Các quy định về phiên tòa, thủ tục bắt đầu phiên tòa, tranh tụng đều được HĐXX thực hiện theo đúng quy định tại Chương 14 BLTTDS.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 71, 234 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S1 về việc buộc bà Dương Thị N phải thanh toán số tiền còn nợ và tính lãi theo quy định của pháp luật. Bà Dương Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp cùng các tài liệu Tòa án xác minh thu thập được xác định đây là vụ án dân sự tranh chấp Hợp đồng tín dụng. Bị đơn bà Dương Thị N đăng ký nhân khẩu thường trú tại số D, ngõ V, phường H, quận Đ, Hà Nội. Vì vậy, Tòa án nhân dân quận Đống Đa thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền được quy định tại điều 26, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Bà Dương Thị N đã được Tòa án tống đạt niêm yết hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt bị đơn bà Dương Thị N.
[2] Về nội dung:
* Xét yêu cầu của Ngân hàng S1 yêu cầu bà Dương Thị N phải thanh toán số tiền nợ gốc là 2.518.108 đồng, Hội đồng xét xử thấy:
Bà Dương Thị N đăng ký sử dụng thẻ tín dụng với Ngân hàng S1- Chi nhánh T- Phòng G với tổng hạn mức cấp tín dụng là 20.000.000 đồng, lãi suất là 2,15%/tháng theo Thông báo số 113/TB/TTT ngày 04/7/2011.
Hội đồng xét xử nhận định Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng nói trên được các bên ký kết trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với các quy định của Luật các tổ chức tín dụng và các quy định về cho vay tài sản của Bộ luật Dân sự. Do đó xác định đây là hợp đồng hợp pháp và có hiệu lực thi hành đối với các bên.
Quá trình thực hiện Hợp đồng, bà N đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 32.580.131 đồng, bà N đã thanh toán số tiền 39.425.000 đồng (cả gốc và lãi), còn nợ số tiền gốc là 2.518.108 đồng. Do vậy việc Ngân hàng S1 khởi kiện yêu cầu bà Dương Thị N phải thanh toán số tiền nợ gốc còn lại là 2.518.108 đồng là có căn cứ, được chấp nhận.
* Xét yêu cầu của Ngân hàng S1 yêu cầu bà Dương Thị N phải thanh toán số tiền lãi quá hạn 8.899.042 đồng, Hội đồng xét xử thấy:
Qua xem xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và căn cứ vào Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng, Hội đồng xét xử xét thấy:
Thời điểm đề nghị cấp và sử dụng thẻ tín dụng là ngày 10/8/2017, căn cứ khoản 2 điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động Ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Việc thỏa thuận về lãi suất cho vay là phù hợp quy định của pháp luật và được bên vay chấp nhận.
Theo quy định tại Điều 23 bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng S1 quy định: Việc không thanh toán ít nhất số tiền tối thiểu của chủ thẻ cho đến kỳ phát hành Thông báo tiếp theo sẽ tạo nên sự vi phạm theo Hợp đồng, chủ thẻ sẽ bị áp dụng lãi suất nợ quá hạn là 150% lãi suất được công bố áp dụng tại thời điểm hiện tại, phù hợp với Điều 22 đối với toàn bộ dư nợ theo quy định của đơn vị phát hành thẻ. Ngày 01/10/2019 dư nợ của bà Dương Thị N đã chuyển sang nợ quá hạn. Theo Quyết định số 2399/2019/QĐ-TTT ngày 06/8/2019 lãi suất quá hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn là: (2,6%x150%)= 3,9%/tháng.
Tính đến ngày 17/8/2024, khách hàng còn nợ số tiền lãi quá hạn là 8.899.042 đồng theo Bảng tóm tắt sao kê Dương Thị N do Ngân hàng S1 cung cấp là phù hợp quy định của pháp luật nên chấp nhận.
Do vậy, buộc bà Dương Thị N phải thanh toán cho Ngân hàng S1 số tiền nợ gốc là 2.518.108 đồng, số tiền lãi quá hạn 8.899.042 đồng. Tổng cộng 11.417.150 đồng.
Về án phí: Do nguyên đơn Ngân hàng S1 được chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên được hoàn trả tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Bị đơn bà Dương Thị N phải chịu án phí đối với số tiền phải trả cho nguyên đơn theo quy định tại khoản 2 điều 26 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 quy định về mức nộp án phí Tòa án là 570.858 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 302, khoản 2 Điều 305, Điều 471, Điều 474 Bộ luật Dân sự năm 2005;
- Căn cứ khoản 2 Điều 91, khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
- Căn cứ Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144; Điều 147; Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 7, khoản 1 Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật lãi, lãi suất và phạt vi phạm.
- Căn cứ khoản 2 điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S đối với bà Dương Thị N.
2. Buộc bà Dương Thị N phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng TMCP S theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 10/8/2017 và bản Điều khoản, Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S; với tổng số tiền phải thanh toán tính đến ngày 17/8/2024 là 11.417.150 đồng, bao gồm: nợ gốc 2.518.108 đồng, lãi quá hạn 8.899.042 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất thỏa thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 10/8/2017 và bản Điều khoản, Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận việc thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Dương Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 570.858 đồng. Ngân hàng TMCP S được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo Giấy thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 1216414 ngày 10/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Đống Đa, Hà Nội.
4. Về quyền kháng cáo: Ngân hàng TMCP S có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Dương Thị N có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Phương Thúy |
Bản án số 195/2024/DS-ST ngày 17/08/2024 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 195/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Án
