TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 195/2024/DS-PT
Ngày: 16-4-2024
“V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu
cầu công nhận quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh.
Các Thẩm phán: Bà Trịnh Thị Phúc.
Bà Phùng Thị Cẩm Hồng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Võ Quang Huy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa:
Bà Đặng Thị Cẩm Chi - Kiểm sát viên.
Vào các ngày 11, 16 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An mở phiên tòa để xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 26/2024/TLPT-DS ngày 15 tháng 01 năm 2024 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 111/2023/DS-ST ngày 08 tháng 11 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 77/2024/QĐ-PT ngày 15 tháng 02 năm 2024, giữa:
- Nguyên đơn: Bà Lại Thị Ngọc Y, sinh năm 1967.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Tấn V, sinh năm 1985.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1967. Địa chỉ: C Ấp A, xã A, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà Nguyễn Thị Mỹ L, sinh năm 1976. Địa chỉ: Ấp F, xã T, huyện B, tỉnh Long An.
- Cụ Phạm Thị C, sinh năm 1944. Địa chỉ: Ấp B, xã T, B, Long An.
- Ông Huỳnh Văn N, sinh năm 1954. Địa chỉ: Ấp B, xã T, B, Long An.
- Ông Nguyễn Phát Đ, sinh năm 1983. Địa chỉ: Ấp B, xã T, B, Long An.
- Ông Nguyễn Tấn L1, sinh năm 1978. Địa chỉ: Ấp B, xã T, B, Long An.
- Ông Lâm Văn T1, sinh năm 1977. Địa chỉ: Ấp F, xã T, huyện B, tỉnh Long An.
- Bà Phạm Thị H, sinh năm 1969. Địa chỉ: Ấp B, xã T, B, Long An.
- Bà Bùi Thị T2, sinh năm 1985. Địa chỉ: Ấp B, xã T, B, Long An.
- Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Long An.
- Người làm chứng:
- Ông Lâm Văn Mười B, sinh năm 1951. Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện B, tỉnh Long An.
- Ông Võ Văn G, sinh năm 1943. Địa chỉ: Ấp F, xã T, huyện B, tỉnh Long An.
Địa chỉ: A, Khu phố A, thị trấn T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1967. Địa chỉ: Số C Ấp A, xã A, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (văn bản ủy quyền ngày 20/7/2020).
Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện B, tỉnh Long An.
- Người kháng cáo: Bà Lại Thị Ngọc Y.
(Ông T, ông V, ông N có mặt;
Các đương sự còn lại có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Ông Nguyễn Văn T tham gia tố tụng với tư cách người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Lại Thị Ngọc Y và đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
Bà Lại Thị Ngọc Y là con ruột bà Huỳnh Thị T3.
Thửa đất số 379, tờ bản đồ số 2 hiện nay chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thửa đất số 417, tờ bản đồ số 2 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp cho bà Lại Thị Ngọc Y theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CE 835794, số vào sổ cấp GCN: CS 01718 ngày 06/12/2016.
Thửa 379 có nguồn gốc một phần là của ông Huỳnh Văn N (Khu D, Khu E, mảnh trích đo số 01-2021), vào năm 1985, cụ T3 mua và dùng để chất cỏ. Phần còn lại của thửa 379 là do cụ Huỳnh Thị T3 mua từ cụ C1 là bà nội của ông V (Khu G, F mảnh trích đo số 01-2021). Cụ Huỳnh Thị T3 chết năm 2002, bà Lại Thị Ngọc Y là người thừa kế duy nhất thuộc hàng thừa kế thứ nhất. Năm 2010, bà Y cho cụ Nguyễn Văn S (cha ruột của Nguyễn Tấn V) trồng xả, sau khi cụ S chết thì tiếp tục cho ông Vũ t xả để sạch cỏ, không lấy tiền trên toàn bộ thửa đất 379 nêu trên và một phần thửa 417, tờ bản đồ số 2 (Khu B, C mảnh trích đo số 01-2021).
Thửa đất số 417 do cụ Huỳnh Thị T3 mua từ cụ C1. Trước đây thửa đất này không giáp đường, cách một phần đất cụ C1 dùng để chất lá nhưng sau này phần đất để chất lá này đã sử dụng để mở rộng đường hết. Năm 2006, bà Y đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 417 nhưng không biết phần đất thuộc Khu D, E, G, F mảnh trích đo số 01-2021 trên giấy tờ vẫn thuộc thửa 379. Năm 2016, bà Y phát hiện và đi đăng ký nhưng không được do có tranh chấp với ông Nguyễn Tấn V.
Quá trình tranh chấp, ông V có sự gian dối khi làm thủ tục đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, phô tô giả giấy tờ, giả mạo chữ ký của ông T và ông Nguyễn Văn P, bà Lại Thị Ngọc Y để ký vào biên bản ký giáp ranh và không đồng ý trả lại phần đất trên cho bà Y.
Nay bà Y khởi kiện ông V yêu cầu trả lại diện tích đất thuộc thửa đất 379 và một phần diện tích đất thuộc thửa 417, cùng tờ bản đồ số 2, tại các khu: B, C, D, E, G, F trên mảnh trích đo địa chính số 01/2021 do Công ty TNHH Đ1 thực hiện, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện B duyệt ngày 04/3/2021.
Bị đơn ông Nguyễn Tấn V trình bày:
Nguồn gốc thửa đất 379 là của cụ Nguyễn Văn B1 (ông nội của ông V) khai hoang từ năm 1970, cho cụ Nguyễn Văn S (cha của ông V) canh tác đến năm 2010, trước trồng lá, sau trồng mía. Đến năm 2010 cho bà Nguyễn Thị Mỹ L là chị ruột của ông V canh tác. Cụ S chết năm 2010, khi còn sống vào năm 2008, cụ S có nói để lại cho ông V toàn bộ thửa 379, tờ bản đồ số 2, tọa lạc tại xã T, huyện B, tỉnh Long An. Vào năm 2016, các đồng thừa kế của cụ S gồm Phạm Thị C, Nguyễn Thị Mỹ L, Phạm Thị H, Nguyễn Tấn L1, Nguyễn Phát Đ, Nguyễn Tấn V thỏa việc phân chia di sản thừa kế đối với thửa 379 là để cho ông V. Tuy nhiên do lúc đó thửa đất này không có bản vẽ và không có giấy tờ nên không làm thủ tục phân chia được. Trước đây do thửa đất này trồng lá, tiền nộp thuế cao nên cụ S không đưa thửa đất này vào kê khai đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Cụ S không thuê đất hay mượn đất của bà Y.
Năm 2017, ông V đến Ủy ban nhân dân xã T kê khai đăng ký, sau đó Phòng T4 tiến hành đo vẽ. Khoảng thời gian này nhà nước có chính sách cấp đổi lại bằng khoán, đến năm 2018, ông V tiếp tục kê khai đăng ký nhưng do tranh chấp với ông T, bà Y nên đến nay được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ông V có đơn phản tố yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất 379 tờ bản đồ số 2, tọa lạc tại xã T, huyện B, tỉnh Long An cho ông V, cụ thể gồm các Khu E, D, F, G theo Mảnh trích đo địa chính số 01/2021 do Công ty TNHH Đ1 thực hiện, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện B duyệt ngày 04/3/2021. Phần Khu B, Khu C không thuộc thửa 379, ông thống nhất theo ranh bản đồ địa chính, tự nguyện trả lại cho bà Y, không tranh chấp.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Văn N trình bày:
Vào khoảng năm 1985, ông N có bán cho cụ Huỳnh Thị T3 diện tích khoảng 60 m² có bề ngang khoảng 3m, bề dài không nhớ thuộc một phần khu D, E của mảnh trích đo. Sau khi ông N bán cho cụ T3, cụ T3 sử dụng để chất cỏ. Ông N xác định phần đất ông N bán cho cụ T3 không giáp đường.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị C, Nguyễn Thị Mỹ L, Phạm Thị H, Nguyễn Tấn L1, Nguyễn Phát Đ thống nhất trình bày:
Cụ S chết năm 2010, các ông bà đều thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ S. Thửa 379, tờ bản đồ số 2 có nguồn gốc là của cụ ông Nguyễn Văn B1 để con ruột là cụ Nguyễn Văn S. Năm 2010 cụ S chết, trước khi chết cụ S có để lại di ngôn, cho toàn bộ thửa đất này cho ông Nguyễn Tấn V. Tuy nhiên thời điểm này cụ S chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên tại văn bản phân chia di sản thừa kế của gia đình không đề cập đến thửa đất này. Do ông V không làm ruộng nên có cho bà L là chị gái ruột canh tác trên đất này. Nay các đồng thừa kế đều thống nhất thửa đất trên là của ông V, không tranh chấp gì trong vụ án.
Ủy ban nhân dân huyện B có văn bản thể hiện ý kiến:
Thửa 379, tờ bản đồ số 2 đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu cho cá nhân, Ủy ban yêu cầu vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án.
Những người làm chứng ông Lâm Văn Mười B và ông Võ Văn G thống nhất trình bày:
Thửa 379, tờ bản đồ số 2 có nguồn gốc là do cụ Nguyễn Văn B1 khai hoang sau đó cụ S canh tác đến khi chết thì ông V và gia đình canh tác trồng xả cho đến nay. Nguồn gốc 02 thửa đất 379 và 417 đều của ông bà nội của ông V là cụ Nguyễn Văn B1 và cụ Nguyễn Thị A. Khi còn sống, cụ A đã cho đã cho bà Huỳnh Thị T3 thửa đất số 417, riêng phần đất giáp đường thuộc thửa 379 thì không cho.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 111/2023/DS-ST ngày 08 tháng 11 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An đã căn cứ khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 147, các Điều 157, 158, 165, 166, 200, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 688, 199 Bộ luật Dân sự 2015; Các Điều 5, 166, 203 Luật Đất đai; Các Điều 9, 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lại Thị Ngọc Y về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” đối với bị đơn ông Nguyễn Tấn V.
- Ông Nguyễn Tấn V có trách nhiệm trả lại cho bà Lại Thị Ngọc Y phần đất theo ký hiệu tại khu (B), diện tích đo đạc thực tế là 147,9 m², Khu (C), diện tích đo đạc thực tế là 11.8 m² thuộc một phần thửa đất số 417, tờ bản đồ số 2 (một phần thửa 35, tờ bản đồ số 20 mới), loại đất LUC, tọa lạc tại xã T, huyện B, tỉnh Long An. Thửa đất này do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh L cấp cho bà Lại Thị Ngọc Y theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CE 835794, số vào sổ cấp GCN: CS 01718 ngày 06/12/2016.
- Buộc ông Nguyễn Tấn V có trách nhiệm hoàn trả cho bà Lại Thị Ngọc Y số tiền là 30.660.000 đồng (Ba mươi triệu sáu trăm sáu mươi nghìn đồng) (là phần giá trị diện tích 37.3 m² thuộc một phần thửa 379, tờ bản đồ số 2).
- Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn ông Nguyễn Tấn V về việc “Yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất” với nguyên đơn bà Lại Thị Ngọc Y.
- Chi phí tố tụng (chi phí xác minh, xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá) là 20.000.000 đồng:
- Bà Lại Thị Ngọc Y phải chịu 10.000.000 đồng (mười triệu đồng). Bà Y đã nộp xong.
- Ông Nguyễn Tấn V phải trả cho bà Lại Thị Ngọc Y số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).
- Về án phí sơ thẩm:
- Bà Lại Thị Ngọc Y phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Khấu trừ tạm ứng án phí mà bà Y đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu số 0002359 ngày 02/10/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Lức.
- Ông Nguyễn Tấn V phải chịu 1.833.000 đồng (một triệu tám trăm ba mươi ba nghìn đồng). Khấu trừ tạm ứng án phí mà ông V đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu số 0011899 ngày 24/6/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Lức. Ông V phải nộp tiếp 1.533.000đ (một triệu năm trăm ba mươi ba nghìn đồng).
Ông Nguyễn Tấn V được quyền tiếp tục quản lý, sử dụng phần đất theo ký hiệu tại khu (D) diện tích đo đạc thực tế là 36.2 m², khu (E) diện tích đo đạc thực tế là 79.2 m², khu (F) diện tích đo đạc thực tế là 309 m², khu (G) diện tích đo đạc thực tế là 18.1 m², loại đất BHK thuộc thửa đất số 379, tờ bản đồ số 2 (thửa 28, tờ bản đồ số 20 mới) tọa lạc tại xã T, huyện B, tỉnh Long An. Thửa đất này hiện chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu.
(Vị trí, tứ cận, loại đất, chiều dài và chiều rộng các phần đất nêu trên được thể hiện theo Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 01/2021 do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai tại huyện B duyệt ngày 04/03/2021, được đính kèm bản án sơ thẩm).
Các đương sự có trách nhiệm liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để hoàn tất thủ tục kê khai, đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; điều chỉnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp đối với phần đất thuộc quyền sử dụng của mình theo quy định của Luật đất đai.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ của các đương sự trong giai đoạn thi hành án.
Ngày 21/11/2023, bà Lại Thị Ngọc Y kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu ông V trả lại diện tích đất thuộc thửa đất 379 và một phần diện tích đất thuộc thửa 417, cùng tờ bản đồ số 2, tại các khu: B, C, D, E, G, F theo Mảnh trích đo địa chính số 01/2021 do Công ty TNHH Đ1 thực hiện, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện B duyệt ngày 04/3/2021. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông V yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất 379 tờ bản đồ số 2, tọa lạc tại xã T, huyện B, tỉnh Long An cho ông V, cụ thể gồm các Khu E, D, F, G trên mảnh trích đi địa chính số 01/2021 do Công ty TNHH Đ1 thực hiện, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện B duyệt ngày 04/3/2021.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, người kháng cáo không rút yêu cầu kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, không cung cấp, nộp thêm tài liệu, chứng cứ mới và vẫn giữ nguyên ý kiến như đã trình bày ở cấp sơ thẩm.
Ông Nguyễn Văn T là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Lại Thị Ngọc Y trình bày: Ông xác định lại yêu cầu kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết buộc ông V trả lại diện tích đất thuộc các khu: D, E, G, F theo Mảnh trích đo địa chính số 01/2021 do Công ty TNHH Đ1 thực hiện, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện B duyệt ngày 04/3/2021. Ông xác định các khu đất này là của mẹ ruột bà Y là bà Huỳnh Thị T3 mua của ông Huỳnh Văn N, sau khi bà T3 chết thì năm 2010 bà Y cho ông Nguyễn Văn S là cha ruột ông Nguyễn Tấn V sử dụng để trồng xả. Ông đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bà Lại Thị Ngọc Y, sửa bản án dân sự sơ thẩm.
Ông Nguyễn Tấn V trình bày: Các phần đất bà Y tranh chấp thuộc thửa đất 379 có nguồn gốc là của cụ Nguyễn Văn B1 khai hoang từ năm 1970, cho cụ Nguyễn Văn S (cha của ông V) canh tác đến năm 2010. Sau khi cụ S chết năm 2010, các hàng thừa kế thỏa thuận việc phân chia di sản thừa kế đối với thửa 379 là để cho ông V, năm 2017 ông V đi kê khai đăng ký quyền sử dụng đất thì phát sinh tranh chấp với ông T. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Văn N trình bày: Vào khoảng năm 1985, ông N có bán cho cụ Huỳnh Thị T3 diện tích khoảng 50 m² thuộc một phần khu D, E của mảnh trích đo. Ông N xác định phần đất ông N bán cho cụ T3 không giáp đường.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của bà Lại Thị Ngọc Y đúng quy định của pháp luật nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Từ khi thụ lý cho đến khi đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật.
Qua xem xét hồ sơ vụ án và yêu cầu kháng cáo của Lại Thị Ngọc Y, nhận thấy:
Bà Lại Thị Ngọc Y kháng cáo yêu cầu ông Nguyễn Tấn V trả bà Y phần đất ký hiệu tại khu (D) diện tích thực tế là 36.2 m², khu (E) diện tích thực tế là 79.2 m², khu (F) diện tích thực tế là 309 m², khu (G) diện tích thực tế là 18.1 m², loại đất BHK thuộc thửa đất số 379; không đồng ý công nhận khu D, E, F, G cho V. Xét thấy:
Thửa đất 417 giáp thửa đất 379. Thửa 417 được cấp cho bà Y. Thửa 379 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu cho cá nhân, tổ chức nào. Nguyên đơn cho rằng thửa 379 do cụ Huỳnh Thị T3 để lại (do mua từ ông Huỳnh Văn N khoảng 50m², phần còn lại mua của cụ C1 là bà nội của ông V). Ông N xác ông có chuyển nhượng cho bà T3 khoảng 50m² đất. Bị đơn cho rằng đất do cụ Huỳnh Văn B2 khai hoang, cụ Nguyễn Văn S, ông Nguyễn Tấn V canh tác ổn định từ trước đến nay. Căn cứ Sổ mục kê do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện B cung cấp thì ông Huỳnh Văn N là người đứng tên trong sổ mục kê tại thửa đất số 28, TBĐ số 20 (thửa cũ là 379) với diện tích là 37,3 m². Như vậy, ông N chỉ đứng tên trong Sổ mục kê đối với một phần diện tích đất thuộc thửa 379. Phần diện tích còn lại của thửa 379 trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn không đưa ra được chứng cứ xác định đất là của cụ T3 mua của cụ C1. Căn cứ lời trình bày của những người cao tuổi đã từng canh tác tại địa phương (ông Lâm Văn Mười B, ông Võ Văn G) phần đất này có nguồn gốc là của ông Nguyễn Văn B1 là ông nội của ông V khai hoang, sau đó để lại cho ông S, ông V canh tác và bà nội ông V không có cho cụ T3 phần đất tranh chấp này. Mặt khác, căn cứ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AÐ 133662 do Ủy ban nhân dân huyện B cấp lần đầu vào ngày 07/02/2006 đối với thửa 417 cho bà Lại Thị Ngọc Y thể hiện cụ T3 nhận chuyển nhượng không giáp với đường. Ông T cũng thừa nhận thời điểm chuyển nhượng đất từ bà nội ông V, phần đất không giáp đường. Kết quả đo đạc thực tế thể hiện thửa giáp đường là thửa 379, không phải thửa 417. Do đó, có cơ sở xác định một phần thửa 379 có diện tích 37.3 m² có nguồn gốc của ông N (một phần khu D, E) và ông N đã chuyển nhượng phần đất này cho bà T3 (phía bên nguyên đơn), phần còn lại do cụ Nguyễn Văn B1 khai hoang (phía bên bị đơn) và không có chuyển nhượng cho bà T3.
Bà Y cho rằng đất của bà Y không canh tác nên năm 2010 cho gia đình ông V thuê để trồng sả cho sạch cỏ nhưng bà không cung cấp được chứng cứ chứng minh về việc thuê đất và cũng không được ông V thừa nhận. Căn cứ Công văn số 595/UBND-ĐC của Ủy ban nhân dân xã T đã xác định người canh tác từ năm 2011 đến nay là anh rể của ông V. Như vậy, thửa 379 là do gia đình ông V canh tác từ trước đến nay.
Bản án sơ thẩm tuyên ông V được quyền quản lý sử dụng khu D, E, F, G và ông V có nghĩa vụ thanh toán giá trị 37,3m² đất cho bà Y (phần đất ông N đã bán cho gia đình bên bà Y) là có căn cứ.
Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Không chấp nhận kháng cáo của bà Lại Thị Ngọc Y. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- [1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Lại Thị Ngọc Y thực hiện đúng về hình thức, nội dung và thời hạn theo quy định tại các Điều 272, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên vụ án được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
- [2] Về thủ tục xét xử vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị C, bà Nguyễn Thị Mỹ L, bà Phạm Thị H, ông Nguyễn Tấn L1, ông Nguyễn Phát Đ, bà Bùi Thị T2, ông Lâm Văn T1, Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Long An đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt những người này.
- [3] Về phạm vi xét xử phúc thẩm:
Theo đơn khởi kiện bà Lại Thị Ngọc Y yêu cầu ông V trả lại diện tích đất thuộc thửa đất 379 và một phần diện tích đất thuộc thửa 417, cùng tờ bản đồ số 2, tại các khu: B, C, D, E, G, F theo Mảnh trích đo địa chính số 01/2021 do Công ty TNHH Đ1 thực hiện, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện B duyệt ngày 04/3/2021.
Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lại Thị Ngọc Y đối với khu (B) diện tích đo đạc thực tế là 147,9 m² và khu (C) diện tích đo đạc thực tế là 11.8 m² thuộc một phần thửa đất số 417. Sau khi xét xử sơ thẩm bà Y kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà, buộc ông V phải trả các vị trí khu (D) diện tích thực tế là 36.2 m², khu (E) diện tích thực tế là 79.2 m², khu (F) diện tích thực tế là 309 m², khu (G) diện tích thực tế là 18.1 m², loại đất BHK thuộc thửa đất số 379; không đồng ý công nhận khu D, E, F, G cho V. Căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại phần của bản án sơ thẩm có kháng cáo, liên quan đến nội dung kháng cáo của đương sự.
- [3] Xét kháng cáo của bà Lại Thị Ngọc Y, thấy rằng:
- [3.1] Vị trí các phần đất tranh chấp theo Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 01/2021 do Công ty TNHH Đ2 vẽ được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện B duyệt ngày 04/3/2021 gồm các vị trí khu (D) diện tích thực tế là 36.2 m², khu (E) diện tích thực tế là 79.2 m², khu (F) diện tích thực tế là 309 m², khu (G) diện tích thực tế là 18.1 m², loại đất BHK thuộc thửa đất số 379, tờ bản đồ số 2 tọa lạc tại xã T, huyện B, tỉnh Long An.
- [3.2] Về quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
Thửa đất số 379 nằm liền kề với thửa đất số 417, tờ bản đồ số 2, diện tích 5.260 m² của bà Lại Thị Ngọc Y.
Thửa đất 379 từ trước đến nay chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu cho cá nhân, tổ chức nào. Thửa 417 hiện do bà Lại Thị Ngọc Y đứng tên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CE 835794, số vào sổ cấp GCN cs 01718 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp vào ngày 06/12/2016.
- [3.3] Về nguồn gốc thửa đất thửa 379:
- [3.3.1] Các đương sự trình bày không thống nhất: Nguyên đơn cho rằng thửa đất 379 do cụ Huỳnh Thị T3 để lại (một phần do khai hoang, một phần do mua từ ông Huỳnh Văn N), sau đó bà Y cho ông S sử dụng. Bị đơn cho rằng thửa đất 379 do cụ Huỳnh Văn B2 khai hoang, cụ Nguyễn Văn S, ông Nguyễn Tấn V canh tác ổn định từ trước đến nay. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông N xác ông có chuyển nhượng cho bà T3 phần đất có diện tích khoảng 50m², do thời điểm đó ông N chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên ông N có thỏa thuận miệng với bà T3 tự làm thủ tục kê khai đăng ký.
- [3.3.2] Căn cứ Sổ mục kê do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện B cung cấp kèm theo Công văn số 1516/CN.VPĐKĐĐ ngày 30/6/2021, ông Huỳnh Văn N là người đứng tên trong sổ mục kê tại thửa đất số 28, TBĐ số 20 (thửa cũ là 379) với diện tích là 37.3 m². Như vậy, ông N chỉ đứng tên trong Sổ mục kê đối với một phần diện tích đất thuộc thửa 379. Phần diện tích còn lại của thửa 379 trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn không đưa ra được chứng cứ xác định phần đất tranh chấp là của cụ Huỳnh Thị T3.
Căn cứ lời trình bày của những người cao tuổi đã từng canh tác tại địa phương (ông Lâm Văn Mười B, ông Võ Văn G) phần đất này có nguồn gốc là của ông Nguyễn Văn B1 là ông nội của ông V khai hoang. Mặt khác, căn cứ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AÐ 133662 do Ủy ban nhân dân huyện B cấp lần đầu vào ngày 07/02/2006 đối với thửa 417 cho bà Lại Thị Ngọc Y thể hiện tứ cận không giáp đường. Tại phiên tòa sơ thẩm ông T cũng thừa nhận thời điểm cụ T3 nhận chuyển nhượng đất từ bà nội ông V, phần đất không giáp đường. Kết quả đo đạc thực tế thể hiện thửa giáp đường là thửa 379, không phải thửa 417. Như vậy, việc cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2016 đối với thửa 417 đã thực hiện không đúng thực tế sử dụng.
Do đó, có cơ sở xác định một phần thửa 379 có diện tích 37.3 m² có nguồn gốc của ông N (một phần khu D, E) và ông N đã chuyển nhượng phần đất này cho bà T3 (phía bên nguyên đơn), phần còn lại do cụ Nguyễn Văn B1 khai hoang (phía bên bị đơn) và không có chuyển nhượng cho bà T3.
- [3.4] Về quá trình quản lý, sử dụng đất:
Bà Y cho rằng đất của bà Y không canh tác nên năm 2010 cho gia đình ông V thuê để trồng sả cho sạch cỏ nhưng bà Y không cung cấp được chứng cứ chứng minh về việc thuê đất hay bà Y cho đất ông S sử dụng và cũng không được phía bị đơn là ông V thừa nhận. Lời trình bày này của bà Y cũng không phù hợp với thực tế khách quan vì bà Y là người canh tác trên thửa 417 từ năm 2002 có diện tích 5.425 m², diện tích thửa 379 chỉ có 442.5 m² và giáp ranh với thửa 417, nếu cùng canh tác sẽ thuận lợi cho việc đi lại và cấp thoát nước.
Căn cứ Công văn số 295/UBND-ĐC và Công văn số 595/UBND-ĐC của Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Long An đã xác định các vị trí tranh chấp gồm khu D, E, F, G không thuộc đất công và người canh tác từ năm 2011 đến nay là anh rể của ông V. Do đó lời trình bày của bà Y về việc cho gia đình ông V thuê đất để canh tác là không có căn cứ. Như vậy có căn cứ xác định quá trình quản lý, sử dụng thửa đất 379 là do gia đình ông V khai hoang canh tác từ trước đến nay.
- [3.5] Do thửa đất 379 chưa được cấp giấy cho cá nhân nào, ông N chỉ đứng tên trên Sổ mục kê diện tích 37.3 m². Thời điểm chuyển nhượng ông N xác định phần đất của ông N có giáp phần đất của cụ S rồi mới tới đường và tại phiên tòa ông N xác định bán cho bà T3 phần đất khoảng 50 m² chứ không biết chính xác là bao nhiêu. Quá trình giải quyết vụ án, ông N không khẳng định được thực tế diện tích đã bán mà chỉ xác định khoảng 50 m² trong khi bà Y cho rằng cụ T3 mua của ông N 150 m². Phần diện tích các đương sự trình bày không thống nhất, không được bị đơn thừa nhận. Căn cứ sổ mục kê xác định phần đất của ông N chỉ là 37.3 m² thuộc khu D và 1 phần khu E của mảnh trích đo. Thửa 379 có tổng diện tích 442.5 m² có nguồn gốc phần lớn của gia đình ông V và do gia đình ông V sử dụng từ trước đến nay nên yêu cầu về việc công nhận quyền sử dụng đất của ông V là có căn cứ. Tuy nhiên, do hiện nay phần đất 37.3 m² được xác định là của ông N bán cho cụ T3 nhưng loại đất BHK không thể tách thửa, hợp thửa với thửa đất 417 do không đủ điều kiện theo Quyết định 42/2021/QĐ-UBND ngày 18 tháng 10 năm 2021 của Ủy ban nhân dân tỉnh L và tại văn bản số 12032/UBND-TNMT ngày 23/10/2023 của Ủy ban nhân dân huyện B thì đối với phần đất tranh chấp có diện tích 442,5m² đủ diều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu. Do đó, có căn cứ công nhận quyền sử dụng cho ông V, ông V phải có nghĩa vụ thanh toán lại giá trị đất cho bà Y đối với phần ông N đã bán cho cụ T3 là 37.3 m² theo Chứng thư định giá số 97/29/03/2021/TĐGLA-BĐS của Công ty Cổ phần T5 ngày 29/3/2021 có giá 822.000đ/m² đối với loại đất BHK thuộc một phần khu D, khu E với số tiền 822.000 đồng x 37.3 m²= 30.660.000 đồng.
- [4] Từ những phân tích trên, Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết là có căn cứ và đúng quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà bà Lại Thị Ngọc Y.
- [5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
- [6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bà Lại Thị Ngọc Y không được chấp nhận nên bà bà Lại Thị Ngọc Y phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Lại Thị Ngọc Y.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 111/2023/DS-ST ngày 08 tháng 11 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An.
Căn cứ khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 147, các Điều 157, 158, 165, 166, 200, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Các Điều 688, 199 Bộ luật Dân sự 2015; Các Điều 5, 166, 203 Luật Đất đai; Các Điều 9, 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lại Thị Ngọc Y về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” đối với bị đơn ông Nguyễn Tấn V.
- Ông Nguyễn Tấn V có trách nhiệm trả lại cho bà Lại Thị Ngọc Y phần đất theo ký hiệu tại khu (B) diện tích đo đạc thực tế là 147,9 m² và khu (C) diện tích đo đạc thực tế là 11.8 m² thuộc một phần thửa đất số 417, tờ bản đồ số 2 (thuộc một phần thửa 35, tờ bản đồ số 20 (mới)), loại đất LUC, tọa lạc tại xã T, huyện B, tỉnh Long An. Thửa đất này do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh L cấp cho bà Lại Thị Ngọc Y theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CE 835794, số vào sổ cấp GCN: CS 01718 ngày 06/12/2016.
- Buộc ông Nguyễn Tấn V có trách nhiệm hoàn trả cho bà Lại Thị Ngọc Y số tiền là 30.660.000 đồng (Ba mươi triệu sáu trăm sáu mươi nghìn đồng) (là phần giá trị diện tích 37.3 m² thuộc một phần thửa 379, tờ bản đồ số 2).
- Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn ông Nguyễn Tấn V về việc “Yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất” với nguyên đơn bà Lại Thị Ngọc Y.
- Chi phí tố tụng (chi phí xác minh, xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá ở cấp sơ thẩm) là 20.000.000 đồng:
- Bà Lại Thị Ngọc Y phải chịu 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng). Bà Y đã nộp xong.
- Ông Nguyễn Tấn V phải trả cho bà Lại Thị Ngọc Y số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).
- Về án phí sơ thẩm:
- Bà Lại Thị Ngọc Y phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng). Khấu trừ tạm ứng án phí mà bà Y đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu số 0002359 ngày 02/10/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Lức.
- Ông Nguyễn Tấn V phải chịu 1.833.000đ (một triệu tám trăm ba mươi ba nghìn đồng). Khấu trừ tạm ứng án phí mà ông V đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu số 0011899 ngày 24/6/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Lức. Ông V phải nộp tiếp 1.533.000đ (một triệu năm trăm ba mươi ba nghìn đồng).
- Về án phí dân sự phúc thẩm:
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Ông Nguyễn Tấn V được quyền tiếp tục quản lý, sử dụng phần đất có tổng diện tích đo đạc thực tế là 442,5 m² gồm khu (D) diện tích đo đạc thực tế là 36.2 m², khu (E) diện tích đo đạc thực tế là 79.2 m², khu (F) diện tích đo đạc thực tế là 309 m², khu (G) diện tích đo đạc thực tế là 18.1 m², loại đất BHK thuộc thửa đất số 379, tờ bản đồ số 2 (thửa 28, tờ bản đồ số 20 (mới)), tọa lạc tại xã T, huyện B, tỉnh Long An. Thửa đất này hiện chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu.
(Vị trí, tứ cận, loại đất, chiều dài và chiều rộng các phần đất nêu trên được thể hiện theo Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 01/2021 do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai tại huyện B duyệt ngày 04/03/2021).
Các đương sự có trách nhiệm liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để hoàn tất thủ tục kê khai, đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; điều chỉnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp đối với phần đất thuộc quyền sử dụng của mình theo quy định của Luật đất đai.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ của các đương sự trong giai đoạn thi hành án.
Bà Bà Lại Thị Ngọc Y phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0006750 ngày 21/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bến Lức, tỉnh Long An.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mỹ Hạnh |
Bản án số 195/2024/DS-PT ngày 16/04/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An về tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 195/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Long An
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất
