Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 195/2024/DS-ST
Ngày 14-6-2024
V/v tranh chấp hợp đồng góp hụi

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Thi.

Các Hội thẩm nhân dân.

Bà Đặng Thị Mỹ Hường.

Ông Nguyễn Văn Sơn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Kiệt – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Ông Võ Phan Hưng – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 133/2024/TLST-DS ngày 11 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 213/2024/QĐXXST–DS ngày 29 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Nguyệt T, sinh năm 1964 (có mặt).

Địa chỉ: Số G hẻm H, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

- Bị đơn: Bà Trần Thị P, sinh năm 1976 (vắng mặt).

Địa chỉ: Số I, tổ E, ấp B, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang.

Đại diện hợp pháp của bà Trần Thị P là bà Hồ Hoàng P1, sinh năm 1971; địa chỉ: H Bis T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang, theo Giấy ủy quyền ngày 30/5/2024.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung vụ án thể hiện nguyên đơn bà Nguyễn Thị Nguyệt T trình bày:

Từ năm 2021, bà có tham gia 03 dây hụi do bà Trần Thị P làm chủ:

  1. Dây hụi 1: 10.000.000 đồng/tháng, khui ngày mùng 09/4/2021 đến mùng 09/9/2023 âm lịch. Bà đóng được 30 lần (tháng 8/2023 âm lịch). Bà P tuyên bố bể hụi vào 09/9/2023 âm lịch. Số tiền vốn + lãi là 300.000.000 đồng.
  2. Dây hụi 2 + 3: 1.000.000 đồng/tháng, khui ngày mùng 01/02/2021 đến mùng 09/9/2023 âm lịch. Bà đóng được 07 lần (tháng 8/2023 âm lịch). Bà P tuyên bố bể hụi vào 09/9/2023 âm lịch. Số tiền vốn + lãi là 140.000.000 đồng.

Tổng cộng vốn, lãi của 03 dây hụi là: 300.000.000 đồng + 140.000.000 đồng = 440.000.000 đồng.

Đến ngày 21/02/2024 bà P đã chuyển trả cho bà được 65.800.000 đồng (03 lần), gồm: lần 1: 50.200.000 đồng (chuyển khoản) + 600.000 đồng (tiền mặt); lần 2: 10.000.000 đồng; lần thứ 3: 5.000.000 đồng.

Số tiền bà P còn thiếu là 440.000.000 đồng - 65.800.000 đồng = 374.200.000 đồng.

Trừ huê hồng 3 dây hụi là 15.000.000 đồng.

374.200.000 đồng - 15.000.000 đồng = 359.200.000 đồng.

Ngày 21/11/2023 bà P làm giấy xác nhận nợ yêu cầu trả vốn (không lãi) cho 03 dây hụi đã đóng trong 03 năm là 310.800.000 đồng.

Trả 03 lần và trừ huê hồng như trình bày trên.

Trong tờ cam kết trả đến ngày 21/02/2024 trả 50.000.000 đồng nhưng chỉ trả được 15.000.000 đồng (như đã nêu trên).

Như vậy bà P đã vô hiệu hóa lời cam kết của mình trong tờ xác nhận, nên trả phương thức đó không còn thực thi.

Sau đó, bà P trả thêm 5.000.000 đồng. Vậy bà P còn nợ 354.200.000 đồng. Nay yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Trần Thị P phải trả vốn + lãi là 359.200.000 đồng và tính lãi số tiền trên theo quy định pháp luật từ ngày 09/9/2023 âm lịch theo quy định Nhà nước cho đến khi trả xong số tiền nợ hụi.

Bị đơn bà Trần Kim P2 trình bày: Bà xác nhận có làm chủ hụi, bà T là hụi viên, bà không đồng ý số tiền mà bà T trình bày. Hiện tại hụi bà đã ngưng. Sau khi bàn bạc thỏa thuận bà và bà T thống nhất xác nhận tiền hụi ngày 21/11/2023 âm lịch bà còn nợ bà T số tiền 310.800.000 đồng, bà đã trả cho bà T được 50.800.000 đồng, nên còn nợ 260.000.000 đồng. Hẹn tháng 5/2024 sẽ trả cho bà T 50.000.000 đồng, nhưng điều kiện kinh tế khó khăn nhiều người giựt nợ, bà cũng đã trả cho bà T thêm 20.000.000 đồng, còn 240.000.000 đồng. Bà đồng ý trả cho bà T 240.000.000 đồng theo hình thức trả dần ít nhất là 3.000.000 đồng/tháng và không tính lãi.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Nguyệt T xác định yêu cầu khởi kiện như sau: Xác định số tiền vốn là 240.000.000 đồng, yêu cầu tính lãi theo quy định pháp luật từ 09/8/2023 âm lịch (ngày đóng hụi cuối cùng) nhằm ngày 23/9/2023 dương lịch đến ngày xét xử.

Đại diện theo ủy quyền của bà P2 trình bày: Thống nhất số tiền vốn còn nợ là 240.000.000 đồng, đồng ý trả vốn, không đồng ý trả lãi.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo luật định. Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng quy định pháp luật tại Điều 70, Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án:

Giữa bà T và bà P2 có thiết lập hợp đồng góp hụi. Tại phiên tòa các bên thống nhất số tiền vốn chưa trả là 240.000.000 đồng. Xét hợp đồng góp hụi giữa các bên là hợp đồng góp hụi có lãi, nên khi các bên chấm dứt hụi thì bên vi phạm phải có nghĩa vụ trả tiền thì phải trả lãi cho bên bị vi phạm. Do đó, bà T yêu cầu trả vốn 240.000.000 đồng và lãi theo quy định pháp kể từ ngày 23/9/2023 đến ngày 14/6/2024 là có phù hợp đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận theo lãi suất 10%/năm.

Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết án phí theo quy định pháp luật.

Tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án: Sổ hụi 10.000.000 đồng (03 sổ); Giấy xác nhận tiền hụi...

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là về hợp đồng dân sự – hợp đồng góp hụi; bị đơn có địa chỉ thường trú tại địa bàn thành phố L, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung vụ án:

Bà Nguyễn Thị Nguyệt T có tham gia 03 dây hụi do bà Trần Thị P làm chủ. Tuy nhiên, các dây hụi chưa mãn thì bà P thông báo ngưng hụi. Bà P có làm giấy xác nhận tiền hụi giao cho bà T, bà T không ký vào giấy xác nhận, bà T có nhận tiền do bà P trả, nhưng bà T cho rằng bà P không thực hiện đúng theo giấy xác nhận nên bà T không đồng ý số tiền hụi theo giấy xác nhận tiền hụi. Bà T yêu cầu bà P phải trả vốn, lãi là 440.000.000 đồng (44 lần đóng hụi của 03 dây hụi 10.000.000 đồng), trừ vào số tiền 70.800.000 đồng đã trả và trừ huê hồng 15.000.000 đồng, nên bà P còn phải trả cho bà 354.200.000 đồng.

Chủ hụi bà P không đồng ý số tiền vốn, lãi mà bà T yêu cầu vì bà cho rằng hụi đã ngưng do các hụi viên khác giựt của bà nên bà không có khả năng trả vốn, lãi cho bà T, bà yêu cầu trả vốn, có giấy xác nhận tiền hụi xác nhận vốn bà T đã đóng, bà T đã nhận giấy và đã nhận tiền là bà T đã chấp nhận số tiền 310.800.000 đồng, bà trả được 70.800.000 đồng, còn nợ 240.000.000 đồng, đồng ý trả số tiền này và trả dần mỗi tháng 3.000.000 đồng cho đến khi hết nợ, không đồng ý trả lãi.

Xét giao dịch của các đương sự là về hợp đồng hụi các bên không xác lập bằng văn bản cụ thể, nhưng khi giao dịch chủ hụi có đưa cho các hụi viên sổ hụi, trong đó thể hiện dây hụi bao nhiêu tiền, số người tham gia, số người hốt, thời điểm khởi khui, chu kỳ khui hụi. Mặc dù, các bên không ký vào sổ hụi nhưng chủ hụi đưa sổ hụi, thành viên không phản đối, các lần khui hụi có mặt một số hụi viên, có góp hụi và đóng hụi đầy đủ, những người tham gia chơi hụi đều đủ năng lực hành vi dân sự, quá trình giải quyết vụ án các bên cũng thừa nhận có thỏa thuận giao dịch hụi, hụi có lãi, chủ hụi có huê hồng là phù hợp quy định tại Điều 5, 6, 7, 8, 12 của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính Phủ về hụi, họ, biêu, phường và các Điều 116, Điều 117, Điều 118, Điều 119 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Tại khoản 4 Điều 18 của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính Phủ về hụi, họ, biêu, phường và theo tập quán quan hệ giao dịch góp hụi trong dân gian thì các hụi viên có trách nhiệm đóng hụi cho chủ hụi, chủ hụi thu gom tiền hụi của các hụi viên rồi giao lại cho người ra giá cao hốt, nếu có hụi viên nào hốt mà không đóng lại thì chủ hụi phải có nghĩa vụ nộp thay do chủ hụi có hưởng huê hồng trong mỗi kỳ khui hụi. Trong vụ án này theo lời trình bày của nguyên đơn thì nguyên đơn chỉ đóng hụi chứ chưa được hốt hụi và hụi vẫn chưa kết thúc. Nếu có việc hụi viên nào đó hốt rồi không đóng hụi chết thì chủ hụi phải có nghĩa vụ nộp thay. Còn đối với những người hốt rồi không đóng hụi chết thì chủ hụi có quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Do đó, việc hụi viên đã đóng hụi nhưng hụi ngưng ngang thì hụi viên yêu cầu chủ hụi trả vốn và lãi theo quy định pháp luật là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật tại Điều 22 của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính Phủ về hụi, họ, biêu, phường, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Tại phiên tòa các đương sự thống nhất số tiền vốn là 240.000.000 đồng, thống nhất thời điểm ngưng hụi là ngày 23/9/2023.

Vậy thời điểm tính lãi là từ ngày 23/9/2023 đến ngày 14/6/2024 là 266 ngày, theo mức lãi suất 10%/năm, trên số tiền vốn 240.000.000 đồng.

240.000.000 đồng x 10%/năm x 266 ngày = 17.490.410 đồng.

Tổng cộng vốn, lãi là 240.000.000 đồng + 17.490.410 đồng = 257.490.410 đồng.

[3] Về án phí:

Do vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên bà Trần Thị P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với số tiền bị buộc trả cho bà Nguyễn Thị Nguyệt T.

Do yêu cầu được chấp nhận nên bà Nguyễn Thị Nguyệt T không phải chịu án phí, được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 116, Điều 117, Điều 118, Điều 119, Điều 393 của Bộ luật Dân sự 2015;

Căn cứ Điều 11, Điều 12, Điều 13, Điều 15, Điều 18, Điều 21, Điều 22 của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP, ngày 12/02/2019 của Chính phủ về hụi, họ, biêu, phường.

Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Nguyệt T: Buộc bà Trần Thị P phải có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị Nguyệt T số tiền vốn, lãi là 257.490.410 đồng.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    • Bà Trần Thị P phải chịu 12.874.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
    • Bà Nguyễn Thị Nguyệt T được nhận lại số tiền 8.980.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0001634, ngày 01/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên.
  3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • TAND tỉnh An Giang;
  • VKSND TPLX;
  • Chi cục THADS TPLX;
  • Các đương sự (để thi hành);
  • Lưu: HS, VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Thị Hồng Thi
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬTHẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đặng Thị Mỹ Hường                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                              
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 195/2024/DS-ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng góp hụi

  • Số bản án: 195/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng góp hụi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger