Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN DIỄN CHÂU

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 195/2024/HS- ST

Ngày 09/01/2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN

—————————

- Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đình Lâm
  • - Các Hội thẩm nhân dân : Ông Nguyễn Văn Dũng
  • Ông Nguyễn Thế Anh
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Hoàng Anh -Thư ký Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu tham gia phiên toà: Ông Phạm Thế Khoa- Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Nghệ An mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số155/2023/TLST ngày 07/11//2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử 268/2023/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thị L; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Sinh ngày: 17/4/1984 tại: huyện D, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm C, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;

Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1948 và bà Phạm Thị P, sinh năm 1950; Anh, chị, em ruột: Có 07 người, bị cáo là con thứ 6 trong gia đình; Chồng: Hồ Nhật T, sinh năm 1983; Con: có 04 người, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/9/2023 đến ngày 25/9/2023 áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Nguyễn Đình T1, sinh năm 2023:
  • Trú tại: Xóm Đ, xã M, huyện Y Nghệ An (vắng mặt);
  • + Nộc Thị H, sinh năm 2000:
  • Trú tại: Bản X, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 10/9/2023, Nộc Thị H (sinh năm 2000, trú tại bản X, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An) đến quán G có địa chỉ tại xóm C, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An do Nguyễn Thị L làm chủ để xin làm công việc dọn dẹp vệ sinh và được bố trí chỗ ở, sinh hoạt bên trong phòng của quán. Quá trình làm việc, Nộc Thị H xin Nguyễn Thị L bán dâm tại quán, L đồng ý và cả hai thống nhất mỗi lần bán dâm thì Nguyễn Thị L sẽ được hưởng lợi số tiền là 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng) và Nộc Thị H sẽ được hưởng lợi 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng) từ tiền mà người mua dâm trả.

Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 18/9/2023, Nguyễn Đình T1 (sinh năm 2003, trú tại xã M, huyện Y, tỉnh Nghệ An) đến quán G để mua dâm. Tại đây, Nguyễn Đình T1 gặp Nguyễn Thị L đang ngồi trước cửa quán nên T1 hỏi “Có con em mô không”, L hiểu ý có người bán dâm không thì L nói có, tiếp đó, T1 hỏi “giá mấy” thì Nguyễn Thị L nói “Hai trăm” ý là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng). Sau đó, Nguyễn Thị L nói T1 đi vào phòng thứ 4 tính từ bên phải quán Gió B nằm chờ rồi Nguyễn Thị L đi vào bên trong phòng ở của Nộc Thị H rồi nói H qua phòng thứ 4 bên phải bán dâm cho anh Nguyễn Đình T1 thì H đồng ý. Sau đó, H cầm 01 (Một) bao cao su nhãn hiệu Vip, màu vàng trắng do Nguyễn Thị L mua từ trước để sẵn trên bàn trong phòng rồi đi vào trong phòng thứ 4 để bán dâm cho anh Nguyễn Đình T1, còn Nguyễn Thị L cảnh giới bên ngoài cửa quán. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, Công an huyện D tiến hành kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang, thu giữ 01 (một) bao cao su nhãn hiệu vip, màu vàng trắng, đã qua sử dụng; số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) là tiền sử dụng vào mục đích mua dâm do Nguyễn Đình T1 giao nộp.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thị L đã khai nhận đầy đủ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan người chứng kiến, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

* Về vật chứng vụ án đã thu giữ gồm:

  • - 01 (một) bao cao su nhãn hiệu vip, màu vàng trắng, đã qua sử dụng. Vật chứng nêu trên hiện bảo quản tại Kho vật chứng Chi cục THADS huyện D.
  • - 200.000 đồng tiền Ngân hàng N1. Vật chứng nêu trên hiện đang tạm gửi tại Kho bạc Nhà nước huyện D.

Tại bản cáo trạng số 156/CT-VKSDC ngày 31/10/2023 của VKSND huyện Diễn Châu đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị L về tội “Chứa mại dâm” theo khoản 1 Điều 327 BLHS.

Tại phiên toà hôm nay, đại diện VKSND huyện Diễn Châu vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng đã truy tố và đề nghị HĐXX căn cứ vào khoản 1 Điều 327, điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51, Điều 65 BLHS.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L mức án từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

- Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bao cao su nhãn hiệu vip, màu vàng trắng, đã qua sử dụng, hiện đã được bảo quản tại Kho vật chứng cơ quan thi hành án dân sự huyện D. Tịch thu sung công quỹ Nhà nước tiền Ngân hàng N1 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng). Hiện đang tạm gửi tại Kho bạc Nhà nước huyện D theo biên bản giao nhận tài sản số 37/2023/ BBBG- CADC ngày 03/10/2023.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Thị L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, đúng như hành vi cáo trạng truy tố. Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án thì đã có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 22 giờ ngày 18/9/2023, tại quán G thuộc xóm C, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; Nguyễn Thị L đã có hành vi cho Nguyễn Đình T1Nộc Thị H mua, bán dâm tại quán thuộc quyền quản lý của mình, nhằm thu lợi bất chính 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) thì bị Tổ công tác Công an huyện D, tỉnh Nghệ An phát hiện bắt quả tang. Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Chứa mại dâm” theo quy định tại khoản 1, Điều 327 Bộ luật Hình sự.

[3].Về tính chất vụ án: Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thị L là nghiêm trọng nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự công cộng, ảnh hưởng đạo đức xã hội, ảnh hưởng đến giá trị nhân phẩm của người phụ nữ và có thể làm lây truyền bệnh tật. Nhưng vì mục đích tư lợi bị cáo bất chấp pháp luật thực hiện hành vi phạm tội. Hội đồng xét xử xét cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng hành vi của bị cáo gây ra để răn đe phòng ngừa chung tội phạm.

[4]. Xét các tình tiết tăng năng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo Nguyễn Thị L không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình có bố đẻ ông Nguyễn Văn N người có công với cách mạng trong công cuộc chống Mỹ cứu nước được Nhà nước tặng thưởng Huân chương hạng Ba nên cũng cần xem xét các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Bị cáo Nguyễn Thị L có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, ổn định xét chưa cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội, xét cho bị cáo được hưởng án treo và giao cho chính quyền địa phương nơi cư trú, quản lý giám sát bị cáo trong thời gian chấp hành án treo là phù hợp. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành án treo.

[6]. Đối với Nộc Thị HNguyễn Đình T1 là những người mua dâm và bán dâm, do hành vi vi phạm hành chính nên UBND huyện D đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng theo quy định của pháp luật.

[7]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Nguyễn Thị L không có tài sản gì đảm bảo cho việc thi hành án. Hội đồng xét xử xét miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Thị L.

[8].Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào Điều 47 BLHS năm 2015, Điều 106 BLTTHS xử lý vật chứng như sau: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bao cao su nhãn hiệu vip, màu vàng trắng, đã qua sử dụng, hiện đã được bảo quản tại Kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự huyện D.

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước Tiền ngân hàng N1 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng). Hiện đang tạm gửi tại Kho bạc Nhà nước huyện D theo biên bản giao nhận tài sản số 37/2023/ BBBG- CADC ngày 03/10/2023.

[9]. Về án phí: Bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

[10]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1Điều 327, điểm s, khoản 1,khoản 2, Điều 51, Điều 65 BLHS 2015: Xử phạt:

Bị cáo Nguyễn Thị L 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Chứa mại dâm”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Giao bị cáo Nguyễn Thị L cho Ủy ban nhân dân xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành án treo.

“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

- Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS năm 2015; Điều 106 BLTTHS năm 2015.

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước Tiền ngân hàng N1 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng). Hiện đang tạm gửi tại Kho bạc Nhà nước huyện Diễn Châu theo biên bản giao nhận tài sản số số 37/2023/ BBBG- CADC ngày 03/10/2023.

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bao cao su nhãn hiệu vip, màu vàng trắng, đã qua sử dụng, hiện đang được bảo quản tại Kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự huyện D. Theo biên bản giao nhận vật chứng và phiếu nhập kho số 24NK10 ngày 03 tháng 11 năm 2023.

- Về án phí: Căn cứ Điều 136 BLTTHS năm 2015; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Thị L phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc ngày Tòa án niêm yết hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - VKSND H. Diễn Châu;
  • - Công an H.Diễn Châu;
  • - Bị cáo;
  • - TAND tỉnh Nghệ An.
  • - VKS tỉnh Nghệ An.
  • - Sở Tư pháp Nghệ An.
  • - Lưu hồ sơ; VPTA

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Đình Lâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 195/2024/HS- ST ngày 09/01/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN về hình sự - tội chứa mại dâm

  • Số bản án: 195/2024/HS- ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tội Chứa mại dâm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chứa mại dâm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger