Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THOẠI SƠN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:195/2024/HNGĐ-ST

Ngày 04/9/2024

V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi

con chung khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Vân.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phan Minh Quốc;

2. Bà Dương Triết Minh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Khuyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu, Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 166/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 162/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ông Phạm Văn V, sinh năm 1977;

Địa chỉ: khóm T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang. Có mặt.

* Bị đơn: Bà Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1981;

Địa chỉ: khóm T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 09/4/2024, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn ông Phạm Văn V trình bày như sau:

Ông và bà Nguyễn Ngọc T tự tìm hiểu và quen biết đi đến kết hôn với nhau vào năm 2008, có tổ chức đám cưới, hôn nhân lần thứ nhất của cả hai và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân Phường I, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. Quá trình chung sống với nhau, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn và ly thân từ tháng 9/2023 tới nay. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do tính tình không phù hợp, mâu thuẫn về tiền bạc nên vợ chồng thường xuyên cự cãi với nhau, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Sau đó, bà T dẫn 02 con bỏ nhà đi từ tháng 9/2023 đến nay, ông không liên hệ được. Nay nhận thấy hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông yêu cầu được ly hôn với bà T.

Về con chung: Vợ chồng ông bà có 02 con chung tên là Phạm Nguyễn Minh Q, sinh ngày 14/8/2010 và Phạm Nguyễn Minh T1, sinh ngày 30/11/2013. Sau ly hôn, ông giao 02 con chung cho bà T chăm sóc, nuôi dưỡng và không cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Ông không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ bà Nguyễn Ngọc T đến để tiến hành hòa giải và tham gia phiên tòa nhưng bà T vẫn vắng mặt không có lý do và không cung cấp lời khai.

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng theo quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên đã vi phạm Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 8, Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 tuyên: Về hôn nhân: Ông Phạm Văn V được ly hôn với bà Nguyễn Ngọc T. Về con chung: Giao 02 con chung tên là Phạm Nguyễn Minh Q, sinh ngày 14/8/2010 và Phạm Nguyễn Minh T1, sinh ngày 30/11/2013 cho bà T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng; Ông V không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Tài sản chung và nợ chung: Không xem xét. Ông V chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Quan hệ tranh chấp giữa các đương sự trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn”; Bị đơn bà Nguyễn Ngọc T có hộ khẩu thường trú tại khóm T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang thụ lý giải quyết vụ án là đúng theo thẩm quyền.

Bà Nguyễn Ngọc T (là bị đơn trong vụ án) đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên toà xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà T.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về hôn nhân: Ông V và bà T chung sống với nhau vào năm 2008, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường I, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 14/7/2008 nên được pháp luật công nhận là vợ chồng hợp pháp theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, ông V xin ly hôn nên Toà án thụ lý, giải quyết là phù hợp với các quy định của pháp luật.

Trong quá trình hôn nhân, ông V trình bày do tính tình không phù hợp, mâu thuẫn về tiền bạc nên vợ chồng thường xuyên cự cãi với nhau, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Sau đó, bà T dẫn 02 con bỏ nhà đi từ tháng 9/2023 đến nay, ông không liên hệ được. Hiện nay tình cảm vợ chồng không còn nên ông yêu cầu được ly hôn với bà T.

Tòa án đã triệu tập bà T để tham gia phiên hòa giải nhưng bà T vắng mặt và không trình bày ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của ông V thể hiện bà T không muốn hàn gắn.

Cuộc sống hôn nhân, vợ chồng là nhằm xây dựng một gia đình thật sự hạnh phúc, trở thành một tế bào của xã hội, vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc và quan tâm lẫn nhau nhưng quan hệ vợ chồng giữa ông V và bà T đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng không còn tồn tại. Như vậy, quan hệ vợ chồng giữa ông V và bà T đã mâu thuẫn trầm trọng, thời gian vợ chồng ly thân đã lâu, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân giữa hai bên không đạt được nếu duy trì cuộc hôn nhân này cũng không đem lại hạnh phúc cho cả hai. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, cần chấp nhận yêu cầu của ông V được ly hôn với bà T.

[2.2] Về con chung:

Ông V xác định trong thời gian chung sống, vợ chồng ông bà có 02 con chung tên là Phạm Nguyễn Minh Q, sinh ngày 14/8/2010 và Phạm Nguyễn Minh T1, sinh ngày 30/11/2013, hiện nay đang sinh sống cùng với bà T.

Xét thấy, hiện nay 02 cháu Q và T1 đang sống với bà T và ông V cũng đồng ý giao 02 cháu cho bà T chăm sóc, nuôi dưỡng. Do đó, xuất phát từ lợi ích mọi mặt của 02 cháu, để đảm bảo ổn định cuộc sống cho 02 cháu, giúp 02 cháu phát triển tốt về thể chất và tinh thần, Hội đồng xét xử giao 02 cháu cho bà T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng theo Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con là nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi con, tuy nhiên bà T không yêu cầu ông V phải cấp dưỡng nuôi con chung và ông V cũng không tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở. Bà T phải tạo điều kiện cho ông V được thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

[2.3] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Ông V không tranh chấp tài sản chung và nợ chung nên HĐXX không xem xét. Nếu sau này giữa ông V và bà T có phát sinh tranh chấp về tài sản chung và nợ chung sẽ được Tòa án thụ lý, giải quyết bằng vụ án khác.

[3] Lời phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa về nội dung giải quyết vụ án là phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Ông V phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí ông V đã nộp.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 228, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Các Điều 8, Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn V.
    • - Về hôn nhân: Ông Phạm Văn V được ly hôn với bà Nguyễn Ngọc T.
    • - Về con chung: Giao 02 con chung tên là Phạm Nguyễn Minh Q, sinh ngày 14/8/2010 và Phạm Nguyễn Minh T1, sinh ngày 30/11/2013 cho bà T được tiếp tục chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng.
  2. Ông V không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà T không có yêu cầu.

    Bà T phải tạo điều kiện cho ông V được thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung.

    Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, Toà án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

  3. Về tài sản chung và nợ chung: Ông V và bà T không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét. Nếu sau này giữa ông V và bà T có phát sinh tranh chấp về tài sản chung và nợ chung sẽ được Tòa án thụ lý, giải quyết bằng vụ án khác.
  4. Về án phí sơ thẩm: Ông Phạm Văn V phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013818 ngày 19 tháng 4 năm 2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
  5. Bà Nguyễn Ngọc T không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

  6. Ông V được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bà T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết công khai./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND h. Thoại Sơn;
  • - Chi cục THADS h. Thoại Sơn;
  • - UBND Phường 9, Q.3, HCM;
  • - Các đương sự (Để thi hành);
  • - Lưu VP, HS;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Mai Thị Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 195/2024/HNGĐ-ST ngày 04/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn

  • Số bản án: 195/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger