TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 195/2024/HSST Ngày 26/08/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Loan;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thuần;
Ông Nguyễn Minh Tú.
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Vân - Thư ký Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm tham gia phiên tòa: Bà Bà Nguyễn Thị Huyên, Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 08 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội tiến hành xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 188/2024/TLST-HS, ngày 09/8/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 190/2024/HS-QĐ ngày 14/8/2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Lê Mạnh T, sinh năm 1988 tại Hà Nội; Giới tính: Nam; Nơi thường trú: Tổ dân phố số A, phường N, quận L, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Cử nhân Ngân hàng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ và tên cha: Lê Hồng P, sinh năm 1960; Họ và tên mẹ: Đào Bích T1, sinh năm 1961; Vợ: Phạm Phương N, sinh năm 1990; Có hai con (Con lớn sinh năm 2018, nhỏ sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không; D chỉ bản số 320 do Công an quận B lập ngày 14/6/2024; Bị bắt trong trường hợp bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày 07/6/2024, tạm giữ, tạm giam đến nay tại Nhà tạm giữ Công an quận B; Có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Phạm Việt T2, sinh năm 1988 tại Hà Nội; Giới tính: Nam; Nơi thường trú: P.1301, tòa nhà N, khu 3,3ha, phường D, quận C, thành phố Hà Nội; Họ và tên cha: Phạm Nhật T3 (Đã chết); Họ và tên mẹ: Lê H, sinh năm 1959 (Đã già yếu); Vợ: Vũ Ngọc A, sinh năm 1988; Có hai con (Con lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không; D chỉ bản số 317 do Công an quận B lập ngày 14/6/2024; Bị bắt trong trường hợp bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày 07/6/2024, tạm giữ, tạm giam đến nay tại Nhà tạm giữ Công an quận B; Có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1987; Nơi thường trú: Tổ dân phố số B, phường Y, quận C, thành phố Hà Nội; Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Các bị cáo Lê Mạnh T và Phạm Việt T2 là bạn cùng học đại học. Đầu tháng 6/2024, các bị cáo rủ nhau cùng kinh doanh bán hàng online, đồng thời mua ma túy loại Cần sa để bán lại kiếm lời. Bị cáo T là người tìm thuê địa điểm kinh doanh tại căn hộ A, chung cư C, phường T, quận L, thành phố Hà Nội. Bị cáo T2 là người vào mạng xã hội T4 sử dụng tài khoản “Concentrateman” đăng ký bằng số điện thoại thuê trên mạng (không nhớ số) tìm hiểu và đặt mua 20 triệu đồng Cần sa của một người không quen biết, không rõ nhân thân. Khoảng 14 giờ ngày 05/6/2024, một người đàn ông mặc áo của G giao 02 thùng cát tông chứa Cần sa cho bị cáo T2 trước cửa chung cư CT2A. Các bị cáo cất giấu cần sa trong phòng ngủ của bị cáo T2 tại căn hộ A, chung cư C. Hai bị cáo cùng quản lý, sử dụng tài khoản T4 “Concentrateman” để mua bán ma tuý cần sa.
Tối ngày 06/6/2024, có người nhắn tin vào tài khoản “Concentrateman” hỏi mua 05 gam Cần sa, giao đến số C Đ, số điện thoại nhận hàng là0823.162.xxx, bị cáo T2 đóng gói Cần sa vào túi đựng cà phê rồi đưa cho bị cáo T. Bị cáo T đi xuống sảnh chung cư thấy anh Cao Bá H2 (Sinh năm 2003; Nơi thường trú: TP D, thị trấn T, huyện T, Hà Nam) là xe ôm công nghệ đang đỗ xe trước cửa chung cư liền thuê anh H2 đi giao hàng.
Đến 21 giờ 00 cùng ngày, anh H2 mang hàng điểm hẹn tại ngõ C Đ, phường C, quận B và đang chờ người nhận hàng thì bị tổ công tác Công an phường C kiểm tra thu giữ vật chứng. Công an phường C rà soát tại khu vực phố Đ phát hiện anh Nguyễn Văn H1 là người sử dụng số điện thoại 0823.162.xxx. Công an phường C 1 dẫn giải anh H2 đến địa điểm nhận đơn hàng, tìm thấy bị cáo T và bị cáo T2. Hai bị cáo tự nguyện giao nộp 02 thùng cát tông chứa Cần sa.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng (15x20)cm bên trong có 01 túi nilon KT (8x10)cm bên trong có thảo mộc khô, 01 điện thoại di động Iphone 12 promax màu đen lắp số thuê bao 088.687.2xxx và 01 xe máy Honda Wave BKS 90B3 - 45750 (do anh Cao Bá H2 giao nộp); 01 điện thoại Nokia màu đen lắp sim thê bao số 0823162311 (thu giữ của anh Nguyễn Văn H1); 02 thùng cat tông bên trong chứa thảo mộc khô, 01 điện thoại Samsung màu xanh lắp sim thuê bao số 0522.854.028; 0879.696.262 (thu giữ của bị cáo T); 01 điện thoại Iphone Promax màu xanh lắp sim thê bao số 0888585985 (thu giữ của bị cáo T2).
Tại Kết luận giám định số 4304/KLGĐ - PC09 ngày 16/6/2024, Phòng K, Công an thành phố H kết luận: Thảo mộc khô bên trong 01 túi nilon màu trắng (thu của Cao Bá H2) khối lượng 4,990 gam là Cần sa; Thảo mộc khô bên trong 02 thùng cattong (thu giữ của các bị cáo T, T2) tổng khối lượng 6.917,050 gam đều là Cần sa.
Xét nghiệm tìm chất ma túy trong cơ thể của bị cáo T cho kết quả âm tính (Không có ma túy), của bị cáo T2 cho kết quả dương tính (Có ma túy).
Anh Nguyễn Văn H1 khai do buồn chuyện gia đình nên mua cần sa về sử dụng. Lúc đi ra đầu ngõ 6 Đặng Thùy T5 nhận hàng, thấy công an đang kiểm tra anh H2 nên anh H1 không dám ra nhận hàng. Xét nghiệm chất ma tuý của anh H1 cho kết quả âm tính nên Cơ quan Công an không xử lý.
Chiếc xe máy Honda Wave mang BKS 90B3 – 45750, thu giữ của anh Cao Bá H2, đăng ký chủ sử dụng là anh H2, không có trong dữ liệu xe máy vật chứng. Anh H2 sử dụng xe để đi giao hàng, không biết trong gói hàng nhận giao có ma tuý. Ngày 14/6/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe Honda Wave BKS 90B3 – 45750 và chiếc điện thoại Iphone 12 promax màu đen lắp số thuê bao 088.687.2xxx cho anh H2.
Tại Cáo trạng số 189/CT-VKS, ngày 08/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm đã truy tố các bị cáo Lê Mạnh T, Phạm Việt T2 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt các bị cáo Lê Mạnh T, Phạm Việt T2 cùng mức án từ 30 – 36 tháng tù; Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền với các bị cáo; Tịch thu tiêu hủy 02 gói ma túy đã thu giữ sau giám định; Tịch thu sung quỹ 01 điện thoại Nokia màu đen lắp sim thuê bao số 0823162311, 01 điện thoại Samsung màu xanh lắp sim thuê bao số 0522.854.028; 0879696262, 01 điện thoại Iphone Promax màu xanh lắp sim thuê bao số 0888585985.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Cơ quan kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố được thực hiện theo đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục, đúng các quy định của pháp luật. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại, tố cáo đối với quyết định, hành vi tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó quyết định, hành vi tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án là hợp pháp.
[2]. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đủ căn cứ xác định: Ngày 05/6/2024, các bị cáo Lê Mạnh T và Phạm Việt T2 cùng nhau cất giấu 6.917,050 gam Cần sa tại căn hộ A chung cư C, phường T, quận L, thành phố Hà Nội với mục đích để bán. Khoảng 21 giờ 00, ngày 06/6/2024, các bị cáo có hành bị bán trái phép 4,990 gam ma tuý cần sa cho anh Nguyễn Văn H1 tại địa chỉ ngõ C, phố Đ, phường C, quận B, Hà Nội thông qua người giao hàng là anh Cao Bá H2 thì bị bắt quả tang cùng vật chứng. Hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt áp dụng đối với bị cáo được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
[3]. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sự độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất gây nghiện, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo đều biết ma túy loại Cần sa mà các bị cáo mua bán bị cấm tàng trữ, mua bán, sử dụng... trái phép, là chất gây nghiện, làm tổn hại sức khỏe con người đặc biệt là sức khỏe tinh thần, thể chất của người sử dụng, là mầm mống gây ra nhiều loại tội phạm và các bệnh xã hội khác. Nhưng vì tư lợi, các bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi mua bán trái phép ma túy để kiếm lời.
Trong vụ án có đồng phạm nhưng là đồng phạm giản đơn, các bị cáo cùng nhau bàn bạc và cùng nhau thực hiện tội phạm với vai trò là người thực hành.
[4]. Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
4.1. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá điều tra, truy tố, xét xử, các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, có thái độ ăn năn hối cải, lần đầu bị đưa ra xét xử. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
4.2. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
[5]. Về hình phạt:
5.1. Hình phạt chính: Xét hành vi phạm tội, tính chất tội phạm, các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo thấy cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
5.2. Hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền với bị cáo.
[5]. Về các vấn đề khác
5.1 Về vật chứng: Số ma túy thu giữ của các bị cáo đã được niêm phong sau giám định là chất gây nghiện, bị cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy. Ba chiếc điện thoại gồm : 01 điện thoại Nokia màu đen lắp sim thuê bao số 0823162311, 01 điện thoại Samsung màu xanh lắp sim thuê bao số 0522.854.028; 0879.696.262, 01 điện thoại Iphone Pro màu xanh lắp sim thuê bao số 0888585985 đã qua sử dụng, thu giữ của hai bị cáo và anh H1 là người mua ma túy là phương tiện các bị cáo và người mua dùng để liên lạc, mua bán ma túy, liên quan đến tội phạm, có giá trị sử dụng cần tịch thu sung quỹ.
5.2. Về án phí: các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và mức án phí phải nộp theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Lê Mạnh T và Phạm Việt T2 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Điều luật áp dụng: Khoản 1 Điều 251; Điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 168; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án
2. Về Hình phạt:
2.1. Xử phạt bị cáo Lê Mạnh T 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/6/2024.
2.2. Xử phạt bị cáo Phạm Việt T2 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/6/2024.
3. Các vấn đề khác
3.1. Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong 01 túi giấy bên trong có 01 hộp giấy, trong hộp giấy chứa ma tuý sau giám định có chữ ký giáp lai của Cao Bá H2, giám định viên và cán bộ niêm phong ; 01 hộp giấy niêm phong bên trong chứa ma tuý sau giám định có chữ ký giáp lai của các bị cáo, giám định viên và cán bộ niêm phong; Tịch thu sung quỹ 01 điện thoại Nokia màu đen lắp sim thuê bao số 0823162311, 01 điện thoại Samsung màu xanh lắp sim thuê bao số 0522.854.028; 0879696262, 01 điện thoại Iphone Pro màu xanh lắp sim thuê bao số 0888585985. Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 265/24 ngày 26/08/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm.
3.2. Về án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3.3. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Loan |
Bản án số 195/2024/HSST ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 195/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 05/6/2024, các bị cáo Lê Mạnh T và Phạm Việt T2 cùng nhau cất giấu 6.917,050 gam Cần sa tại căn hộ 1 chung cư 2, phường T, quận Long Biên, thành phố Hà Nội với mục đích để bán. Khoảng 21 giờ 00, ngày 06/6/2024, các bị cáo có hành bi bán trái phép 4,990 gam ma tuý cần sa cho anh Nguyễn H tại địa chỉ ngõ 1, phố Đ, phường C, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội thông qua người giao hàng là anh Cao Bá H2 thì bị bắt quả tang cùng vật chứng
