|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 195/2024/HS-ST Ngày: 24/10/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Nam Hải.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phùng Ngọc Toàn
- Ông Trần Đức Lưu
- Thư ký phiên toà: Bà Đồng Minh Hoàn - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
- Đại diện VKSND quận Ba Đình, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương T - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 10 năm 2024, tại điểm cầu T – tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hà Nội và điểm cầu thành phần tại trại giam S Công an thành phố H, xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 186/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 422/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo: Trần Văn Đ, sinh năm 1990.
Nơi thường trú: Thôn P, xã B, huyện M, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Ngọc T1 và bà Trịnh Thị M; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày: 18/6/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H. Có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 15h50' ngày 18/06/2024, tại trước cổng chợ C, phường C, quận B, thành phố Hà Nội, tổ công tác công an phường C, tiến hành kiểm tra hành chính đối với 01 nam thanh niên là Trần Văn Đ có biểu hiện nghi vấn. Qua kiểm tra, phát hiện trong lòng bàn tay trái của Trần Văn Đ 01 (một) túi nilon màu trắng chứa tinh thể màu trắng. Trần Văn Đ khai là ma túy “đá” mang đi để bán kiếm lời. Tổ công tác đã đưa Đ cùng tang vật về trụ sở để làm rõ.
Quá trình điều tra xác định: Khoảng 12h00 ngày 18/06/2024, khi Trần Văn Đ đang ở khu vực H, phường L, quận B, Hà Nội thì có một đối tượng sử dụng tài khoản Zalo, tên tài khoản là “Nguyễn T2” nhắn tin và gọi điện hỏi mua ma túy của Đ. Đ đồng ý và hẹn gặp “Nguyễn T2” vào lúc 14h ngày 18/06/2024 tại khu vực chợ C.
Đến 14h ngày 18/6/2024, Trần Văn Đ điều khiển xe mô tô Haytate màu nâu, biển kiểm soát: 30L2 – 3321 đến khu vực chợ C, B, Hà Nội gặp đối tượng mua ma tuý như đã hẹn. Tại đây, đối tượng có tài khoản zalo, tên tài khoản là: “Nguyễn T2” có đưa cho Đ số tiền là 600.000 đồng trong đó 500.000 đồng là tiền mua ma túy đá, còn số tiền 100.000 đồng là tiền công Đ đi mua ma túy. Trần Văn Đ đồng ý, cầm tiền và điều khiển xe mô tô một mình đến khu vực đầu ngõ B phố L, quận H, Hà Nội để tìm mua ma túy. Tại đây, Đ mua của 01 người đàn ông (không biết tên, tuổi, địa chỉ) 500.000 đồng tiền ma túy đá. Mua xong, Đ cầm 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa ma túy đá trong lòng bàn tay trái và điều khiển xe máy về điểm hẹn. Trên đường đi về, Đ đã mua 01 chiếc bật lửa với giá 5.000 đồng.
Khi Đ đến trước cửa cổng Chợ C, B, Hà Nội và đang chờ người mua ma túy đến để giao ma túy thì bị Tổ công tác của công an phường C kiểm tra hành chính, phát hiện, bắt quả tang như đã nêu ở trên.
Ngoài ra, quá trình điều tra, Trần Văn Đ tự khai nhận đã 02 (hai) lần thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy cho người có tài khoản Z là: “ Nguyễn T2” vào các ngày: Ngày 13/6/2024, bán cho “Nguyễn Tùng” 01 (một) túi ma túy với giá 170.000 đồng; Ngày 17/6/2024, nhận của “Nguyễn T2” số tiền 250.000 đồng mua ma túy nhưng Đ chưa đưa ma túy cho “Nguyễn T2” do trên đường đi Đ gặp tổ công tác Công an nên Đ đã ném túi ma túy đi để tránh trách nhiệm. Ngoài lời khai của Trần Văn Đ, không có tài liệu khác chứng minh hành vi bán trái phép ma túy vào các ngày 13/6/2024 và 17/6/2024 của Đ nên không có căn cứ để xem xét xử lý.
Tang vật của vụ án:
Thu giữ của Trần Văn Đ:
- - 01(một) điện thoại di động Vivo màu xanh tím, số điện thoại 0965.065.xxx; Imei: 861401045692439; Imei: 861401045692421.
- - 01(một) túi nilong bên trong chứa tinh thể màu trắng.
- - 01(một) xe máy nhãn hiệu Yamaha Hayat, biển kiểm soát: 30L2 – 3321; số máy: F4A5156656; số khung: 090101096.
- - Tiền ngân hàng N: 95.000 đồng.
Tại Bản Kết luận giám định số: 4643/KL-KTHS ngày 27/6/2024 của Phòng K - Công an Thành phố H kết luận: “Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng: 0,373 gam.”
Quá trình giám định cơ quan giám định thu 0,041gam làm mẫu, còn lại 0,332 gam chất ma túy loại Methamphetamine hoàn lại cho cơ quan điều tra.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Suzuki Hayate màu nâu mang biển kiểm soát: 30L2 – 3321; số máy: F4A5156656; số khung: 090101096 là chiếc xe Trần Văn Đ điều khiển đi bán ma túy. Quá trình điều tra, xác định chiếc xe trên là của anh Nguyễn Quang Đ1 (sinh năm: 1992; Địa chỉ: TDP C, thị trấn X, C, Hà Nội) cho Trần Văn Đ mượn xe. Anh Nguyễn Quang Đ1 không biết Trần Văn Đ sử dụng xe để đi bán trái phép chất ma túy. Do đó, ngày 12 tháng 9 năm 2024, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Nguyễn Quang Đ1 chiếc xe nói trên.
Toàn bộ số vật chứng còn lại được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự quận Ba đình để xử lý theo quy định pháp luật.
Đối với đối tượng có tài khoản Zalo: “Nguyễn T2” là người hỏi mua ma túy của Đ1: Quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch cụ thể nên không có căn cứ để xem xét xử lý.
Đối với đối tượng bán ma tuý cho Trần Văn Đ: Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch cụ thể nên không có căn cứ để xem xét xử lý.
Với nội dung trên bản cáo trạng số 189/CT-VKSBĐ ngày 7/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Trần Văn Đạt về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”, theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như bản cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: khoản 1, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo từ 30 tháng tù đến 36 tháng tù.
Về vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự ; Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bao niêm phong bên trong có 0,332 gam ma túy loại Methamphetamine, đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của giám định viên và bị can Trần Văn Đ.
- - Tịch thu xung công: 01 (một) điện thoại di động Vivo màu xanh tím, số điện thoại 0965.065.xxx; Imei: 861401045692439; Imei: 861401045692421; Tiền ngân hàng N: 95.000 (Chín mươi lăm nghìn) đồng.
- - Không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo, do bị cáo là đối tượng nghiện không có nghề nghiệp ổn định.
Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung truy tố của cáo trạng và không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận B, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận B, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về nội dung vụ án:
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Khoảng 15h50' ngày 18/06/2024, tại trước cổng chợ C, phường C, quận B, Hà Nội, Trần Văn Đ có hành vi bán trái phép ma tuý loại Methamphetamine, có khối lượng: 0,373 gam, cho người mua ma túy có tài khoản Z là: “Nguyễn T2” với giá 600.000 đồng để thu lợi bất chính thì bị Tổ công tác của Công an phường C, quận B, thành phố Hà Nội phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng.
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi nêu trên của bị cáo Trần Văn Đ có đủ dấu hiệu cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, tội danh và khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
[3]. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, bị cáo có đủ nhận thức để biết rằng các loại ma túy là chất gây nghiện được nhà nước thống nhất quản lý, nghiêm cấm mọi hành vi phạm tội liên quan đến ma túy nhưng vì hám lời bị cáo vẫn cố ý mua bán trái phép chất ma túy. Mặt khác hành vi phạm tội của bị cáo còn gây mất trật tự trị an tại địa phương và là một trong những nguyên nhân dẫn đến tội phạm và các tệ nạn xã hội khác.
[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, thấy rằng:
Bị cáo Trần Văn Đ khi phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo sớm trở thành người công dân có ích cho xã hội.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian như vậy mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.
[5] Xử lý vật chứng:
- - Toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong bao niêm phong, hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình là vật cấm tàng trữ, cấm lưu hành vì vậy cần áp dụng khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma này.
- - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh tím; Imei: 861401045692439; Imei: 86140104569242 thu giữ của bị cáo là chiếc điện thoại bị cáo sử dụng để liên lạc mua bán trái phép chất ma tuý, vì vậy căn cứ khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu, nộp ngân sách nhà nước hai chiếc điện thoại này.
- Đối với số tiền 95.000 đồng thu giữ của bị cáo là tiền bị cáo thu lợi bất chính từ việc bán ma tuý vì vậy cứ khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền này.
Toàn bộ vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
Bị cáo mua bán trái phép chất ma túy, đã nhận số tiền 600.000 đồng, trong đó bị cáo đã lấy 500.000 đồng mua ma túy đá. Khi bị bắt giữ Công an đã thu giữ của bị cáo 95.000 đồng. Vì vậy cần tiếp tục truy thu số tiền 5.000 đồng của bị cáo để tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 46, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 46, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, b khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt: Bị cáo Trần Văn Đ 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 18/6/2024.
- Về xử lý vật chứng:
- + Tịch thu tiêu huỷ: 01 bao niêm phong bên trong chứa 0,332 gam ma tuý loại Methamphetamine (Khối lượng ban đầu 0,373 gam cơ quan giám định thu giữ 0,041 gam, còn lại 0,332 gam ma tuý loại Methamphetamine) đã qua giám định, bên ngoài có chữ ký của giám định viên và bị cáo Trần Văn Đ.
- + Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh tím đã cũ bị vỡ màn hình bên trong có sim điện thoại ( không kiểm tra chất lượng bên trong máy ) và số tiền 95.000 đồng.
Toàn bộ vật chứng nêu trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, theo biên bản giao nhận vật chứng số: 06 ngày 15/10/2024 giữa Công an quận B với Chi Cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội; và giấy nộp tiền vào tài khoản số : 10862491 Ngày 15/10/2024 Ngân hàng TMCP C1.
+ Truy thu của bị cáo số tiền 5.000 đồng để tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Nam Hải |
Bản án số 195/2024/HS-ST ngày 24/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự - mua bán trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 195/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Mua bán trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Trần Văn Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
