|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 195/2024/HS-ST Ngày 18-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trịnh Khắc Thịnh
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phạm Thị Thanh Hiên
Ông Vũ Khắc Tân
- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Cẩm Hương, thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Trần Hùng Vũ, kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 183/TLST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 755/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Trương Văn Q, sinh ngày 21 tháng 02 năm 1996 tại Nam Định; nơi cư trú: Đ, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn H và bà Đỗ Thị H1, chưa có vợ và con; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: án số 39/2015/HSST ngày 17/9/2015 của T án nhân dân huyện N, tỉnh Nam Định xử phạt 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (đã xoá án tích); án số 57/2015/HSST ngày 09/12/2015 của Tòa án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định xử 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Đã xoá án tích), bị tạm giữ ngày 05/3/2024; tạm giam ngày 11/3/2024; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 05/3/2024, Công an phường N, quận L làm nhiệm vụ tuần tra trên địa bàn phường, phát hiện Trương Văn Q đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 18E1-214.47 tại khu vực đầu ngõ G N, phường N, quận L, Hải Phòng có biểu hiện nghi vấn tội phạm về ma túy. Tổ công tác đã tiến hành dừng xe kiểm tra, thu giữ trong lòng bàn tay trái của Q một túi nilon kích thước 05cm x 08cm chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy. Tổ công tác đã đưa Q cùng vật chứng và xe mô tô biển kiểm soát: 18E1-214.47 về trụ sở Công an phường N lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Kết luận giám định số 255/KL-KTHS ngày 07/3/2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: “Chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,19 gam, là loại Heroine (Heroin)"
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Trương Văn Q khai nhận: khoảng 14 giờ ngày 05/3/2024, Q điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 18E1-214.47 đi từ khu vực đường L đến đường T để tìm mua ma túy H2 sử dụng cho bản thân. Khi đến khu vực đường T, Quyền gặp một người nam giới không quen biết (hiện chưa rõ lai lịch địa chỉ) hỏi Q “có chơi không?”. Quyền trả lời “có”. Người nam giới tiếp tục nói “lấy bốn trăm, mỗi người hai trăm”. Quyền hiểu là người nam giới này rủ mua ma túy nên đi theo. Người nam giới điều khiển xe mô tô (không rõ biển kiểm soát) đi trước, Q điều khiển xe mô tô đi sau. Khi vào ngõ G N được một đoạn, thì người nam giới dừng lại, Q đưa cho người này 200.000 đồng rồi đứng đợi. Người nam giới đi sâu vào trong ngõ, khoảng 02 phút sau quay lại đưa cho Q 01 gói nilon màu trắng rồi bỏ đi đâu không rõ. Quyền nhận gói nilon biết là ma túy Heroine nên cầm ở tay trái rồi đi về đến đầu ngõ G N thì bị lực lượng Công an phát hiện thu giữ và đưa về trụ sở lập biên bản như nội dung trên.
Về vật chứng: chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân: 01 phong bì thư niêm phong số 255/MT-PC09 đựng vỏ bao gói và số ma túy còn lại sau giám định.
Đối với xe mô tô biển kiểm soát 18E1-214.47, kết quả điều tra xác định là của chị Nguyễn Thị Thanh T1, sinh năm: 1995, trú tại: ngõ I T, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng (là chị dâu của Q). Chị T1 không biết Q mượn xe mô tô để đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô trên cho chị T1.
Đối với người nam giới mua ma túy hộ Quyền, hiện chưa rõ lai lịch địa chỉ, Q không nhớ biển kiểm soát xe mô tô người này sử dụng nên Cơ quan điều tra Công an quận L, thành phố Hải Phòng không có cơ sở để điều tra xử lý.
Tại Cáo trạng số 192/CT-VKSLC ngày 20 tháng 8 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đã truy tố Trương Văn Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất của vụ án, mức độ, tính nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trương Văn Q mức án từ 21 đến 27 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do bị cáo không nghề nghiệp, không thu nhập ổn định và không có tài sản riêng nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Ngoài ra cần đề nghị xử lý vật chứng và tiền án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Trương Văn Q đồng ý với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã mô tả, bị cáo xác định Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân truy tố là đúng người, đúng tội. Xét thấy lời nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên toà là tự nguyện, khách quan phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà là phù hợp. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 05/3/2024, tại khu vực đầu ngõ G N, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng, Trương Văn Q có hành vi cất giữ trái phép 0,19 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân thì bị bắt quả tang. Hành vi của bị cáo Trương Văn Q đã phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do vậy Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất của vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, gây tác hại xấu đến sức khỏe con người và là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tệ nạn xã hội khác. Bị cáo nhận thức rõ H3 là chất ma tuý nằm trong danh mục quản lý của Nhà nước, cấm cất giữ, lưu hành trái phép dưới mọi hình thức; nhưng để thỏa mãn nhu cầu của mình, bị cáo vẫn cất giữ trái phép để sử dụng. Vì vậy, cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội và đặc điểm nhân thân của bị cáo.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã khai báo thành khẩn hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự .
[6] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhận thấy bị cáo có nhân thân xấu, cần áp dụng mức hình phạt mà Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đề xuất là phù hợp, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì bị cáo có thể bị phạt bổ sung là phạt tiền. Do bị cáo không nghề nghiệp, không thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Về xử lý vật chứng: Số ma tuý mà cơ quan Công an thu giữ khi bắt giữ bị cáo, sau khi lấy đi giám định, lượng còn lại xét là vật Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư niêm phong số 255/MT-PC09 đựng vỏ bao gói và số ma túy còn lại sau giám định (Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an quận L, thành phố Hải Phòng và Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng ngày 20/8/2024).
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Trương Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Trương Văn Q 24 (hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05 tháng 3 năm 2024.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư niêm phong số 255/MT-PC09 đựng vỏ bao gói và số ma túy còn lại sau giám định (Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an quận L, thành phố Hải Phòng và Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng ngày 20/8/2024).
Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Trương Văn Q phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Khắc Thịnh |
Bản án số 195/2024/HS-ST ngày 18/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 195/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trương Văn Q- Tàng trư
