Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH

TỈNH NAM ĐỊNH

Bản án số: 195/2024/HS-ST

Ngày: 13-9-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Bang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Thắng

Ông Nguyễn Tiến Dũng.

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thiên Dung - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Trần Quang Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 194/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 194/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trịnh Ngọc T, sinh ngày 21 tháng 5 năm 1985, tại: phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định (nay là phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định); Số căn cước công dân: [...]; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Số C T, phường T (nay là phường N), thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Đức H và bà Cù Thị H1; có vợ là Ngô Thị H2 và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 30/11/2021, Ủy ban nhân dân phường T (nay là phường N), thành phố N ra quyết định áp dụng giáo dục tại phường (chấp hành xong ngày 01/3/2022).

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/5/2024, chuyển tạm giam ngày 07/6/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 20 phút ngày 29/5/2024, tổ công tác Công an phường V, thành phố N làm nhiệm vụ tại khu vực trước cửa nhà số C đường V, phường V, (nay là phường T) thành phố N phát hiện Trịnh Ngọc T đi bộ có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. T thả từ tay trái xuống đất 01 gói nilong màu hồng, bên trong là gói giấy bạc màu tím than trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng (T khai là H3 mua về để sử dụng). Tổ công tác đã thu giữ, niêm phong vật chứng và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trịnh Ngọc T.

Ngày 29 tháng 05 năm 2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N ra Quyết định trưng cầu giám định số 1153/QĐ-ĐTTH đối với vật chứng là chất bột dạng cục màu trắng trong 01 (một) gói ni lông màu hồng (bên trong gói ni lông màu hồng là lớp giấy bạc màu tím than), thu giữ được của Trịnh Ngọc T. Kết luận giám định số 1015/KL-KTHS ngày 04/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 01 (một) gói ni lông màu hồng (bên trong gói ni lông màu hồng là lớp giấy bạc màu tím than), được niêm phong gửi giám định là ma tuý. Loại ma tuý: Heroin (H). Khối lượng mẫu: 0,169 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Trịnh Ngọc T khai nhận: Khoảng 17 giờ ngày 29/5/2024, T đi bộ từ nhà ra khu tập thể V, phường V (nay là phường T), thành phố N gặp một người phụ nữ (không rõ lai lịch, địa chỉ) mua 01 gói Heroine với giá 100.000 đồng. T cầm gói Heroine trong tay trái, rồi đi bộ tìm chỗ sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ.

Bản cáo trạng số 197/CT-VKSND-TPNĐ ngày 26/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố bị cáo Trịnh Ngọc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trịnh Ngọc T đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân như bản cáo trạng đã nêu.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo Trịnh Ngọc T tại phiên tòa thể hiện hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ nguyên nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Trịnh Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trịnh Ngọc T từ 18 tháng tù đến 21 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy đã thu giữ của bị cáo Trịnh Ngọc T.

- Buộc bị cáo Trịnh Ngọc T nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Trịnh Ngọc T nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trịnh Ngọc T không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về tội danh:

Lời khai nhận tội của bị cáo Trịnh Ngọc T trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 29/5/2024; Biên bản làm việc thu dữ liệu bản ảnh vật chứng bắt quả tang ngày 29/5/2024; Kết luận giám định số 1015/KL-KTHS ngày 04/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh N; lời khai của những người làm chứng cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 17 giờ 20 phút ngày 29/5/2024 tại khu vực trước cửa nhà số C đường V, phường V (nay là phường T), thành phố N, tỉnh Nam Định, bị cáo Trịnh Ngọc T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,169 gam Heroin mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ.

Hành vi của bị cáo Trịnh Ngọc T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi tàng trữ ma túy của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện; khối lượng ma tuý bị cáo tàng trữ mục đích để sử dụng là 0,169 gam loại Heroin. Vì vậy bị cáo Trịnh Ngọc T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[3] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì bị cáo Trịnh Ngọc T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình nên bị cáo sẽ được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Bị cáo Trịnh Ngọc T không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về hình phạt:

Hành vi phạm tội của bị cáo Trịnh Ngọc T là nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đối với an ninh trật tự trên địa bàn thành phố N, bản thân bị cáo T đã từng bị xử lý hành chính do sử dụng ma tuý nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm mà bị cáo thực hiện, mới có tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục và nâng cao hiệu quả của công tác đấu tranh, phòng ngừa tội phạm.

[5] Về hình phạt bổ sung:

Xét thấy bị cáo Trịnh Ngọc T không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử sẽ không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

Số ma túy thu giữ của bị cáo Trịnh Ngọc T là vật cấm lưu hành nên sẽ tịch thu tiêu hủy.

[7] Đối với đối tượng bán ma túy cho Trịnh Ngọc T: tài liệu điều tra chưa đủ căn cứ kết luận nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N tách ra để tiếp tục điều tra, xử lý sau.

[8] Về án phí:

Bị cáo Trịnh Ngọc T bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Trịnh Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

    Xử phạt bị cáo Trịnh Ngọc T 01(một) năm 06(sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/5/2024.

  2. Xử lý vật chứng:

    - Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

    - Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ trong phong bì niêm phong số 1015/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh N.

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/9/2024)

  3. Án phí:

    - Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

    - Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

    Bị cáo Trịnh Ngọc T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Quyền kháng cáo:

    Bị cáo Trịnh Ngọc T có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo Trịnh Ngọc T có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nam Định;
  • - VKSND TP. Nam Định (02 bản);
  • - Công an TP. Nam Định;
  • - Cơ quan THA Hình sự - CA TP. Nam Định;
  • - Chi cục THADS TP. Nam Định;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Phạm Văn Bang

5

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 195/2024/HS-ST ngày 13/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 195/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trịnh Ngọc T - Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS 2015. Xử phạt bị cáo Trịnh Ngọc T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/5/2024.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger