|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG Bản án số: 195/2024/HS-PT Ngày: 28 - 10 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
|
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: |
Ông Nguyễn Công Hoàn |
|
Các Thẩm phán: |
Ông Nguyễn Duy Hoài Ông Đỗ Mạnh Hùng |
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Quốc Huy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Đào - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 183/2024/TLPT-HS ngày 07 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Phan Văn Q do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 139/2024/HS-ST ngày 28 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
- Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Phan Văn Q, sinh năm: 1983 tại: Hà Tĩnh. Nơi đăng ký thường trú và cư trú: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm vườn; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Quốc L và bà Trần Thị Kim O (Cả hai đều đã chết); vợ: Lê Thị Phương T, sinh năm: 1988; con: có 02 con, lớn nhất sinh năm 2013 và nhỏ nhất sinh năm: 2018.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số: 137/2005/HSST ngày 30-6-2005 bị Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xử phạt 07 năm tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2
Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số: 10/2017/HS-ST ngày 22-02-2017 bị Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà xử phạt 05 tháng 07 ngày tù về tội “Đánh bạc”. Phạt bổ sung số tiền 5.000.000 đồng.
Bị cáo hiện đang tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
- Ngoài ra, trong vụ án còn có 05 bị cáo và những người liên quan không có kháng cáo và không bị kháng nghị; không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập đến phiên tòa phúc thẩm.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 13 giờ 00 phút ngày 19-3-2024, Lê Thị N ở nhà của mình thuộc thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng thì có bà Nguyễn Thị H và bà Sầm Thị S đến nhà Ngọc C, ngồi nói chuyện với nhau. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày thì cả ba cùng rủ nhau đánh bạc ăn thua bằng tiền dưới hình thức đánh: “Phỏm”. Sau khi thống nhất xong thì N đi mua 02 bộ bài tú lơ khơ loại 52 lá về nhà N rồi tiến hành đánh bạc cùng với S và H.
Khoảng 14 giờ cùng ngày, Phạm Ngọc T1 và Nguyễn Thanh H1 cũng đến nhà N chơi. Tại đây, T1 và H1 thấy mọi người đang tham gia đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đánh “Phỏm” nên có xin vào chơi cùng thì được mọi người đồng ý. Lúc này, N xin nghỉ không chơi nữa để nhường chỗ cho T1 tham gia đánh bạc cùng mọi người và N tiếp tục ngồi bên cạnh sòng bạc để xem mọi người đánh bạc. Khi mọi người chơi được 02 đến 03 ván thì Phan Văn Q cũng đến nhà Ngọc chơi; Q thấy mọi người tham gia đánh bạc nên có xin vào chơi cùng thì được bà H nhường chỗ cho Q đánh bạc. Sau khi Q vào thay vị trí của H tham gia đánh bạc cùng với S, H1 và T1 thì H tiếp tục ngồi xem mọi người đánh bạc. Khoảng 15 giờ cùng ngày, khi mọi người đang tham gia đánh bạc thì có Vũ Thị T2 đến nhà N chơi và cũng ngồi xem mọi người đánh bạc. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày thì lực lượng Công an bắt quả tang, T1 và Q bỏ chạy; Cơ quan Công an tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang và thu giữ tang vật.
Quá trình điều tra xác định các bị cáo Sầm Thị S, Phan Văn Q, Lê Thị N, Nguyễn Thanh H1, Phạm Ngọc T1 và Nguyễn Thị H đã sử dụng số tiền 16.200.000 đồng vào mục đích đánh bạc. Cụ thể: Lê Thị Ngọc khi tham gia đánh bạc có số tiền 3.000.000 đồng và sử dụng hết số tiền vào mục đích đánh bạc, đồng thời sau khi Ngọc nhường chỗ cho T1 chơi đánh bạc thì N cho T1 mượn 2.000.000 đồng, cho S mượn 1.000.000 đồng để T1 và Sim đánh bạc;
3
Phan Văn Q khi tham gia đánh bạc mang theo số tiền 3.000.000 đồng và sử dụng hết số tiền này vào mục đích đánh bạc; Sầm Thị S khi tham gia đánh bạc có số tiền 3.500.000 đồng và sử dụng hết số tiền này vào mục đích đánh bạc; Nguyễn Thanh H1 khi tham gia đánh bạc mang theo số tiền 3.000.000 đồng và sử dụng hết số tiền này vào mục đích đánh bạc; Phạm Ngọc T1 sử dụng số tiền 3.000.000 đồng để tham gia đánh bạc; Nguyễn Thị H khi tham gia đánh bạc mang theo số tiền 700.000 đồng và sử dụng hết số tiền này vào mục đích đánh bạc.
Vật chứng, tài sản thu giữ: 01 chiếu nhựa màu xanh đã qua sử dụng; 02 bộ bài tú lơ khơ 52 lá đã qua sử dụng, thu giữ giữa chiếu bạc số tiền 12.550.000 đồng; thu giữ trên người bị cáo H số tiền 650.000 đồng.
Ngoài ra còn thu giữ trên người bà Vũ Thị T2 số tiền 19.000.000 đồng; thu giữ trước sân nhà ông Lê Phương H2 03 xe mô tô gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Air Blade biển kiểm soát 49D1 -312.32, 01 xe mô tô nhãn hiệu Air blade biển kiểm soát 49D1- 286.65 và 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát 49D1-342.47.
Báo trạng số: 139/CT-VKS ngày 30-7-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng đã truy tố: Sầm Thị S, Phan Văn Q, Lê Thị N, Nguyễn Thanh H1, Phạm Ngọc T1 và Nguyễn Thị H về tội: “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 139/2024/HS-ST ngày 28 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Lâm Hà đã xử:
Tuyên bố các bị cáo Sầm Thị S, Phan Văn Q, Lê Thị N, Nguyễn Thanh H1, Phạm Ngọc T1 và Nguyễn Thị H phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phan Văn Q 08 (T3) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 36 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Sầm Thị S, Lê Thị N, Nguyễn Thanh H1 và Phạm Ngọc T1
Xử phạt bị cáo Lê Thị N 20 (Hai mươi) tháng cải tạo không giam giữ.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H1 18 (Mười tám) tháng cải tạo không giam giữ.
Xử phạt bị cáo Sầm Thị S 18 (Mười tám) tháng cải tạo không giam giữ.
Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc T1 18 (Mười tám) tháng cải tạo không giam giữ.
4
Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 36 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thi H3 18 (Mười tám) tháng cải tạo không giam giữ.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về hình phạt bổ sung đối với 05 bị cáo khác trong vụ án; xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 06-9-2024 bị cáo Phan Văn Q kháng cáo đề nghị được áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tiền.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Bị cáo Phan Văn Q thay đổi kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm cho bị cáo hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:
Khi tham gia đánh bạc, bị cáo là người đến sau; bị cáo có nhân thân từng bị xử lý trách nhiệm hình sự, nhưng đến thời điểm phạm tội mới đã lâu. Tại giai đoạn phúc thẩm bị cáo có thêm tình tiết giảm nhẹ mới tại điểm t, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự; chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo.
Lời nói sau cùng: Bị cáo ăn năn hối lỗi về hành vi phạm tội, bản thân bị cáo hiện là lao động chính, có 02 con đang trong tuổi vị thành niên nên mong muốn Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Cơ quan tiến hành tố tụng tại giai đoạn sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện tại giai đoạn sơ thẩm là hợp pháp.
- [2] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo đúng về hình thức, nội dung, trong thời hạn kháng cáo nên hợp lệ, đủ cơ sở để xem xét theo trình tự, thủ tục phúc thẩm.
- [3] Về tội danh:
5
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Phan Văn Q khai nhận hành vi phạm của mình như phần nội dung bản án sơ thẩm đề cập, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm; phù hợp với lời khai của các bị cáo khác trong vụ án, người liên quan, biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đủ căn cứ kết luận:
Trong khoảng thời gian từ 13 giờ đến 15 giờ 30 phút, tại nhà của Lê Thị N, địa chỉ thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Bị cáo cùng các bị cáo khác trong cùng vụ án gồm Sầm Thị S, Lê Thị N, Nguyễn Thanh H1, Phạm Ngọc T1 và Nguyễn Thị H đã có hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền dưới hình thức “Đánh bài phỏm” với tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 16.200.000 đồng, trong đó xác định được số tiền bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là 3.000.000 đồng. Do đó, Tòa cấp sơ thẩm kết án bị cáo về tội “Đánh bạc”, theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội danh.
[4] Về hình phạt và kháng cáo:
Hành vi phạm tội của bị cáo xâm phạm đến khách thể là trật tự công cộng; gây mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, ảnh hưởng tới nếp sống văn minh xã hội, là nguyên nhân, mầm mống phát sinh các hành vi nguy hiểm, hệ lụy cho xã hội. Tại thời điểm xét xử sơ thẩm, khi quyết định hình phạt, Tòa cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo, đầu thú được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; căn cứ nhân thân bị cáo nên xử phạt bị cáo 08 tháng tù là có căn cứ và phù hợp; bảo đảm sự phân hóa tội phạm, cá thể hóa trách nhiệm hình sự trong vụ án có đồng phạm.
Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, theo Công văn 483/PC04 ngày 16-10-2024 của Công an tỉnh L xác nhận bị cáo có thành tích trong đấu tranh phòng chống tội phạm nên cần xác định đây là tình tiết giảm nhẹ mới được quy định tại điểm t, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để áp dụng thêm cho bị cáo. Do bị cáo được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ mới, trong khi xem xét tổng thể vụ án thì vai trò bị cáo như các đồng phạm khác trong cùng vụ án. Mặc dù bị cáo từng bị xử lý trách nhiệm hình sự nhưng tính đến thời điểm phạm tội mới đã lâu; bị cáo có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng; có khả năng tự cải tạo và việc cho hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Bên cạnh đó, việc áp dụng thêm cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ mới như nêu trên thì bị cáo đều đủ điều kiện hưởng án treo theo Điều 65 Bộ luật Hình sự và Văn bản hợp nhất số 02/2022/VBHN-TANDTC ngày ngày 07-9-2022 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự
6
về án treo. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm thống nhất với quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, cho bị cáo hưởng án treo để thể hiện sự khoan hồng của luật pháp.
[5] Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[6] Về các vấn đề khác: Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xét và có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Văn Q, sửa bản án sơ thẩm.
Tuyên xử:
- Về tội phạm và hình phạt:
Tuyên bố bị cáo Phan Văn Q phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phan Văn Q 08 (T3) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 16 (Mười sáu) tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm. (Ngày 28-10-2024)
Giao bị cáo Phan Văn Q cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện L giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Phan Văn Q không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
7
nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Công Hoàn |
8
Bản án số 195/2024/HS-PT ngày 28/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về hình sự phúc thẩm (tội đánh bạc)
- Số bản án: 195/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tội Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo, chuyển hình phạt cho bị cáo hưởng án treo
