TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 195/2024/DS-PT Ngày: 26-4-2024 V/v tranh chấp về thừa kế tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Vân.
Các thẩm phán:
- Ông Hồ Văn Cường;
- Bà Võ Thị Hồng Mai.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thư Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Bùi Quốc Việt - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 82/2024/TLPT-DS ngày 11 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp về thừa kế tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 10/2024/DS-ST ngày 30-01-2024, của Tòa án nhân dân huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh, bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 136/2024/QĐ-PT ngày 13-3-2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Phạm Văn T, sinh năm 1973.
Nơi cư trú: Ấp S, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
- Bị đơn: Ông Hồ Văn D, sinh năm 1955.
Nơi cư trú: Ấp T, xã T, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Anh Hồ Đức L, sinh năm 1987.
Nơi cư trú: Ấp T, xã T, Huyện D, tỉnh Tây Ninh. Văn bản ủy quyền ngày 10-4-2023; vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Anh Nguyễn Hoàng L1, sinh năm 1985; nơi cư trú: Ấp P, xã S, huyện D, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- 3.1. Bà Hồ Thị D1, sinh năm 1957.
Nơi cư trú: Tổ 02, ấp T, xã T, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
- 3.2. Ông Phạm Văn N, sinh năm 1970.
Nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
- 3.1. Bà Hồ Thị D1, sinh năm 1957.
- Người kháng cáo: Ông Hồ Văn D là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn ông Phạm Văn T trình bày:
Mẹ ông là cụ Ngô Thị V, sinh năm 1937 (chết ngày 15-4-2020) có 02 người chồng. Người chồng trước là cụ Hồ Văn D2, sinh năm 1928 (chết ngày 02-8-1961) có 02 người con tên Hồ Văn D và Hồ Thị D1. Người chồng sau là cụ Phạm Văn L2 (chết năm 2019) có 02 người con tên Phạm Văn T, Phạm Văn N. Ông xác định ngoài những người con trên thì cụ V không còn người con nuôi hay con riêng nào khác. Khi cụ V và ông D2 còn sống thì có tạo lập được phần đất có diện tích khoảng 15.000 m² tại xã T, Huyện D. Sau khi ông D2 chết thì cụ V đã tiến hành chia thừa kế cho ông D, bà D1 khoảng 7.500 m², còn lại diện tích là 7.110 m² thuộc thửa số 480, 481, tờ bản đồ số 4 thì cụ V hưởng và tiến hành làm thủ tục kê khai, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 01-01-1995. Năm 1990 thì cụ V giao lại cho ông quản lý sử dụng cho đến nay, hiện giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông đang giữ. Trước khi chết, vào ngày 19-01-2009 cụ V có lập di chúc để lại toàn bộ phần đất trên cho ông được hưởng. Ngày 13-9-2022 Ủy ban nhân dân Huyện D thu hồi 2.105 m² trong diện tích 7.110 m² để thực hiện dự án kênh tiêu T12-17, ông đã nhận tiền đền bù đối với diện tích bị thu hồi, diện tích đất còn lại thì ông tiếp tục sử dụng cho đến nay. Nay cụ V đã chết nên ông yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết chia di sản thừa kế đối với phần đất có diện tích khoảng 5.005 m², thuộc thửa 480, 481, tờ bản đồ số 4 (sau khi tiến hành đo đạc hiện trạng sử dụng đất thì diện tích của phần đất là 5.307,8 m², thuộc thửa 319, 322, tờ bản đồ số 12) cho ông được hưởng toàn bộ phần đất trên. Vì căn cứ theo di chúc mà cụ V để lại có nội dung cụ V để lại toàn bộ phần đất trên cho ông được hưởng.
Bị đơn ông Hồ Văn D trình bày:
Ông thống nhất với lời trình bày của ông T về nguồn gốc của phần đất tranh chấp. Ông xác định ngoài 04 anh chị em mà ông T đã trình bày thì mẹ ông là cụ Ngô Thị V không còn con nuôi hay con riêng nào khác. Sau khi cụ V chết thì các anh chị em có bàn bạc với nhau về việc chia di sản thừa kế đối với phần đất tranh chấp nhưng không thành nên ông T khởi kiện và kèm theo bản di chúc đề ngày 14-01-2009 có chứng thực của Ủy ban nhân dân xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh ngày 19-01-2009. Theo ông thì di chúc mà ông T cung cấp là không hợp pháp vì ngày lập di chúc và ngày chứng thực không trùng khớp. Mặt khác, vì sao sau khi cụ V chết ông T không công bố di chúc và khi các anh chị em bàn bạc với nhau thì ông T cũng không đề cập đến di chúc. Năm 2022 do kênh tiêu T12-17 đi qua diện tích 2.105 m² nên Nhà nước đền bù số tiền 288.132.400 đồng, các anh chị em thống nhất chia cho ông 100.000.000 đồng, ông T được hưởng 188.132.400 đồng. Đối với phần diện tích đất còn lại chưa được chia di sản nên ông yêu cầu chia phần đất tranh chấp thành 04 phần bằng nhau cho ông, ông T, bà D1, ông N mỗi người được hưởng một phần. Vì vậy ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông T.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn, anh Hồ Đức L trình bày:
Anh thống nhất với lời trình bày trên của cha anh là ông D. Đối với bản di chúc mà ông T giao nộp cho Tòa án thì anh có ý kiến như sau:
- Nội dung di chúc có đề cấp đến vấn đề “phần đất hương quả là riêng giao cho con Hồ Văn D canh tác để hàng năm cúng giỗ cha là Hồ Văn D2” anh xác định không có thực đối với nội dung này. Bởi vì ông Hồ Văn D chưa được nhận phần đất hương hỏa để thờ cúng như di chúc đã nêu.
- Tại phần cuối của di chúc có nội dung “phần đất ruộng 7.110 m² ... thuộc quyền thừa hưởng của người con tên Phạm Văn T để lo giỗ cúng mẹ hàng năm” do đó phần đất này thuộc về phần đất hương quả. Do đó nếu phần hương hỏa mà các hàng thừa kế không thống nhất được với nhau thì phải tiến hành chia thừa kế theo quy định của pháp luật.
- Tại bản di chúc photo mà ông T nộp cho Tòa án kèm theo đơn khởi kiện mà ông sao chụp thì giữa hai tờ di chúc không có dấu mộc giáp lai của Ủy ban nhân dân xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Tuy nhiên tại bản sao của tờ di chúc mà ông T nộp cho Tòa án sau này thì lại có dấu mộc giáp lai.
- Nếu tờ di chúc này được lập thành văn bản thì phải được thực hiện tại Văn phòng công chứng và do Công chứng viên thực hiện. Tuy nhiên tờ di chúc này lại được Ủy ban nhân dân xã P, huyện G, tỉnh Tây thực hiện và do Chủ tịch ủy ban nhân dân xã C là không phù hợp.
- Ngày trong tờ di chúc là ngày 14-01-2009 tuy nhiên ngày mà Ủy ban nhân dân xã P, huyện G, tỉnh Tây chứng thực là ngày 19-01-2009, nghĩa là không trùng ngày với nhau. Do đó tờ di chúc này không được xem là di chúc bằng văn bản mà là di chúc miệng. Nếu là di chúc miệng thì phải có người làm chứng, tuy nhiên trong tờ chúc thì không có người làm chứng.
- Theo công văn mà Ủy ban nhân dân xã P trả lời cho Tòa án thì xác định hồ sơ chứng thực đối với tờ di chúc đã bị thất lạc, do đó không có căn cứ để xác định tờ chúc là hợp pháp.
Từ những ý kiến trên thì anh đề nghị Tòa án tiến hành xem xét, đánh giá tính hợp pháp của tờ di chúc để từ đó giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hồ Thị D1 trình bày:
Bà thống nhất với lời trình bày của ông T về nguồn gốc của phần đất tranh chấp. Bà xác định ngoài 04 anh chị em mà ông T đã trình bày thì mẹ bà là cụ V không còn con nuôi hay con riêng nào khác. Bà yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết cho ông T được hưởng toàn bộ phần đất tranh chấp theo đúng nội dung tờ di chúc mà cụ V để lại. Bà đồng ý với toàn bộ nội dung của tờ di chúc, không có ý kiến gì.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn N trình bày:
Ông thống nhất với lời trình bày của ông T về nguồn gốc của phần đất tranh chấp. Ông xác định ngoài 04 anh chị em mà ông T đã trình bày thì mẹ ông là cụ V không còn con nuôi hay con riêng nào khác. Ông yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết cho ông T được hưởng toàn bộ phần đất trên theo đúng nội dung tờ di chúc mà cụ V để lại. Ông đồng ý với toàn bộ nội dung của T1, không có ý kiến gì.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 10/2024/DS-ST ngày 30-01-2024, của Tòa án nhân dân huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh, quyết định.
Căn cứ vào Điều 646, 647, 648, 649, 650, 652, 653, 658 của Bộ luật Dân sự 2005.
Căn cứ vào Điều 623, 624, 643 của Bộ luật Dân sự 2015.
Căn cứ vào Điều 26, 35, 39, 147, 157, 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn T đối với ông Hồ Văn D về việc tranh chấp về thừa kế tài sản.
- Công nhận Tờ di chúc do cụ Ngô Thị V lập ngày 14-01-2009 được Ủy ban nhân dân xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh chứng thực ngày 19-01-2009 có số 02 quyển số 01/TP/CC-SCT/DCTC, là Di chúc hợp pháp.
- Ông Phạm Văn T được quyền sử dụng đối với phần đất có diện tích 5.307,8 m² (LUK) thuộc thửa số 319, 322, tờ bản đồ số 12 theo BĐĐC 2010 (trước đây là thửa 480, 481, tờ bản đồ số 04 BĐĐC 299, diện tích 5.005m²) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào sổ 01948/QSDĐ do Ủy ban nhân dân Huyện D cấp ngày 01-01-1995 cho cụ Ngô Thị V đứng tên quyền sử dụng, tọa lạc tại xã T, Huyện D, tỉnh Tây Ninh. Đất. Phần đất có tứ cận như sau:
- + Đông giáp Kênh T12-17 dài 102,2 m (số hiệu đỉnh thửa từ số 7 đến 18).
- + Tây giáp thửa 310 dài 93,25m (số hiệu đỉnh thửa 1, 20).
- + Nam giáp thửa 322 dài 67,16 m (số hiệu đỉnh thửa 18, 19, 20).
- + Bắc giáp thửa 290, 306, 305 và Kênh N4-10 dài 42,43 m (số hiệu đỉnh thửa từ số 1 đến 7).
- (có sơ đồ hiện trạng sử dụng đất kèm theo)
- Ông Phạm Văn T được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền về đăng ký đất đai để thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai và quyết định của bản án này.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 07-02-2024, ông Hồ Văn D có đơn kháng cáo không đồng ý bản án sơ thẩm yêu cầu cấp phúc thẩm chia diện tích 5307,8 m² làm 04 phần cho anh em của anh mỗi người một phần.
Tại phiên tòa:
Bị đơn ông D trình bày: Ông yêu cầu ông Phạm Văn T chừa đường làm lối đi chung cho ông D có diện tích 268,5m² thuộc thửa số 319, 322, tờ bản đồ số 12 theo BĐĐC 2010 (trước đây là thửa 480, 481, tờ bản đồ số 04 BĐĐC 299) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào số 01948/QSDĐ do Ủy ban nhân dân Huyện D cấp ngày 01-01-1995 cho cụ Ngô Thị V đứng tên quyền sử dụng, tọa lạc tại xã T, Huyện D, tỉnh Tây Ninh. Phần đất có tứ cận như sau:
- + Đông giáp đường bờ Kênh T12-17 dài 4,0m.
- + Tây giáp thửa 310 dài 4,0m.
- + Nam giáp thửa 332 dài 35,26m +31,90m.
- + Bắc giáp thửa 322 dài 31,77m + giáp thửa 319 dài 35,39m.
Nguyên đơn ông T trình bày: Ông đồng ý chừa đường làm lối đi chung cho ông Hồ Văn D có diện tích 268,5m² thuộc thửa số 319, 322, tờ bản đồ số 12 theo BĐĐC 2010 (trước đây là thửa 480, 481, tờ bản đồ số 04 BĐĐC 299) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào số 01948/QSDĐ do Ủy ban nhân dân Huyện D cấp ngày 01-01-1995 cho cụ Ngô Thị V đứng tên quyền sử dụng, tọa lạc tại xã T, Huyện D, tỉnh Tây Ninh. Phần đất có tứ cận như sau:
- + Đông giáp đường bờ Kênh T12-17 dài 4,0m.
- + Tây giáp thửa 310 dài 4,0m.
- + Nam giáp thửa 332 dài 35,26m +31,90m.
- + Bắc giáp thửa 322 dài 31,77m + giáp thửa 319 dài 35,39m.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa phúc thẩm. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
- Về nội dung: Tại phiên tòa, các đương sự đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 300 và khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, sửa bản án dân sự sơ thẩm số 10/2024/DS-ST ngày 30-01-2024, của Tòa án nhân dân huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa,Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ngày 30-01-2024, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên án, ngày 07-02-2024 bị đơn ông D có đơn kháng cáo. Kháng cáo của ông D còn trong thời hạn theo quy định tại Điều 273 của Bộ luật Tố Tụng Dân sự.
[2] Tại phiên tòa các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án cụ thể:
[2.1] Ông Phạm Văn T được quyền sử dụng đối với phần đất có diện tích 5.039,3 m² (LUK) thuộc thửa số 319, 322, tờ bản đồ số 12 theo BĐĐC 2010 (trước đây là thửa 480, 481, tờ bản đồ số 04 BĐĐC 299, diện tích 5.005 m²) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào số 01948/QSDĐ do Ủy ban nhân dân Huyện D cấp ngày 01-01-1995 cho cụ Ngô Thị V đứng tên quyền sử dụng, tọa lạc tại xã T, Huyện D, tỉnh Tây Ninh. Phần đất có tứ cận như sau:
- + Đông giáp Kênh T12-17 dài 43,45m+8,63m+19,95m+2,41m+3m+3m+3m+3m+3m +3m+ 9,76m.
- + Tây giáp thửa 310 dài 93,25 m.
- + Nam giáp đường đi nội bộ dài 35,39 m +31,77 m.
- + Bắc giáp thửa 290, 306, 305 và một phần phạm vi vùng phụ cận dài 2,39m +8,79m +9,21m +13,34m +4,93m.
[2.2] Ông Phạm Văn T đồng ý chừa đường làm lối đi chung cho ông Hồ Văn D có diện tích 268,5m² thuộc thửa số 319, 322, tờ bản đồ số 12 theo BĐĐC 2010 (trước đây là thửa 480, 481, tờ bản đồ số 04 BĐĐC 299) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào số 01948/QSDĐ do Ủy ban nhân dân Huyện D cấp ngày 01-01-1995 cho cụ Ngô Thị V đứng tên quyền sử dụng, tọa lạc tại xã T, Huyện D, tỉnh Tây Ninh. Phần đất có tứ cận như sau:
- + Đông giáp đường bờ Kênh T12-17 dài 4,0m.
- + Tây giáp thửa 310 dài 4,0m.
- + Nam giáp thửa 332 dài 35,26m +31,90m.
- + Bắc giáp thửa 322 dài 31,77m + giáp thửa 319 dài 35,39m.
[3] Xét thấy, sự thỏa thuận của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 300 của Bộ luật Tố tụng Dân sự sửa bản án dân sự sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
[4] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, sửa bản án dân sự sơ thẩm là có căn cứ.
[5] Về chi phí tố tụng: Ông T được hưởng toàn bộ phần đất di sản thừa kế, do đó căn cứ Điều 157, 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì ông T phải chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi phí đo đạc, định giá là 32.100.000 (ba mươi hai triệu một trăm nghìn) đồng. Ghi nhận ông đã nộp xong.
[ 6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Phần di sản mà ông T được hưởng là 200.000 đồng x 5.039,3 m² = 1.007.860.000 đồng. Do đó án phí mà ông T phải chịu là 42.235.800 (bốn mươi hai triệu hai trăm ba mươi lăm nghìn tám trăm) đồng.
[7] Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 5 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Ông D phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm, nhưng ông D là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông D.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 300 và khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ vào Điều 646, 647, 648, 649, 650, 652, 653, 658 của Bộ luật Dân sự 2005.
Căn cứ vào Điều 623, 624, 643 của Bộ luật Dân sự 2015.
Căn cứ vào Điều 26, 35, 39, 147, 157, 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ vào khoản 5 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
- Công nhận sự thỏa thuận giữa ông Phạm Văn T đối với ông Hồ Văn D về việc “Tranh chấp về thừa kế tài sản” tại phiên tòa phúc thẩm.
- Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 10/2024/DS-ST ngày 30-01-2024, của Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.
Sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:
- 2.1. Ông Phạm Văn T được quyền sử dụng đối với phần đất có diện tích 5.039,3 m² (LUK) thuộc thửa số 319, 322, tờ bản đồ số 12 theo BĐĐC 2010 (trước đây là thửa 480, 481, tờ bản đồ số 04 BĐĐC 299, diện tích 5.005 m²) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào số 01948/QSDĐ do Ủy ban nhân dân Huyện D cấp ngày 01-01-1995 cho cụ Ngô Thị V đứng tên quyền sử dụng, tọa lạc tại xã T, Huyện D, tỉnh Tây Ninh. Phần đất có tứ cận như sau:
- + Đông giáp Kênh T12-17 dài 43,45m + 8,63m +19,95m +2,41m+3m+3m+3m+3m+3m +3m+ 9,76m.
- + Tây giáp thửa 310 dài 93,25m.
- + Nam giáp đường đi nội bộ dài 35,39m +31,77m.
- + Bắc giáp thửa 290, 306, 305 và một phần phạm vi vùng phụ cận dài 2,39m +8,79m + 9,21m +13,34m +4,93m.
- 2.2. Ông Phạm Văn T đồng ý chừa đường làm lối đi chung cho ông Hồ Văn D có diện tích 268,5 m² thuộc thửa số 319, 322, tờ bản đồ số 12 theo BĐĐC 2010 (trước đây là thửa 480, 481, tờ bản đồ số 04 BĐĐC 299) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào số 01948/QSDĐ do Ủy ban nhân dân Huyện D cấp ngày 01-01-1995 cho cụ Ngô Thị V đứng tên quyền sử dụng, tọa lạc tại xã T, Huyện D, tỉnh Tây Ninh. Phần đất có tứ cận như sau:
- + Đông giáp đường bờ Kênh T12-17 dài 4,0m.
- + Tây giáp thửa 310 dài 4,0m.
- + Nam giáp thửa 332 dài 35,26m +31,90m.
- + Bắc giáp thửa 322 dài 31,77m + giáp thửa 319 dài 35,39m.
(Theo sơ đồ hiện trạng).
- 3. Về chi phí tố tụng: Ông Phạm Văn T phải chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi phí đo đạc, định giá là 32.100.000 (ba mươi hai triệu một trăm nghìn) đồng. Ghi nhận ông đã nộp xong.
- 4. Về án phí:
- 4.1. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Phạm Văn T phải chịu 42.235.800 (bốn mươi hai triệu hai trăm ba mươi lăm nghìn tám trăm) đồng. Khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 12.000.000 (mười hai triệu) đồng mà ông T đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0013211 ngày 27 tháng 3 năm 2023. Ông Phạm Văn T phải nộp tiếp số tiền 30.235.800 (ba mươi triệu hai trăm ba mươi lăm nghìn tám trăm) đồng.
- 4.2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Hồ Văn D được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
- 2.1. Ông Phạm Văn T được quyền sử dụng đối với phần đất có diện tích 5.039,3 m² (LUK) thuộc thửa số 319, 322, tờ bản đồ số 12 theo BĐĐC 2010 (trước đây là thửa 480, 481, tờ bản đồ số 04 BĐĐC 299, diện tích 5.005 m²) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào số 01948/QSDĐ do Ủy ban nhân dân Huyện D cấp ngày 01-01-1995 cho cụ Ngô Thị V đứng tên quyền sử dụng, tọa lạc tại xã T, Huyện D, tỉnh Tây Ninh. Phần đất có tứ cận như sau:
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Phạm Thị Hồng vân |
Bản án số 195/2024/DS-PT ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp về thừa kế tài sản
- Số bản án: 195/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về thừa kế tài sản
