|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 195/2024/DS-ST Ngày: 29-7-2024 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Tô Đông Đức
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lâm Ngọc Minh
2. Bà Vũ Thị Châu
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Thanh Xuân - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh – Kiểm sát viên
Ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 322/2023/TLST-DS ngày 22 tháng 12 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2024/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 68/2024/QĐST-DS ngày 08 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Liên Tân T, sinh năm 1994; địa chỉ: 1 N, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Nguyễn Thị Yến T1; sinh năm 1959; địa chỉ: A L N, Phường G, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh (Giấy uỷ quyền số 00011973 lập ngày 23/11/2023 tại Văn phòng C) (có đơn xin vắng mặt).
- Bị đơn: Bà Trần Phương T2, sinh năm 1990; địa chỉ: 2 L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 28/11/2023, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:
Ông Liên Tân T và bà Trần Phương T2 quen biết từ năm 2022. Ông T có cho bà T2 vay số tiền 500.000.000 đồng sử dụng vào mục đích cá nhân. Hợp đồng vay tiền trên được hai bên ký kết vào ngày 26/9/2022 tại Văn phòng C (số C quyển số 01/2022.TP/CC-SCC/HĐGD), nội dung: Số tiền vay là 500.000.000 đồng, thời hạn vay: 15 ngày, kể từ ngày ký hợp đồng, lãi suất: 0,75%/tháng; mục đích vay: sử dụng mục đích cá nhân của bà T2; bà T2 cam kết sử dụng các tài sản của bà T2 để thanh toán khoản vay nêu trên khi đến hạn. Bà T2 đã nhận đủ số tiền 500.000.000 đồng và ký nhận.
Đến ngày 28/11/2023, nguyên đơn nhận thấy đã quá thời hạn bà Trần Phương T2 cam kết trả số nợ trên nhưng bà T2 vẫn chưa trả. Do đó, nguyên đơn ông Liên Tân T khởi kiện, yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết buộc bà Trần Phương T2 trả cho ông Liên Tân T số tiền đã vay là 500.000.000 đồng.
* Tòa án nhân dân Quận 11 đã tiến hành đã thực hiện đầy đủ thủ tục tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng đối với bị đơn bà Trần Phương T2 nhưng bị đơn không phản hồi ý kiến.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa có ý kiến như sau:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Tòa án nhân dân Quận 11, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và các thành viên trong Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về tố tụng. Việc tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ, thông báo, tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; việc tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho đương sự và gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát được thực hiện đúng với quy định của pháp luật. Tuy nhiên vẫn chưa đảm bảo thời hạn giao Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho Viện kiểm sát nhân dân Quận 11.
Về nội dung vụ án: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bà Trần Phương T2 trả lại số tiền đã vay là 500.00.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
- Về thủ tục tố tụng:
- Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Ông Liên Tân T khởi kiện bà Trần Phương T2 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Đây là tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp huyện theo quy định tại khoản 3 Điều 26 và điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự. Qua xác minh, bị đơn Trần Phương T2 có nơi cư trú tại Quận A nên Tòa án nhân dân Quận 11 thụ lý và giải quyết là đúng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Phiên tòa xét xử vụ án được mở vào lúc 09 giờ 00 phút, ngày 08 tháng 7 năm 2024 và lúc 09 giờ 00 ngày 29 tháng 7 năm 2024; bị đơn bà Trần Phương T2 đã được thông báo về thời gian và địa điểm xét xử vụ án nêu trên nhưng đều vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho bị đơn bà Trần Phương T2 các văn bản tố tụng: Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa. Thông báo về
việc thụ lý vụ án đã ghi rõ nội dung sự việc, yêu cầu của nguyên đơn và các tài liệu chứng minh cho yêu cầu của nguyên đơn. Tuy nhiên, phía bị đơn không đến Tòa án để giải quyết vụ án, không có ý kiến phản hồi về yêu cầu của nguyên đơn, không cung cấp chứng cứ chứng minh đã trả số tiền trên cho nguyên đơn. Như vậy, bị đơn đã từ bỏ quyền chứng minh và cung cấp chứng cứ của mình nên căn cứ khoản 2, khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành giải quyết vụ án theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Căn cứ vào Hợp đồng vay tiền lập ngày 26/9/2022 tại Văn phòng C (số C quyển số 01/2022.TP/CC-SCC/HĐGD) được ký kết giữa ông Liên Tân T và bà Trần Phương T2, có cơ sở để xác định phía bị đơn đã vay của nguyên đơn với số tiền vay tổng cộng là 500.000.000 đồng. Đây là giao dịch dân sự trên cơ sở tự nguyện, không trái pháp luật, đạo đức xã hội, tuân thủ các quy định của pháp luật về hình thức và nội dung, phù hợp với quy định tại Điều 117, Điều 463 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên được thừa nhận, được bảo vệ và là căn cứ phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, phía bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên việc ông Liên Tân T khởi kiện yêu cầu phía bị đơn trả toàn bộ số nợ, là phù hợp với quy định tại Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 4 Hợp đồng vay tiền trên.
Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy có cơ sở chấp nhận yêu cầu về thanh toán nợ của nguyên đơn, buộc bà Trần Phương Thanh thanh t cho ông Liên Tân T số tiền đã vay là 500.000.000 đồng.
- Về án phí:
Căn cứ khoản 4 Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị đơn phải chịu án phí dân sự có giá ngạch đối với yêu cầu buộc bị đơn trả số tiền là 500.000.000 đồng của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2, khoản 4 Điều 91; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 266; Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân;
Căn cứ vào Điều 117, Điều 357, Điều 463, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Liên Tân T, buộc bà Trần Phương Thanh thanh t cho ông Liên Tân T số tiền còn nợ là 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng. Thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền
còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về án phí: Bị đơn bà Trần Phương T2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 24.000.000 (hai mươi bốn triệu) đồng.
- Trong trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
H lại cho ông Liên Tân T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 12.000.000 (mười hai triệu) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0021897 ngày 19/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Tô Đông Đức |
Bản án số 195/2024/DS-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 195/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
