Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC GIANG
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 194/2023/HS - PT.
Ngày: 29 - 11 - 2023.

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Gia Lương.

Các thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Nhiên.

Bà Trần Thị Hà.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hoan - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị T - Kiểm sát viên.

Ngày 29/11/2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 223/2023/TLPT-HS ngày 28/7/2023, đối với bị cáo Dương Thị N, do có kháng cáo của bị cáo Dương Thị N đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 104/2023/HS-ST ngày 21/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang;

* Bị cáo kháng cáo:

Họ và tên: Dương Thị N, sinh năm 1979; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không;

Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường N, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Giám đốc Công ty TNHH S; Trình độ học vấn: 12/12; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không;

Con ông Dương Minh C, sinh năm 1954;

Con bà Vũ Thị R, sinh năm 1957;

Gia đình có 03 chị em, bị cáo là thứ nhất;

Chồng: Nguyễn Quang T1, sinh năm 1973;

Bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2009;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại (Có mặt tại phiên tòa).

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo nhưng liên quan đến kháng cáo: Chi cục Kiểm lâm tỉnh B; do ông Từ Quốc H - Chi cục trưởng đại diện ( Có mặt).

Trong vụ án còn có 02 bị cáo khác, và 09 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị nên cấp phúc thẩm không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Dương Thị N là Giám đốc Công ty TNHH S (viết tắt là công ty S) được Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố H cấp Giấy chứng nhận Đăng ký doanh lần đầu ngày 27/5/2005, đăng ký thay đổi lần thứ 12 ngày 12/8/2021, địa chỉ trụ sở chính: Số A, ngõ F, đường H, phường K, quận T, thành phố Hà Nội (năm 2020 Dương Thị N nhận chuyển nhượng pháp nhân Công ty S từ ông Mai Nam L là Giám đốc Công ty). Phạm vi hoạt động xây dựng của Công ty: thi công xây dựng công trình dân dụng, giao thông đường bộ, hạ tầng kỹ thuật (cấp thoát nước)-Hạng III. Trong quá trình điều hành hoạt động của Công ty S, N quen biết bị cáo Nguyễn Xuân Q (nguyên là Chủ tịch Ủy ban thị trấn B năm 2021) và bị cáo Nguyễn Đức L1.

Tháng 11/2021, Dương Thị N biết và tìm hiểu được: Ngày 29/7/2021, Ủy ban nhân dân tỉnh B ban hành Quyết định số 1605/QĐ-UBND về việc phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình: Nâng cao năng lực phòng cháy, chữa cháy rừng; bảo vệ phát triển rừng tỉnh Bắc Giang. Chủ đầu tư thực hiện dự án là Chi cục Kiểm lâm tỉnh B; tổng mức đầu tư 72.525.279.000 đồng; trong đó, gói thầu số 02 “Xây dựng mới, chăm sóc đường băng xanh cản lửa” (viết tắt là gói thầu số 02), dự toán là 3.804.771.000 đồng, thời gian thực hiện gói thầu từ năm 2021 đến năm 2024. Ngày 18/11/2021, Chi cục Kiểm lâm tỉnh B ban hành Quyết định số 238/QĐ-KL về việc phê duyệt Hồ sơ mời thầu gói thầu số 02. Ngày 22/11/2021, Chi cục Kiểm lâm tỉnh B đăng tải Thông báo mời thầu số 20211161626-00 trên hệ thống đấu thầu quốc gia đối với gói thầu số 02, hình thức lựa chọn nhà thầu là đấu thầu rộng rãi trong nước qua mạng, phương thức đấu thầu một giai đoạn một túi hồ sơ. Tiêu chuẩn đánh giá về năng lực kinh nghiệm của nhà thầu theo hồ sơ mời thầu của Chi cục Kiểm lâm tỉnh B bao gồm: Kinh nghiệm thực hiện hợp đồng xây lắp tương tự: số liệu tối thiểu các hợp đồng tương tự theo mô tả mà nhà thầu đã hoàn thành toàn bộ hoặc hoàn thành phần lớn với tư cách là nhà thầu chính (độc lập hoặc thành viên liên danh) hoặc nhà thầu phụ trong vòng 03 năm (2018, 2019, 2020); số lượng hợp đồng bằng 2 hoặc khác 2; ít nhất có 01 hợp đồng có giá trị tối thiểu là 2.660.000.000 đồng và tổng giá trị tất cả các hợp đồng ≥ 5.320.000.000 đồng.

Doanh thu bình quân hàng năm tối thiểu là 2.600.000.000 đồng, trong vòng 03 năm 2018, 2019, 2020.

Sau khi tìm hiểu các thông tin về gói thầu trên, N muốn Công ty S được trúng thầu thi công gói thầu này nên đã gửi thông tin về gói thấu số 2 qua Zalo cho Nguyễn Đức L1, nhờ L1 nghiên cứu, lập hồ sơ dự thầu của Công ty S để được tham gia dự thầu. L1 đồng ý và yêu cầu N cung cấp cho L1 một số hợp đồng thi công xây dựng của Công ty S, sau khi nghiên cứu tài liệu do N cung cấp, L1 thấy Công ty S chỉ có 01 hợp đồng tương tự đủ điều kiện tham gia dự thầu, còn thiếu 01 hợp đồng tương tự nên không đáp ứng được yêu cầu của hồ sơ mời thầu nên thông báo cho N biết. Ngoài ra, N phát hiện doanh thu hàng năm của Công ty thấp hơn yêu cầu của điều kiện dự thầu. Do đó, N nảy sinh ý định làm khống thêm hồ sơ xây dựng và chỉnh sửa lại doanh thu hàng năm của Công ty để đáp ứng điều kiện dự thầu.

Để đáp ứng yêu cầu về năng lực kinh nghiệm trong thực hiện hợp đồng tương tự về xây dựng nêu trong hồ sơ mời thầu gói thầu trên, N đã đến phòng làm việc của Nguyễn Xuân Q- nguyên Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn B trao đổi về việc Công ty S muốn tham dự gói thầu số 02, tuy nhiên Công ty S không đủ hồ sơ năng lực, nhờ Q ký hộ một số tài liệu trong hợp đồng tương tự để Công ty S đảm bảo điều kiện tham gia dự thầu đối với gói thầu số 2, thì Q đồng ý và không lấy tiền. Sau khi được Q đồng ý, N nói với L1 về việc sẽ nhờ người ký hợp đồng khống để có thêm một hợp đồng tương tự và nhờ L1 lập khống hợp đồng tương tự và văn bản liên quan (nội dung không đúng thực tế) về việc Công ty S ký hợp đồng thi công xây dựng kênh mương tại thị trấn B có giá trị trên 5 tỷ đồng. Sau đó, N cung cấp thông tin để L1 lập khống hợp đồng xây dựng cải tạo nâng cấp kênh chính giữa Công ty S với chủ đầu tư là Ủy ban nhân dân thị trấn B, đơn vị tư vấn giám sát là Công ty trách nhiệm hữu hạn X BG, địa chỉ ở khu E, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang đề ngày 21/02/2020 với tổng giá trị 5.520.090.000 đồng kèm theo hợp đồng khống là các tài liệu khống là biên bản nghiệm thu hoàn thành công trình bàn giao đưa vào sử dụng, bảng tổng hợp đơn giá. Sau khi soạn thảo xong hợp đồng cùng các tài liệu có liên quan, Luân chuyển file mềm tài liệu cho N (qua mạng xã hội Zalo) để N kiểm tra. Sau khi nhận được tài liệu khống do Luân chuyển đến, N đã chỉnh sửa biên bản nghiệm thu hoàn thành công trình bàn giao đưa vào sử dụng ở mục đại diện chủ đầu tư N đánh thêm tên Nguyễn Văn H1- Công chức địa chính xây dựng; ở phần đại diện tư vấn giám sát đánh thêm tên Mai Nam L- Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn X (viết tắt là Công ty V), tên Nguyễn Tuấn A; ở phần đại diện đơn vị thi công đánh thêm tên Lê T2 - Cán bộ kỹ thuật (trong đó Nguyễn Tuấn A, Lê Văn T3 là do N tự nghĩ ra tên rồi đánh vào biên bản). Cuối tháng 11 năm 2021, N in các tài liệu hồ sơ xây dựng khống do L1 gửi nêu trên ra rồi đem đến thị trấn B, huyện V đưa cho Q ký xác nhận. Sau đó N tiếp tục mang hợp đồng xây dựng lập khống cùng các tài liệu khống kèm theo hợp

đồng với Ủy ban nhân dân thị trấn B đã có chữ ký của Nguyễn Xuân Q đến bộ phận một của của Ủy ban thị trấn Bích Động đóng dấu tròn của Ủy ban nhân dân thị trấn B và dấu chức danh của Q. Tiếp đó, N đi ra thành phố Hà Nội nhờ bạn mới quen chỉ biết tên O, sinh khoảng năm 1981 còn họ tên, địa chỉ cụ thể không biết, nhờ O cầm biên bản nghiệm thu hoàn thành công trình xây dựng giữa Công ty S với Ủy ban nhân dân thị trấn B đi gặp ông Mai Nam L- Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn V, để ông L ký tại mục Đơn vị tư vấn giám sát trên tài liệu này. Khoảng 30 phút, O cầm tài liệu đưa lại cho N đã có chữ ký của ông L vào biên bản nghiệm thu rồi N mang về đóng dấu tròn, dấu chức danh của ông L (thời điểm này N vẫn đang quản lý con dấu của Công ty V- là Công ty N1 cùng ông L thành lập).

Đồng thời với việc làm khống hồ sơ xây dựng với Ủy ban nhân dân thị trấn B, N đã nhờ chị Cao Thị T4, sinh năm 1991, ở Tòa IA20, KĐT N, phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội làm nghề kế toán tự do, đã từng làm hoạch toán thuế thuê cho Công ty S trước đây làm hộ một số tài liệu: báo cáo tài chính, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh... của Công ty S trong các năm 2018, 2019 và 2020 có danh số thu bình quân đảm bảo tiêu chẩn dự thầu nhưng không nói cho chị T4 biết dùng để dự thầu của gói thầu nêu trên. N đọc cho các số liệu liên quan đến hạng mục công trình và doanh thu của Công ty S cho chị T4 để chị T4 làm các tài liệu theo số liệu N cung cấp. Sau khi làm xong báo cáo tài chính, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty S như N nhờ, chị T4 gửi file mềm các tài liệu cho N rồi N tự in ra và tự đóng dấu Công ty S vào các tài liệu này.

Sau khi hoàn thiện xong hồ sơ dự thầu khống nêu trên, N gửi bản Scan cho L1 để L1 đăng tải hồ sơ dự thầu của Công ty S đối với gói thầu số 2 tại hệ thống đấu thầu quốc gia và trả công cho L1 3.000.000 đồng, đồng thời N gửi bản gốc đến Chi cục Kiểm lâm B để dự thầu.

Ngày 10/12/2021, Chi cục Kiểm lâm B ban hành Quyết định số 259/QĐ-KL về việc phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu Gói thầu số 02. Đơn vị trúng thầu: Công ty S, giá trúng thầu: 3.801.234.000 đồng; loại hợp đồng: trọn gói; thời gian thực hiện hợp đồng 35 tháng kể từ ngày hợp đồng có hiệu lực.

Trong quá trình thực hiện gói thầu, ngày 19/9/2022 hành vi sai phạm trong việc lập hồ sơ dự thầu, trúng thầu gói thầu số 02 nêu trên của Công ty S đã bị nhân dân phát hiện và phản ánh trên B1.

Ngày 28/10/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B thu giữ tại Chi cục Kiểm lâm tỉnh B: Bản gốc tài liệu liên quan đến Công trình “Cải tạo, nâng cấp kênh chính”, gồm: hợp đồng thi công xây dựng số 12/HĐ-XD ngày 21/02/2020 (ký hiệu giám định A1); bảng tổng hợp đơn giá kèm theo hợp đồng (ký hiệu giám định A2); biên bản nghiệm thu hoàn thành công trình bàn giao đưa vào sử dụng (ký hiệu giám định A3).

Ngày 29/10/2022, Nguyễn Đức L1 giao nộp: 01 máy tính laptop của L1 sử dụng để soạn thảo các tài liệu khống hồ sơ dự thầu gói thầu nêu trên của Công ty S.

Ngày 14/11/2022, Dương Thị N giao nộp: 01 (một) Chứng chỉ năng lực hoạt động xây dựng số: BAG-00036688 (Ban hành kèm theo Quyết định số 16/QĐ-SXD ngày 26/02/2020) (ký hiệu giám định A) của Công ty trách nhiệm hữu hạn S do Sở xây dựng tỉnh B cấp ngày 26/02/2020, mang tên phó giám đốc sở xây dựng là Nguyễn Văn Đ, đóng dấu Sở xây dựng tỉnh Bắc Giang. Có nội dung thể hiện “Pham vi hoạt động xây dựng: Thi công xây dựng công trình: Dân dụng, giao thông đường bộ, hạ tầng kỹ thuật (cấp, thoát nước)- Hạng III; Thi công xây dựng công trình: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn- Hạng III”. Tài liệu bản gốc đã được ép P.

Ngày 22/11/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B tiến hành khám xét nơi ở và nơi làm việc của Nguyễn Xuân Q tại Văn phòng Đảng khối doanh nghiệp huyện V. Kết quả khám xét nơi ở: không thu giữ gì; tại nơi làm việc của Nguyễn Xuân Q, thu giữ: 01 con dấu chức danh có nội dung “CHỦ TỊCH NGUYỄN XUÂN QUANG” (ký hiệu giám định M22) và 01 (một) con dấu chữ có nội dung “NGUYỄN XUÂN QUANG”.

Cùng ngày 22/11/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B, tiến hành khám xét nơi ở và trụ sở Công ty TNHH S của Dương Thị N. Kết quả khám xét thu giữ tại nơi ở: tài liệu là các loại giấy tờ (hợp đồng giao khoán, quyển nhật ký thi công, lệnh xuất kho...liên quan đến hoạt động của Công ty S) nhưng không liên quan đến hành vi phạm tội; tại Công ty S: 01(một) con dấu của Công ty Cổ phần P1 (viết tắt là Công ty P1), mã số doang nghiệp: 0107528032 và một số tài liệu giấy tờ (Hóa đơn GTGT và hợp đồng thi công xây dựng...của Công ty S) nhưng không liên quan đến hành vi phạm tội. Ngày 08/3/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V tiến hành khám xét nơi ở của Nguyễn Đức L1, kết quả khám xét không thu giữ được tài liệu, đồ vật gì.

Ngày 18/4/2023, Nguyễn Đức L1 đã tự nguyện nộp lại 3.000.000 đồng tiền N trả tiền công khi lập hồ sơ đấu thầu khống cho N.

Ngày 04/11/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B ra Quyết định trưng cầu giám định số 401 trưng cầu Phòng K Công an tỉnh giám định chữ ký tại các mục đề tên Nguyễn Xuân Q, Dương Thị N và hình dấu có nội dung UBND thị trấn B, Công ty TNHH S trên Hợp đồng tương tự và các văn bản liên quan đến công trình “Cải tạo, nâng cấp kênh chính”.

Tại Kết luận giám định số 2034/KL-KTHS ngày 08/11/2022 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

“1. Chữ ký dưới các mục “Đại diện bên giao thầu”, “Đại diện chủ đầu tư", “Đ.D chủ đầu tư" trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A1, A2, A3) so với chữ ký của ông Nguyễn Xuân Q trên các tài liệu mẫu (M1 đến M14) là do cùng một người ký ra.

2. Chữ ký dưới các mục “Đại diện bên nhận thầu", "Đại diện nhà thầu", “Đ.D đơn vị thì công” trên các tài liệu cần giám định ký hiệu (A1, A2, A3) so với chữ ký của Dương Thị N trên các tài liệu mẫu (ký hiệu từ M15 đến M21) là do cùng một người ký ra.

3. Hình dấu tròn đỏ có nội dung “U.B.N.D THỊ TRẤN BÍCH ĐỘNG H. VIỆT YÊN T. BẮC GIANG" trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A1, A2, A3) so với hình dấu tròn đỏ có cùng nội dung trên các tài liệu mẫu (ký hiệu từ M1 đến M14) là do cùng một con dấu đóng ra.

4. Hình dấu tròn đỏ có nội dung "MSDN: 0500467339. CTTNHH CÔNG TY TNHH S1" trên các tài liệu cần giảm định (ký hiệu A1, A2, A3) so với hình dấu tròn đỏ có cùng nội dung trên tài liệu mẫu (ký hiệu M21) là do cùng một con dấu đóng ra.”

Ngày 29/3/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V, tỉnh Bắc Giang ra Quyết định trưng cầu giám định bổ sung số 03 trưng cầu Phòng K Công an tỉnh giám định hình dấu có nội dung “CHỦ TỊCH NGUYỄN XUÂN QUANG” trên tài liệu cần giám định (ký kiệu A1, A2 A3) so với hình dấu có cùng nội dung trên mẫu (ký hiệu M22) có phải do cùng một con dấu đóng ra không. Hình dấu có nội dung “GIÁM ĐỐC DƯƠNG THỊ NGA”,trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A1, A2) so với các hình dấu có cùng nội dung trên mẫu (ký hiệu M24) có phải do cùng con dấu đóng ra không. Hình dấu tròn có nội dung “CÔNG TY TNHH XÂY DỰNG VIETCONST BG” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A3) so với hình dấu có cùng nội dung trên tài liệu mẫu (ký hiệu M23) có phải do cùng con dấu đóng ra không. Chữ ký mang tên “Giám đốc Mai Nam L” dưới mục “Đ.D TVGS” trên tài liệu cần giám (ký hiệu A3) định so với chữ ký của ông Mai Nam L trên mẫu so sánh có phải do cùng một người ký ra hay không.

Tại bản kết luận giám định bổ sung số 565/KL-KTHS ngày 31/3/2023 của Phòng K - Công an tỉnh B, kết luận:

“1. Hình dấu chức danh có nội dung “CHỦ TỊCH NGUYỄN XUÂN QUANG” dưới các mục “Đại diện bên giao thầu”, “Đại diện chủ đầu tư”, “Đ.D chủ đầu tư) trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A1, A2, A3) so với các hình dấu có cùng nội dung trên tài liệu mẫu (ký hiệu M 22) là do cùng con dấu đóng ra.

2. Hình dấu chức danh có nội dung “GIÁM ĐỐC DƯƠNG THỊ NGA” dưới các mục “Đại diện bên nhận thầu”, “Đại diện nhà thầu” trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A1, A2) so với hình dấu có cùng nội dung trên tài liệu mẫu (ký hiệu M24) là do cùng con dấu đóng ra.

3. Hình dấu tròn có nội dung “CÔNG TY T.N.H.H XÂY DỰNG VIETCONST BG” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A3) so với các hình dấu có cùng nội dung trên tài liệu cần giám định ký hiệu (M23) là do cùng con dấu đóng ra.

4. Chữ ký mang tên Mai Nam L dưới mục “Đ.D TVGS” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A3) so với chữ ký của Mai Nam L trên tài liệu mẫu (ký hiệu từ M25 đến M33) là không phải do cùng một người ký ra.”

Ngày 14/4/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V ra Quyết định trưng cầu giám định số 136 trưng cầu Phòng K Công an tỉnh giám định: Hình dấu tròn có nội dung “CỘNG HÒA X.H.C.N VIỆT NAM, TỈNH BẮC GIANG, SỞ XÂY DỰNG” trên “Chứng chỉ năng lực hoạt động xây dựng” số BAG-0036688 mang tên Công ty TNHH S (ký hiệu A) so với hình dấu tròn có cùng nội dung trên tài liệu mẫu (ký hiệu M2) có phải cùng một con dấu đóng ra không. Chữ ký Nguyễn Văn Đ dưới mục “KT.GIÁM ĐỐC, PHÓ GIÁM ĐỐC” trên “Chứng chỉ năng lực hoạt động xây dựng” số BAG-0036688 (ký hiệu A) so với chữ ký của Nguyễn Văn Đ trên tài liệu mẫu (ký hiệu M1) có phải là chữ ký trực tiếp không.

Tại bản kết luận giám định số 729/KL-KTHS ngày 25/4/2023 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận:

“1. Hình dấu tròn có nội dung “CỘNG HÒA X.H.C.N VIỆT NAM- SỞ XÂY DỰNG - TỈNH BẮC GIANG” và chữ ký mang tên Nguyễn Văn Đ dưới mục “KT. GIÁM ĐỐC- PHÓ GIÁM ĐỐC” trên “Chứng chỉ năng lực hoạt động xây dựng” số BAG-0036688 (ký hiệu A) là giả, được làm bằng phương pháp in phun màu.

2. Chữ ký cạnh mục “KT. GIÁM ĐỐC PHÓ GIÁM ĐỐC” trên “Chứng chỉ năng lực hoạt động xây dựng” số BAG-0036688 (ký hiệu A) được làm bằng phương pháp in phun màu.” (Bút lục số 134)

Dương Thị N khai, khoảng giữa tháng 11/2021, N đến Bộ phận một cửa của Sở Xây dựng tỉnh B đặt tại Trung tâm hành chính công tỉnh B để xin cấp được thêm phạm vi hoạt động xây dựng là thi công xây dựng công trình “Nông nghiệp và phát triển nông thôn - Hạng III” cho Công ty S. Tại đây, N được cán bộ làm nhiệm vụ tiếp nhận hồ sơ của Sở Xây dựng hướng dẫn về quy trình các bước và các tài liệu cần có để được cấp thêm phạm vi hoạt động xây dựng trên chứng chỉ năng lực hoạt động xây dựng và nói với N nếu hồ sơ đầy đủ thì thời gian được cấp là khoảng một tháng. N ghi lại một số thủ tục cần có và các bước cần thực hiện để được cấp thêm phạm vi hoạt động xây dựng ra giấy rồi đi ra ghế ngồi ở sảnh đợi. Lúc này, có một người phụ nữ đến ngồi gần N (nhưng N không nhớ họ tên, địa chỉ cụ thể ở đâu) giới thiệu là cán bộ làm ở Sở Xây dựng nên N đã nhờ người phụ nữ này giúp N thực hiện các quy trình cấp thêm phạm vi hoạt động xây dựng. Người phụ nữ này đồng ý và nói với N để làm việc này phải đóng tiền lệ phí là 1.000.000 đồng. N đưa cho người phụ nữ này số tiền 3.000.000 đồng (trong đó có 1.000.000 đồng là tiền lệ phí, còn 2.000.000 đồng là số tiền N đưa thêm để cảm ơn người này

đã nhận lời làm thủ tục giúp). Sau đó, người phụ nữ cho N số điện thoại di động và viết ra giấy các mục tài liệu cần phải chuẩn bị, rồi hẹn N đến cuối giờ chiều cùng ngày quay lại Trung tâm hành chính công tỉnh B để đưa cho người này. N làm theo hướng dẫn của người phụ nữ. Khoảng hai tuần sau, khoảng cuối tháng 11/2021, người phụ nữ này gọi điện thoại và bảo N đến Trung tâm hành chính công tỉnh Bắc Giang lấy chứng chỉ năng lực hoạt động xây dựng mới. Khi gặp lại nhau, N được người phụ nữ đưa lại 01 chứng chỉ năng lực hoạt động xây dựng mới, chứng chỉ này có thêm phạm vi hoạt động thi công xây dựng công trình: Nông nghiệp và phát triển nông thôn - Hạng III. Sau đó, ngày 14/11/2022, N đã tự giao nộp giấy chứng chỉ năng lực hoạt động xây dựng trên cho Cơ quan điều tra Công an tỉnh B. Dương Thị N hoàn toàn không biết Chứng chỉ năng lực xây dựng này là tài liệu giả. Do đó, Cơ quan điều tra không xem xét xử lý về hành vi “Làm giả hoặc sử dụng tài liệu, con dấu giả của cơ quan, tổ chức” theo Điều 341 Bộ luật hình sự đối với Dương Thị N.

Tại Bản cáo trạng số 88/CT-VKS ngày 31/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên truy tố các bị cáo Nguyễn Xuân Quang, Dương Thị Nga, Nguyễn Đức L1 về tội “Giả mạo trong công tác” theo điểm c khoản 2 Điều 359 của Bộ luật hình sự.

Bản án hình sự sơ thẩm số: 104/2023/HS-ST ngày 21/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang đã quyết định:

Căn cứ điểm c khoản 2 và khoản 5 Điều 359; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 50; Điều 38 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Dương Thị N 03 (Ba) năm tù về tội “Giả mạo trong công tác”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

Cấm bị cáo N đảm nhiệm chức vụ quản lý kinh tế trong lĩnh vực Nhà nước trong thời hạn 01 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.

Phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo N 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng) để sung ngân sách Nhà nước.

Ngoài ra bản án còn tuyên xử phạt đối với bị cáo khác, về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 21/6/2023, bị cáo Dương Thị N nộp đơn kháng cáo; nội dung kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo Dương Thị N giữ nguyên yêu cầu kháng cáo với lý do: Năm 2023, bị cáo được Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H, huyện H “ Ghi nhận tấm lòng vàng” vì đã có tấm lòng hảo tâm ủng hộ quỹ khuyến học xã năm 2023; tặng Giấy khen vì đã có thành tích xuất sắc trong công tác chăm sóc và bảo vệ trẻ em năm 2023; có ông Nguyễn Quang B là bố chồng được nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhì đã có công lao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Bị cáo đã nộp 15.000.000 đồng tiền phạt bổ sung như án sơ thẩm tuyên; Chi cục Kiểm Lâm tỉnh B có công văn số 429/KL-HCTC ngày 22/9/2023 đề nghị cho bị cáo tiếp tục thực hiện gói thầu và xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Chi cục Kiểm lâm tỉnh B, ông Từ Quốc H - Chi cụ trưởng tham gia phiên tòa Phúc thẩm dề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên Hợp đồng đấu thầu giữa Chi cục Kiểm lâm tỉnh B với Công ty TNHH S do bị cáo Dương Thị N làm giám đốc vì thời hạn Hợp đồng còn khoảng gần 1 năm, nếu hủy Hợp đồng sẽ mất thời gian, gây tốn kém tiền của cho nhà nước. Hiện Công ty S vẫn thực hiện tốt Hợp đồng không có vi phạm gì.

Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đưa ra đề nghị xem xét các vấn đề kháng cáo mà bị cáo nêu ra đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự; chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Dương Thị N, sửa bản án sơ thẩm giữ nguyên hình phạt 03 năm của bản án sơ thẩm nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, giao bị cáo cho UBND nơi bị cáo cư trú giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Do kháng cáo của bị cáo Dương Thị N được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Bị cáo Dương Thị N không tranh luận đối đáp gì với quan điểm của Viện kiểm sát.

Bị cáo Dương Thị N nói lời sau cùng: Hành vi của bị cáo là sai, vi phạm pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo để thực hiện phần còn lại của Hợp đồng với Chi cục Kiểm lâm tỉnh B.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Dương Thị N đã được làm trong thời hạn kháng cáo theo đúng quy định tại khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự nên được coi là đơn kháng cáo hợp pháp. HĐXX chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.

[2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo Dương Thị N thì thấy: Khoảng cuối tháng 11/2021, bị cáo Dương Thị N được sự đồng ý giúp đỡ không lấy tiền của bị cáo Nguyễn Xuân Q - Nguyên Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện V năm 2020 - 2021 sẽ ký khống cho hợp đồng thi công xây dựng không có thật do Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện V làm chủ đầu tư với Công ty trách nhiệm hữu hạn S do N làm Giám đốc để N nộp hồ sơ dự thầu gói thầu số 02 “ Xây dựng mới, chăm sóc

đường băng xanh cản lửa” của Chi cục Kiểm Lâm tỉnh B là chủ đầu tư. Bị cáo N thuê bị cáo Dương Đức L2 làm khống hồ sơ xây dựng thi công công trình không có thật “ Cải tạo nâng cấp kênh chính” do Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện V làm chủ đầu tư với Công ty S, gồm các tài liệu: Hợp đồng thi công xây dựng số 12/HĐ-XD, ngày 21/02/2020; Bảng tổng hợp đơn giá kèm theo hợp đồng; Biên bản nghiệm thu hoàn thành công trình bàn giao đưa vào sử dụng rồi đưa cho Nguyễn Xuân Q ký khống vào các tài liêu nêu trên. Sau đó, Dương Thị N cùng Nguyễn Đức L1 đăng tải, nộp hồ sơ hồ sơ xây dựng khống nêu trên lên hệ thống đấu thầu Quốc gia và Chi cục Kiểm Lâm tỉnh B đăng ký dự thầu rồi trúng thầu gói thầu số 02 “ Xây dựng mới, chăm sóc đường băng xanh cản lửa” của Chi cục Kiểm Lâm tỉnh B là chủ đầu tư. Sau khi trúng thầu, Công ty trách nhiệm hữu hạn S đã thi công có hiệu quả gói thầu số 2, không gây thiệt hại về tài sản cho chủ đầu tư.

Như vậy, hành vi của bị cáo Dương Thị N đã làm giấy tờ, tài liệu, chữ ký của người có chức vụ, quyền hạn và đã tác động vào làm cho tài liệu, giấy tờ, chữ ký của người có chức vụ, quyền hạn bị sai lệch, không đúng thực tế nên đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Giả mạo trong công tác” theo điểm c khoản 2 Điều 359 của Bộ luật hình sự năm 2015. Từ những nội dung trên, án sơ thẩm xét xử bị cáo Dương Thị N về tội “Giả mạo trong công tác”, là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan đối với bị cáo.

[3] Xét nội dung kháng cáo của bị cáo Dương Thị N thấy: Tại phiên tòa, bị cáo chỉ kháng cáo xin được hưởng án treo nên các vấn đề khác của án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật, Hội đồng xét xử phúc thẩm không đặt ra giải quyết.

Xét về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Án sơ thẩm xác định bị cáo Dương Thị N không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, là có căn cứ.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Án sơ thẩm xác định trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các năm 2020, 2021, 2022 được tặng giấy khen của UBND xã Q, Hội doanh nhân cựu chiến binh huyện H trong phong trào phát triển doanh nghiệp, trong công tác phòng chống covid 19, công tác từ thiện nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, là có căn cứ.

Hành vi phạm tội của bị cáo Dương Thị N là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức được pháp luật bảo vệ. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Án sơ thẩm xử phạt bị cáo mức hình phạt 03 (Ba) năm tù là tương xứng với hành vi phạm tội đối với bị cáo.

Tại quá trình xét xử phúc thẩm, bị cáo Dương Thị N xuất trình thêm các tình tiết giảm nhẹ mới đó là: Năm 2023, bị cáo được Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H, huyện H “ Ghi nhận tấm lòng vàng” đã có tấm lòng hảo tâm ủng hộ quỹ khuyến học xã năm 2023; tặng Giấy khen vì đã có thành tích xuất sắc trong công tác chăm sóc và bảo vệ trẻ em năm 2023; có ông Nguyễn Quang B là bố chồng được nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhì đã có công lao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Bị cáo đã nộp 15.000.000 đồng tiền phạt bổ sung như án sơ thẩm tuyên; Chi cục Kiểm Lâm tỉnh B có công văn số 429/KL-HCTC ngày 22/9/2023 đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo tiếp tục thực hiện phần còn lại của gói thầu đối với Chi cục Kiểm Lâm tỉnh B. Xét thấy, đây là những tình tiết giảm nhẹ mới chưa được áp dụng cho bị cáo tại cấp sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Hội đồng xét xử thấy, bị cáo Dương Thị N chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, trong quá trình xét xử phúc thẩm bị cáo có thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới để xin được hưởng án treo. Xét thấy, bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ ràng và để bị cáo tiếp tục thực hiện gói thầu đang trong giai đoạn còn lại thi công đối với Chi cục Kiểm lâm tỉnh B. Căn cứ Nghị quyết số: 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo thì bị cáo có đủ điều kiện để được hưởng án treo. Do vậy, có căn cứ để chấp nhận đối với kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Dương Thị N, sửa bản án sơ thẩm, giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm nhưng cho bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là có căn cứ.

[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo Dương Thị N được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

[5] Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.

1. Chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Dương Thị N; sửa bản án sơ thẩm;

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 359; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 50; Điều 65 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Dương Thị N 03 (Ba) năm tù về tội “Giả mạo trong công tác” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Dương Thị N cho Ủy ban nhân dân phường N, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo qui định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể Quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo qui định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015.

2. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Dương Thị N không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.

Xác nhận bị cáo Dương Thị N đã nộp 15.000.000 đồng tiền phạt bổ sung tại Biên lai thu tiền số 0002111 ngày 23/6/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.

3. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Giang;
  • - CA-VKS-TA-CCTHADS sơ thẩm;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS, HСТР.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Gia Lương
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 194/2023/HS - PT ngày 29/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về giả mạo trong công tác

  • Số bản án: 194/2023/HS - PT
  • Quan hệ pháp luật: Giả mạo trong công tác
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Dương Thị N - phạm tội giả mạo trong công tác
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger