|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số:194/2024/HS-ST Ngày: 26/8/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập-Tự do-Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Huệ
Các hội thẩm nhân dân: Ông Dương Minh Tuấn – Bí thư đoàn phường Xuân Đỉnh
Ông Nguyễn Minh Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thùy Vân - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân Quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 160/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử ngày 08 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
-
Phùng Văn T, sinh năm 1993; HKTT và nơi ở: Thôn Q, xã T, huyện M, Hà Nội ; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc : Kinh ; Giới tính : Nam ; Tôn giáo : Không ; Quốc tịch : Việt Nam; Con ông : Phùng Văn V và bà: Nguyễn Thị T1; Vợ Phan Thị N có 01 con; Tiền án, tiền sự : Không; Nhân thân : 03 tiền án : Bản án HSST số 53 ngày 14/9/2017 của Tòa án ND huyện M, Hà Nội xử phạt T 18 tháng tù về tội Cướp giật tài sản; Bản án HSST số 110/HSST ngày 27/10/2017 của Tòa án ND huyện Chương Mỹ, Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Tổng hợp hình phạt của Bản án số 5/HSST/2017, buộc Phùng Văn T phải chấp hành chung 30 tháng tù; Bản án HSST số 61/2017 ngày 27/9/2017 của Tòa án ND huyện M, Hà Nội xử phạt T 15 tháng tù về tội Trốn khỏi nơi giam giữ. Tổng hợp hình phạt của Bản án số 61/2017 và Bản án số 110/2017) buộc Phùng Văn T phải chấp hành chung 45 tháng tù; Ngày 26/6/2024 Toà án nhân dân quận Thanh Xuân xử 26 tháng tù về tội trộm cắp tài sản (án chưa có hiệu lực); Tạm giữ, tạm giam: Ngày 04/4/2024 (có mặt tại phiên tòa).
-
Đinh Tiến T2, sinh ngày 23/2/2008; (phạm tội 16 tuổi 1 tháng 9 ngày); HKTT: Thôn Q, xã T, huyện M, Hà Nội; Nơi ở : Lang thang; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc : Kinh ; Giới tính : Nam ; Tôn giáo : Không ; Quốc tịch : Việt Nam ; Con ông : Đinh Thanh Hà và bà: Nguyễn Thị T3 ; Tiền án, tiền sự : Không ; Nhân thân : Ngày 14/6/2023 của Công an xã M, huyện M, Hà Nội xử phạt Cảnh cáo về hành vi Trộm cắp tài sản. Ngày 03/01/2024 của Công an huyện C, Hà Nội xử phạt Cảnh cáo về hành vi Trộm cắp tài sản; Ngày 08/02/2024 của Công an quận T, Hà Nội xử phạt Cảnh cáo về hành vi Trộm cắp tài sản; Tạm giữ, tạm giam: Ngày 09/4/2024 (có mặt tại phiên tòa).
-
Nguyễn Văn T4, sinh năm 1995; HKTT: Thôn Q, xã Đ, huyện Ứ, Hà Nội ; Nơi ở: Tổ C thị trấn S, huyện S, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc : Kinh ; Giới tính : Nam ; Tôn giáo : Không ; Quốc tịch : Việt Nam ; Con ông : Nguyễn Văn B (chết) và bà: Đoàn Thị N1; Tiền án, tiền sự : Không ; Nhân thân: Bản án HSST số 95/2018 ngày 24/10/2018 của Tòa án ND huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La xử phạt T4 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; Tạm giữ, tạm giam: Ngày 09/4/2024 (có mặt tại phiên tòa).
-
Nguyễn Văn N2, sinh năm 1985; HKTT và nơi ở: Bản T, xã C, huyện S, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc : Kinh ; Giới tính : Nam ; Tôn giáo : Không ; Quốc tịch : Việt Nam ; Con ông : Nguyễn Văn N3 và bà: Nguyễn Thị S; Vợ: Bùi Thị PhượngTiền án, tiền sự : Không; Tạm giữ, tạm giam: Ngày 09/4/2024 (có mặt tại phiên tòa).
-
Nguyễn Việt H1, sinh năm 1991; HKTT: Xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên ; Và nơi ở : Thôn A, xã A, huyện H, Hà Nội; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa:11/12; Dân tộc : Kinh; Giới tính : Nam; Tôn giáo : Không; Quốc tịch : Việt Nam ; Con ông : Nguyễn Việt H2 và bà: Vương Thị C; Vợ : Trần Thị N4 có 02 con; Tiền án, tiền sự: Bản án HSST số 04/2018 ngày 30/01/2018 của Tòa án ND huyện H xử phạt 7 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; Tạm giữ, tạm giam: Ngày 15/6/2024 (có mặt tại phiên tòa).
Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Đinh Tiến T2 : Bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1985; Trú tại : Xóm B, thôn V, xã C, huyện T, Hà Nội (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo Đinh Tiến T2 : Bà Nguyễn Phương A – Trợ giúp viên pháp lý- Thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H (có mặt).
Người bị hại :
-
Anh Nguyễn Viết S1 - sinh năm 2000; ĐKHK : Xóm V, xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An : Nơi ở : Ngõ A đường A phường V, quận H, Hà Nội (vắng mặt).
-
Anh Khương Văn Đ - sinh năm 2001; ĐKHK : Xã N, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc ; Nơi ở : Ngõ A phố T, phường T, quận T, Hà Nội (vắng mặt).
-
Anh Hoàng Đức Q - sinh năm 1998; Trú tại : Tiểu khu G thị trấn chợ R, huyện B, tỉnh Bắc Cạn (vắng mặt).
-
Anh Đinh Trần Hoàng V1 - sinh năm 1996; ĐKHK : Xã C, huyện Đ, Hà Nội ; Nơi ở : P B Cư TSQ N, phường M, quận H (vắng mặt).
-
Anh Nguyễn Tiến Đ1 sinh năm 2004; ĐKHK : TỔ I, Phường Đ, thành phố Y, tỉnh Yên Bái : Nơi ở : P1613 toà B chung cư 197 trần P, phường V, quận H, Hà Nội (có mặt).
-
Anh Lương Hán H3 - sinh năm 2005 ; ĐKHK : Tổ F, Phường Ỷ, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang : Nơi Ở : 22BT7 xuân P, quận N, Hà Nội (vắng mặt).
-
Chị Phạm Thị Bích N5 - sinh năm 2005 ; ĐKHK : Thôn V, Xã T, huyện G, tỉnh Hải Dương : Nơi ở :Định C, phường Đ, quận H, Hà Nội (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11 giờ 25 phút ngày 04/4/2024, tổ công tác Công an phường C, quận B, Hà Nội làm nhiệm vụ tại khu đô thị T thuộc phường C, B, Hà Nội phát hiện Phùng Văn T và Đinh Tiến T2 (SN 23/02/2008; NKTT: Thôn Q, T, M, Hà Nội ) có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra, Phùng Văn T giao nộp cho tổ công tác 02 túi ni lông bên trong đều có chứa các viên nén, 01 túi ni lông chứa tinh thể màu trắng và khai nhận các viên nén, tinh thể lần lượt là ma túy hồng phiến và ma túy đá. Tổ công tác tiến hành lập biên bản tạm giữ niêm phong tang vật và dẫn giải T, T2 về trụ sở Công an phường C lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và tiếp tục làm rõ sự việc.
*Vật chứng thu giữ của Phùng Văn T :01 túi nilon màu tím kích thước khoảng 10x10 cm bên tron chứa 166 viên nén màu đỏ, trên mỗi viên nén đều dập chìm ký hiệu “WY”; 01 túi nilon màu tím kích thước khoảng 10 x10cm bên trong chứa 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng (3x5)cm bên trong chứa 24 viên nén màu cam, trên mỗi viên nén đều dập chìm ký hiệu “WY”; 01 túi nilon màu đen kích thước khoảng (5x7) cm bên trong chứa tinh thể màu trắng; 01 con dao gấp dài khoảng 25cm khi mở cả phần lưỡi (đã qua sử dụng); 01 kìm thủy lực bằng kim loại có dán băng dính màu đen dài khoảng 30cm; 01 tay công phá khóa bằng kim loại có dán băng dính màu đen dài khoảng 15 cm (đã qua sử dụng); 05 đầu vam phá khóa bằng kim loại (đã qua sử dụng); 02 bình xịt hình trụ tròn có dán băng dính màu đen (đã qua sử dụng); 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave anpha màu trắng, lắp BKS 29X1-592.75, số khung: RLHJA3930PY747141; số máy: JA70E-0217290 đã qua sử dụng. (T trình bày: đây là số ma túy tôi mua về để sử dụng cùng chiếc xe máy mà tôi trộm cắp được sáng ngày 04/4/2024 cùng đồ vật dùng để đi trộm cắp)
* Ngày 04/4/2024, cơ quan CSĐT – Công an quận B có Quyết định trưng cầu giám định số 1347 giám định số ma túy thu giữ .
Kết luận giám định số 2655/KL – KTHS ngày 13/4/2024 của Phòng K - Công an T14 kết luận:
- 01 túi nilon màu tím chứa 166 viên nén màu đỏ, mỗi viên đều dập chìm ký hiệu “WY” là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 18,891 gam.
- 24 viên nén màu cam trên mỗi viên nén đều dập chìm ký hiệu “WY” đều là ma túy loại Methamphetamine,tổng khối lượng 2,568 gam.
- Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon màu đen là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 2,354 gam.
Tổng khối lượng Methamphetamine là: 23, 804 gam.
Mở rộng điều tra, Cơ quan CSĐT Công an quận B còn thu giữ:
(1) của Phùng Văn T: 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter màu đen, đeo BKS 30L5 – 6459, số khung, số máy đều bị tẩy xóa; 01 điện thoại di động màu xanh có ghi chữ Viettel lắp số thuê bao 0984.443.593 (đã qua sử dụng); 01 điện thoại di động kiểu dáng OPPO A83, màu trắng lắp số thuê bao 0969554518 (đã qua sử dụng).
(2) của Đinh Tiến T2: 01 điện thoại di động màu đen có ghi chữ Good lắp số thuê bao 0972.436.317 (đã qua sử dụng).
(3) của Nguyễn Văn N2: 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 7 màu trắng vàng lắp số thuê bao 0917.491.162 (đã qua sử dụng); 01 điện thoại di động Iphone 6S plus màu vàng lắp số thuê bao 0975.525.443 (đã qua sử dụng);
* Ngày 06/4/2024, khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn T4 tại số B, H, Thị trấn S, Sơn La, thu giữ: 01 hộp giấy màu vàng KT (10x5x1,5) cm có in chữ “Thăng Long” chứa 01 mảnh viên màu hồng; 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone SX Max màu vàng, lắp số thuê bao 0982.417.447 (đã qua sử dụng)
Kết luận giám định số 2755/KL – KTHS ngày 17/4/2024 của Phòng K - Công an T14 kết luận:
- 01 mảnh viên nén màu hồng (thu giữ của Nguyễn Văn T4) là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,033 gam.
Ngoài ra Cơ quan điều tra còn thu giữ 05 chiếc xe máy trong các vụ trộm cắp, Tiêu thụ tài sản do phạm tội mà có. Cụ thể:
- 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter màu đen, đeo BKS 30L5 - 6459. Số khung, số máy đã bị tẩy xóa, không xác định được số khung, số máy nguyên thủy của xe; không xác định được người bị hại.
- 01 xe máy kiểu dáng Wave RSX màu trắng- đen, lắp BKS 29S1-799.45 số khung: RLHJA3811GY144331; số máy: JA38E-0310027 nguyên thủy (của anh Đinh Trần Hoàng V1).
- 01 xe máy Wave alpha màu xanh lắp BKS: 21B2 - 332.70; số khung: RLHJA3937PY012299, số máy: JA70E0015969 nguyên thủy (của anh Nguyễn Tiến Đ1)
- 01 xe máy Wave alpha màu trắng bạc lắp BKS: 22B2 - 859.09, số khung: RLHJA3923PY497127, số máy: JA39E3123355 nguyên thủy (của anh Lương Hán H3).
- 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Wave anpha màu trắng mang BKS: 34AS-251.59, số khung: RLHJA3930PY147141, số máy: JA70E0217290 nguyên thủy (của chị Phạm Thị Ngọc B1)
Kết luận định giá tài sản số 189/KL ngày 18/4/2024; số 237/KL ngày 07/5/2024 và số 315/KL ngày 07/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự - UBND quận B kết luận:
- 01 xe máy Honda Wave RSX F1 màu xanh đen, lắp BKS 37D2- 628.67; Số khung: RLHJA 3859 PY225452, số máy JA52E0580244 (chưa thu được tài sản, có tài sản tương tự) trị giá 16.000.000 đồng.
- 01 xe máy Honda Wave RSX đời 2018, màu trắng đen lắp BKS 29E2 - 386.60, số khung: 3810GY129951, số máy: JA38E0276820 (chưa thu được tài sản, có tài sản tương tự) trị giá 8.000.000 đồng.
- 01 xe máy Honda Wave Alpha màu trắng, BKS 34AS – 201.49 (thu giữ được tài sản) trị giá 15.000.000 đồng.
- 01 xe máy Yamaha Exciter màu đen, không rõ số khung, số máy (thu giữ được tài sản, sản xuất năm 2017) trị giá 14.000.000 đồng.
- 01 xe máy kiểu dáng Wave Alpha màu trắng, lắp BKS 22B2 – 859.09 (thu giữ được tài sản, đã qua sử dụng) trị giá 14.000.000 đồng.
- 01 xe máy kiểu dáng Wave Alpha màu xanh, lắp BKS 21B2 - 332.70 (thu giữ được tài sản, đã qua sử dụng) trị giá 14.000.000 đồng.
- 01 xe máy kiểu dáng Wave RSX màu trắng - đen, lắp BKS 29S1 -799.4570 (thu giữ được tài sản, đã qua sử dụng) trị giá 10.000.000 đồng.
- 01 xe máy kiểu dáng Wave Alpha màu đen, lắp BKS 88D1 -445.08 (đã qua sử dụng, không thu giữ được tài sản) trị giá 11.000.000 đồng.
Kết luận giám định số 3129/KL – KTHS ngày 04/5/2024 của Phòng K - Công an thành phố T14 kết luận:
- 02 bình xịt hình trụ tròn có dán băng dính màu đen đều là bình xịt hơi cay. Chất hóa học bên trong 02 bình xịt đều là Pelargonic Acid V – có tác dụng vừa gây hắt xì hơi, vừa làm chảy nước mắt và gây rát da.
Tại cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận B, T khai nhận đã cùng Đinh Tiến T2, Nguyễn Việt H1 thực hiện những vụ trộm cắp tài sản và bán lại cho Nguyễn Văn T4. T4 bán lại cho Nguyễn Văn N2 để hưởng tiền chênh lệch.
Ngày 10/4/2024, Đinh Tiến T2, Nguyễn Văn T4, Nguyễn Văn N2 bị bắt khẩn cấp về hành vi Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.
Ngày 15/6/2024, Nguyễn Việt H1 bị bắt bị can để tạm giam.
Quá trình điều tra xác định:
-
Về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy của Phùng Văn T:
Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng tháng 1/2024, T lên mạng xã hội, đặt mua của một người đàn ông tên “T5” (sử dụng số điện thoại 0977.193.xxx) hỏi mua ma túy đá với giá 3.200.000đ. Sau đó người này hẹn T ra đầu đường N, xã N, huyện T, Hà Nội để nhận ma túy giao tiền. Sau khi nhận được ma túy, T sử dụng một phần, số còn lại thì ngày 04/4/2024, mang theo người để khi nào cần thì sử dụng nhưng bị công an phường C 1 kiểm tra, thu giữ như trên.
Tại cơ quan Công an: T khai nhận ma túy là của T mua nhằm mục đích sử dụng cá nhân. Đối với số ma túy bị thu giữ: 02 túi ni lông chứa các viên ma túy hồng phiến T mua Nguyễn Văn T4 tại cổng B, V, H, Hà Nội với giá 11.700.000 đồng vào khoảng tháng 12/2023; còn 01 túi ni lông chứa ma túy Methamphetamine dạng tinh thể T mua một người tên T5 (không rõ lai lịch, sử dụng số điện thoại 0977.193.xxx) vào khoảng cuối tháng 3/2024 tại Xã Đ, T, Hà Nội với giá 3.200.000 đồng. Việc T mua và cất giấu ma túy trong người thì không ai biết.
Ngày 12/4/2024, Cơ quan CSĐT – Công an quận B ra Lệnh thu giữ thư tín, điện tín với số điện thoại 0977.193.xxx. Tại Công văn số 5558 ngày 24/5/2024, Tập đoàn C3 trả lời: số điện thoại trên đã hủy số từ ngày 22/10/2023 nên không có căn cứ làm rõ nguồn gốc cũng như người bán số ma túy trên .
Quá trình điều tra ngoài lời khai của T thì không có tài liệu, chứng cứ khác thể hiện việc T4 bán ma túy cho T. Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất giữa Phùng Văn T và Nguyễn Văn T4, T4 không thừa nhận việc bán ma túy cho T nên không đủ căn cứ xử lý T4 về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy.
-
Về hành vi Trộm cắp tài sản của Phùng Văn T, Đinh Tiến T2, Nguyễn Việt H1 và Nguyễn Văn T4 như sau:
Nguyễn Văn T4 biết Phùng Văn T trộm cắp xe máy bán nên T4 đặt vấn đề với T khi nào có xe máy Honda Wave RSX, Wave A1 thì bán cho T4 nhằm mục đích Trọng bán lại cho Nguyễn Văn N2 kiếm lời.
Phùng Văn T không có nghề nghiệp và muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên đã thực hiện hành vi trộm cắp xe máy loại Honda Wave RSX, Wave alpha trên địa bàn thành phố Hà Nội để bán cho T4, cụ thể:
- Vụ thứ nhất: Khoảng tháng 05/2023, Phùng Văn T đã một mình thực hiện lấy trộm 01(một) chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter màu đen (không rõ số khung, số máy) ở khu vực Quận H, Hà Nội và sử dụng xe máy trên đến nay. Do T không nhớ địa điểm trộm xe nên đến nay chưa xác định được bị hại. Công an phường C đã tiến hành dẫn giải T đến vị trí cất giấu tại chung cư C G thuộc xã A, H, Hà Nội và thu giữ xe máy nêu trên.
-
Vụ thứ hai: Khoảng 21 giờ ngày 1/4/2024, Phùng Văn T rủ Đinh Tiến T2 đi trộm cắp xe máy, T2 đồng ý và thỏa thuận mỗi xe trộm bán được T cho T2 400.000 đồng. Sau đó T điều khiển xe máy Exciter chở T2 đi tìm xe máy sơ hở để trộm cắp. Khi cả hai đi đến khu vực hồ T, quận H, T bảo T2 xuống xe đi vào trong hồ còn T lượn xe máy xung quanh tìm xe sơ hở để trộm cắp. Khi đi đến lối vào hồ T thuộc đường ven hồ khu nhà ở S, khu đô thị M, phường M, H, T phát hiện 01 xe máy Wave RSX F1 đời 2023 màu xanh đen lắp biển kiểm soát: 37D2-628.67 của anh Nguyễn Viết S1 (sinh năm 2005 – Nơi thường trú: xã T, huyện Đ, Nghệ An) không có người trông giữ. Lúc này, T gọi T2 đi về phía T đồng thời đỗ xe Exciter gần xe máy trên rồi dùng vam phá khóa chọc vặn vào ổ khóa điện của xe, khi đèn xe phát sáng, T ra tín hiệu cho T2 ra lấy và điều khiển xe máy trên, còn T điều khiển xe máy Exciter đi đến một tòa chung cư gần khu vực Đại lộ T (không xác định địa chỉ) để T2 mang xe vừa trộm nêu trên vào chung cư cất giấu. Sau khi cất xe, T điều khiển xe máy Exciter chở T2 tiếp tục đi trộm cắp xe. Chiếc xe máy trên không thu được.
Tiến hành định giá xác định xe máy nêu trên trị giá 16.000.000 đồng.
- - Vụ thứ ba: Sau khi trộm và cất giấu xe máy Wave RSX lắp BKS 37D2-62867 , Phùng Văn T và Đinh Tiến T2 tiếp tục điều khiển xe máy Exciter đi dọc đường L tìm xe máy để trộm cắp. Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 1/4/2024, T và T2 đi đến tòa nhà chung cư địa chỉ A N, T và thấy trước sảnh tòa nhà phía sát tường bao quanh có một dãy xe máy không có người trông giữ, các xe được luồn dây cáp nối với nhau qua bánh xe phía trước. T dừng xe bảo T2 đứng sát tường bao quanh để cảnh giới còn T dùng tay phải luồn từ dưới yếm xe bên phải rồi giựt dây điện nối với ổ khóa xe điện của xe máy Wave Alpha BKS 88D1- 445.08 của anh Khương Văn Đ (SN 2001 – NKTT: xã N, huyện L, Vĩnh Phúc) để phía ngoài cùng . Sau đó, T điều khiển xe máy Exciter và T2 điều khiển xe vừa trộm cắp được. Cả hai đi đến tòa chung cư gần Đại lộ T (không rõ địa chỉ) cất giấu ở đó. Sau đó cả hai đi về nhà tại xã T, huyện M, Hà Nội. Cơ quan điều tra không thu giữ được chiếc xe máy trên.
- - Vụ thứ tư: Khoảng 19 giờ ngày 2/4/2024, Phùng Văn T điều khiển xe máy Exciter biển kiểm soát: 30L5-6459 mang theo ba lô đựng vam phá khóa, kìm cộng lực..(dụng cụ phá khóa) chở Đinh Tiến T2 đi từ xã T ra khu vực đại lộ T để chuyển xe máy trộm được trước đó lên Sơn La bán cho Nguyễn Văn T4. Khi cả hai đi đến ngõ A đường Q, phường Y, H, Hà Nội, T thấy 01 xe máy Wave RSX màu trắng - đen lắp BKS: 29E2-386.60 của anh Hoàng Đức Q (SN 1998; NKTT: Tiểu khu G, Thị trấn C, huyện B, tỉnh Bắc Cạn) đang dựng sát tường trong đầu ngõ không có người trông giữ. T ngồi trên xe Exciter dùng vam phá khóa mở khóa xe. Khi đèn khởi động xe máy Wave RSX phát sáng, T bảo T2: “được rồi đấy” (nghĩa là đã phá khóa xe xong). Lúc này, T2 đang ngồi phía sau T trên xe Exciter liền sang xe máy Wave RSX nổ máy rồi điều khiển đi theo T. Cả hai điều khiển xe máy đi vào đường Đại lộ T rồi T bảo T2 để xe Wave RSX vào sát rào chắn ở làn dừng khẩn cấp (không nhớ vị trí cụ thể) để cất giấu và chờ chuyển lên xe khách tuyến đi Sơn La bán cho T4. Cơ quan điều tra không thu giữ được chiếc xe máy trên.
- Vụ thứ năm: Sau khi bán 03 xe máy trên, T và T2 đi bộ xuống đường gom của Đại lộ T (hướng đi H) bắt xe taxi đi về chung cư gửi xe Exciter trước đó để T lấy xe. Sau đó, T điều khiển xe máy Exciter chở T2 ngồi phía sau tiếp tục đi trộm cắp xe máy. Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 2/4/2024, cả hai đi đến trước cửa siêu thị E1 tầng 1 tòa nhà C, khu đô thị M, phường M, H thì thấy khoảng 6-7 xe máy không có người trông giữ, trong đó có xe máy kiểu dáng Wave RSX màu trắng - đen, lắp BKS: 29S1-799.45 của anh Đinh Trần Hoàng V1 (SN 1996, NKTT: xã C, huyện Đ, Hà Nội) để phía ngoài cùng. T lấy vam phá khóa mở ổ khóa điện xe máy Wave RSX nêu trên. Sau đó, T điều khiển xe máy Exciter còn T2 điều khiển xe máy Wave RSX rời đi. Cả hai điều khiển hai xe máy trên đi đến chung cư C G, thuộc xã A, H rồi dừng xe để T chụp ảnh xe máy vừa trộm gửi Zalo cho Nguyễn Văn T4 để bán xe và thỏa thuận giá bán với T4. Sau đó, T2 mang xe máy vừa trộm trên vào chung cư C G cất giấu rồi cả hai đi xe máy Exciter về nhà tại xã T, M, Hà Nội. Cơ quan điều tra đã thu giữ được chiếc xe máy trên.
- - Vụ thứ sáu: Khoảng 18 giờ 30 phút giờ ngày 3/4/2024, Phùng Văn T điều khiển xe máy Exciter biển kiểm soát: 30L5-6459 mang theo ba lô chứa các dụng cụ vam phá khóa, kìm cộng lực, bình xịt hơi cay...chở Đinh Tiến T2 đi từ chùa Q2, xã T, M đến khu vực Cầu G, Hà Nội để trộm cắp xe. Khi cả hai đi đến đường H gần khu vực sân chơi C thuộc phường T, Cầu G, Hà Nội, T thấy một dãy xe máy trong sân chơi 34T không người trông giữ, trong dãy xe có nhiều loại xe, ở giữa dãy xe là xe máy Wave alpha màu xanh, lắp BKS: 21B2- 332.70 của anh Nguyễn Tiến Đ1 (SN 2004, NKTT: phường Đ, thành phố Y, tỉnh Yên Bái). Sau đó, T lấy vam phá khóa trong ba lô ra rồi chọc vào ổ khóa điện xe máy, khi đèn khởi động xe phát sáng, T bảo T2 đến điều khiển xe Wave còn T điều khiên xe máy Exciter, cả hai đi đến chung cư C, xã A, H, Hà Nội rồi T chụp ảnh xe máy gửi Zalo cho Nguyễn Văn T4 nhằm mục đích bán xe. Sau đó, T2 điều khiển xe vừa trộm vào chung cư cất giấu, rồi T chở T2 tiếp tục đi trộm cắp xe máy. Cơ quan điều tra đã thu giữ được chiếc xe máy trên.
- Vụ thứ bảy: Khoảng 22 giờ ngày 3/4/2024, sau khi T và T2 cất xe máy vừa trộm (vụ thứ sáu), cả hai tiếp tục đi xe máy Exciter biển kiểm soát: 30L5-6459 đến quận N, Hà Nội để trộm cắp xe máy. Khi cả hai đi đến trước cửa hàng C4 địa chỉ B H, phường C, N, Hà Nội thấy nhiều xe để trước cửa không có người trông giữ, trong đó có 01 xe máy Wave alpha màu trắng bạc lắp BKS: 22B2 – 859.09 của anh Lương Hán H3 (sinh năm: 2005 – nơi thường trú: tổ F, phường Ỷ, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang) để phía ngoài cửa hàng. Lúc này, T dừng xe để cho T2 ngồi trước nhà bên cạnh cảnh giới còn T để xe Exciter cạnh xe Wave alpha. Sau đó, T ngồi trước đầu xe Wave, dùng tay phải luồn vào phía dưới khu vực mặt nạ trước của xe Wave alpha giật đứt dây điện nối lên ổ khóa điện rồi đấu nối cho đèn khởi động xe sáng, khi biết xe Wave bị khóa cổ thì T ngồi lên xe dùng chân trái đạp vào tay lái bên trái đồng thời tay phải cầm tay lái phải kéo về phía người để phá khóa cổ xe. Sau khi bẻ khóa xe, T bảo T2 điều khiển xe máy Wave anpha còn T điều khiển xe Exciter, cả hai đi đến hầm B3 tòa T4 chung cư T, xã A, huyện H, Hà Nội để cất giấu. Còn T chụp ảnh gửi Z cho T4 nhằm mục đích bán xe. Cơ quan điều tra đã thu giữ được xe máy trên.
- - Vụ thứ tám: Khoảng 5 giờ ngày 4/4/2024 Phùng Văn T điều khiển xe máy Yamaha Exciter màu đen BKS: 30L5-6459 đi đến khu vực gần cầu vượt A, xã A, H, Hà Nội thì gặp Nguyễn Việt H1. Do là bạn bè xã hội quen biết nhau từ trước nên T rủ H1 đi chơi. Sau đó T và H1 đi cất xe máy của H1 tại nhà anh M (không rõ lai lịch), còn T điều khiển xe máy Yamaha Exciter màu đen lắp biển số BKS: 30L5-6459 chở H1 ngồi sau, cả hai đi đến khu vực Thiên đường B thuộc xã A, H, Hà Nội thì T bảo H1 lên chở và rủ đi trộm cắp xe máy thì H1 đồng ý. Sau đó, cả hai đi qua nhiều tuyến phố trên địa bàn quận H, huyện T. Khi cả hai đi đến trước cửa hàng O đường Y thuộc xã T, huyện T, thành phố Hà Nội, T phát hiện 01 xe máy nhãn hiệu Wave alpha màu trắng mang BKS 34AS-251.59 của chị Phạm Thị Ngọc B1 (SN 2005 – Nơi thường trú: xã T, huyện G, tỉnh Hải Dương) dựng trước cửa hàng, không có người trông giữ. Lúc này, T dừng xe và bảo H1 lên điều khiển xe Exciter cảnh giới còn T đi bộ áp sát vào xe Wave alpha giật ổ điện xe và đấu nối điện để nổ máy xe rồi điều khiển xe tẩu thoát, còn H1 điều khiển xe Exciter đi theo T. Khi đi đến đoạn đường Đ (không xác định địa điểm), T dừng xe tháo biển kiểm soát và vứt vào rìa đường rồi lấy biển số 29X1-592.75 từ trong túi ba lô T mang theo trước đó lắp vào xe Wave alpha, sau đó cả hai đi về chung cư C G, xã A, huyện H cất xe Exciter, rồi T điều khiển xe máy Wave alpha lắp biển số 29X1-592.75 chở H1 đi lấy xe máy của H1. Sau đó, H1 đi về nhà còn T đón Đinh Tiến T2 đang ở A - H - Hà Nội để cả hai tiếp tục đi trộm cắp xe máy. T điều khiển xe máy Wave alpha lắp biển số 29X1-592.75 chở T2 ngồi sau đi đến khu vực Phường C, quận B, khi cả hai đi đến tòa 21B5, chung cư G, khu đô thị T thuộc phường C, T nhìn thấy một dãy xe máy để ở sân tòa nhà không có người trông giữ nên bảo T2 xuống xe đi bộ xung quanh cảnh giới còn T đi tìm xe máy sơ hở để lấy trộm. Lúc này, do đông người dân đi lại nên T và T2 đã lên xe máy để rời đi thì bị lực lượng công an kiểm tra, bắt giữ và thu giữ xe máy như nêu trên.
Tiến hành định giá tài sản xe máy nêu trên có trị giá 14.000.000 đồng.
Tiến hành định giá xác định xe máy nêu trên trị giá 11.000.000 đồng.
Tiến hành định giá xác định xe máy nêu trên trị giá 8.000.000 đồng.
Sau đó, T và T2 đi đến tòa chung cư lấy xe máy Wave RSX F1 màu xanh đen lắp biển kiểm soát 37D2- 628.67 và Wave anpha màu xanh, BKS 88D1-445.08 mà T, T2 trộm cắp được trước đó mang ra đường Đ để gửi xe khách lên giao cho T4. T4 đồng ý mua 03 xe với giá 25.500.000 đồng và thanh toán cho nhau bằng hình thức chuyển khoản qua ngân hàng.
Tiến hành định giá xác định xe máy nêu trên trị giá 10.000.000 đồng.
Tiến hành định giá xác định xe máy nêu trên trị giá 14.000.000 đồng
Tiến hành định giá xác định xe máy nêu trên trị giá 14.000.000 đồng
Tiến hành định giá xác định xe máy nêu trên trị giá 15.000.000 đồng.
* Đối với 01 xe máy Wave RSX F1 đời 2023 màu xanh đen lắp biển kiểm soát 37D2- 628.67; xe máy Wave anpha BKS: 88D1 – 445.08; 01 xe máy Wave RSX màu trắng đen lắp BKS 29E2 – 386.60, quá trình điều tra xác định đã bị tiêu thụ nên không thu giữ được xe.
* Đối với xe máy Yamaha E, quá trình điều tra không xác định được địa điểm T trộm cắp, tiến hành giám định không xác định được số khung số máy nguyên thủy của xe nên không xác định được bị hại cũng như chủ sở hữu chiếc xe máy trên.
Ngoài trộm cắp các xe máy nêu trên, Phùng Văn T còn khai nhận: Khoảng cuối tháng 3/2024, Phùng Văn T trộm cắp được 01 xe máy Wave RSX màu trắng đen đời 2017 tại trước tòa nhà B R, phường Đ, N và 01 xe máy Wave RSX màu trắng đỏ đời 2018 tại khu vực đường bờ sông N, xã N, T, Hà Nội rồi bán cho T4 với giá 13.000.000 đồng, còn T4 bán lại cho N2 với giá 15.500.000 đồng. Sau đó, cả ba sử dụng tài khoản ngân hàng để thanh toán tiền mua bán xe. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận B đã phối hợp với Công an phường Đ, quận N và Công an xã N, T dẫn giải Phùng Văn T đến xác định vị tri T trộm 02 xe máy nêu trên và xác minh tại Công an xã N, T, Công an phường Đ, N xác định không tiếp nhận đơn trình báo mất trộm xe máy có đặc điểm như nêu trên. Qua rà soát không xác định được bị hại, cả hai chiếc xe nêu trên chưa thu giữ được và chưa đủ cơ sở để định giá tài sản, quá trình điều tra chưa đủ căn cứ xác định T trộm cắp hai chiếc xe máy nêu trên.
* Đối với 02 biển kiểm soát xe máy T sử dụng để nguy trang là biển kiểm soát xe máy số 30L5-6459 lắp xe máy Exciter và biển kiểm soát xe máy số 29X1-592.75 lắp xe máy Wave anpha. T khai nhận đặt mua trên mạng, do thời gian đã lâu không nhớ mua của ai, giá bao nhiêu tiền. Cơ quan điều tra đã tiến hành giám định 02 biển xe máy nêu trên tuy nhiên cơ quan giám định không có mẫu so sánh để tiến hành giám định.
Tra cứu biển kiểm soát số 30L5-6459 tại Đ3 xác định người đăng ký xe biển kiểm soát nêu trên là bà Nguyễn Thị Hoàng Y (sinh năm: 1964 – Nơi thường trú: phường P, H, Hà Nội). Tại cơ quan điều tra, bà Y trình bày khoảng tháng 2/2010 bà mua và đăng ký xe máy Honda Wave S biển kiểm soát 30L5-6459 đến khoảng tháng 7/2020 bà Y bán lại xe máy nêu trên cho anh Nguyễn Ngọc N6 (sinh năm: 1982 – Nơi thường trú: phường P, H, Hà Nội) sau đó anh N6 bán xe máy nêu trên cho một người không rõ lai lịch.
Tra cứu biển kiểm soát số 29X1-592.75 tại Đ3 xác định người đăng ký xe biển kiểm soát nêu trên là anh Ngô Đình T6 (sinh năm: 1983 – Nơi thường trú: xã T, C, Hà Nội). Tại cơ quan Công an, anh T6 trình bày khoảng tháng 5/2017, anh T6 mua và đăng ký xe máy Yamaha NOVOU biển kiểm soát số 29X1-592.75, đến tháng 9/2019, anh T6 đã xe máy nêu trên cho một người không rõ lai lịch. Quá trình điều tra xác định 02 biển kiểm soát xe máy nêu trên là do T mua để ngụy trang xe máy trộm cắp và cả hai biển không thuộc vụ trộm cắp xe máy nào.
Quá trình điều tra, cơ quan CSĐT – Công an quận B có Công văn trao đổi với cơ quanCSĐT – Công an huyện T, H, quận N, H, Cầu G về việc giải quyết những vụ việc trộm cắp tài sản xảy ra trên địa bàn. Các đơn vị liên quan đều có Công văn trả lời, đề nghị cơ quan CSĐT – Công an quận B, tiếp tục điều tra xử lý theo quy định của pháp luật.
Về trách nhiệm Dân sự:
- Những người bị hại là anh Đinh Trần Hoàng V1, anh Nguyễn Tiến Đ1, anh Lương Hán H3 và chị Phạm Thị Ngọc B1 đề nghị được xin lại xe đã mất (Công an thu giữ được tài sản) và không có yêu cầu gì khác.
- Người bị hại anh Nguyễn Viết S1, anh Khương Văn Đ, anh Hoàng Đức Q đề nghị đối tượng trộm cắp xe máy bồi thường số tiền bằng với giá trị định giá tài sản. Cụ thể: anh S1 là 16.000.000 đồng; anh Đ 11.000.000đ; anh Q là 8.000.000đ.
Tại cơ quan cảnh sát điều tra - Công an quận B:
- - Bị can Phùng Văn T khai nhận hành vi phạm tội của mình như trên và khai T đã thực hiện trộm cắp 08 xe máy. Tổng giá trị tài sản trộm cắp là 102.000.000 đồng, trong đó tiêu thụ được 03 xe máy và được hưởng lợi số tiền 22.500.000 đồng.
- - Bị can Nguyễn Văn T4 khai nhận: Biết N2 thu mua xe máy Wave RSX và Wave A1 và biết T trộm cắp xe máy bán nên T4 đã bảo T khi nào có xe máy trộm cắp thì bán cho T4 nhằm mục đích bán lại cho N2 kiếm lời, T4 đã mua 03 xe máy của T bán lại cho N2. T7 lợi được 5.000.000đ . Ngoài ra, Cơ quan CSĐT-CAQ Bắc Từ Liêm khám xét khẩn cấp chỗ ở của T4 và phát hiện thu giữ 01 mảnh viên nén màu hồng là ma túy Methamphetamine (khối lượng 0,033 gam), T4 khai nhận ma túy được một người bạn xã hội tên “T8” (không rõ lai lịch) cho từ lâu nên không nhớ cụ thể thời gian, địa điểm được cho ma túy. Sau đó, T4 cất giấu trong người nhằm mục đích sử dụng. Do khối lượng ma túy không đủ lượng xử lý hình sự, T4 chưa bị xử phạt hành chính cũng như hình sự về các tội ma túy nên không có căn cứ xử lý T4 về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Quá trình điều tra không xác định được nhân thân lai lịch của người cho T4 ma túy nên không có căn cứ làm rõ nguồn gốc số ma túy trên.
- - Bị can Nguyễn Văn N2 khai : Sau khi mua xe máy do T4 bán, N2 biết số xe máy trên do phạm tội mà có. Xe được chuyển từ Hà Nội đến thành phố S, tỉnh Sơn La, nhà xe gọi điện cho N2 bảo ra lấy xe thì N2 sử dụng tài khoản Zalo “Nghi Nguyen” gọi đến tài khoản Z “Lâm Bản C1” của “L” để bảo L trực tiếp lấy xe. Sau khi L nhận được xe thì sẽ hẹn Nghị ra khu vực biên giới Việt – Lào để thanh toán tiền mặt. Nguyễn Văn N2 đã thực hiện mua 03 xe máy với tổng giá trị tài sản đã tiêu thụ là 35.000.0000 đồng, sau đó bán lại cho “L” và được hưởng lợi 3.500.000 đồng.
Ngoài ra, N2 còn khai tiêu thụ 02 xe máy từ T4, tuy nhiên quá trình điều tra không thu giữ được vật chứng, không xác định được người bị hại nên không có căn cứ để xử lý.
- - Bị can Đinh Tiến T2 khai nhận tham gia cùng Phùng Văn T thực hiện trộm cắp 06 xe máy trị giá là 73.000.000 đồng. T2 chưa được hưởng lợi từ việc trộm cắp tài sản nêu trên.
- - Bị can Nguyễn Việt H1 khai nhận tham gia cùng Phùng Văn T thực hiện trộm cắp 01 xe máy nhãn hiệu Wave Alpha màu trắng, mang BKS: 34AS-251.59 trị giá 15.000.000 đồng. H1 chưa được hưởng lợi từ việc trộm cắp tài sản nêu trên.
* Xét nghiệm ma túy trong nước tiểu đối với Phùng Văn T, Nguyễn Văn T4 cho kết quả dương tính (T và T4 đều khai bản thân có sử dụng ma túy đá, ma túy hồng phiến) ; đối với Đinh Tiến T2, Nguyễn Văn N2 cho kết quả âm tính (T2, N2 khai bản thân không sử dụng ma túy).
* Đối với đối tượng “Tuấn” bán ma túy cho T, đối tượng “Lâm” là người mua xe máy của Nguyễn Văn N2 quá trình điều tra không xác định được đối tượng nên Công an quận B không xử lý.
* Đối với Phùng Văn T có hành vi Tàng trữ trái phép công cụ hỗ trợ, Nguyễn Văn T4 có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy nên ngày 19/6/2024, Công an quận B đã ra Quyết định xử phạt hành chính số 143, 144 đối với T, T4 bằng hình thức phạt tiền là 15.000.000 đồng đối với Phùng Văn T và 3.500.000 đồng đối với Nguyễn Văn T4 theo Nghị định 144/2021 ngày 31/12/2021 của Chính phủ.
* Đối với số tài sản thu giữ của các bị can và xe máy trộm cắp thu giữ được là vật chứng của vụ án nên tiếp tục tạm giữ, xử lý theo quy định của pháp luật.
Bản cáo trạng số 155/CT-VKS ngày 03/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm đã truy tố: Bị cáo Phùng Văn T đã phạm tội trộm cắp tài sản quy định tại Điểm b,c Khoản 2 Điều 173; Tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý quy định tại Điểm g Khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015; Đinh Tiến T2, Nguyễn Văn T4, Nguyễn Việt H1 phạm tội trộm cắp tài sản, quy định tại (Điểm b,c Khoản 2 đối với T2; Khoản 1 đối với T4 và H1) Điều 173; Nguyễn Văn N2 phạm tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có quy định tại Khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Người bị hại: Anh Nguyễn Tiến Đ1 đề nghị được xin lại xe máy và xét xử bị cáo theo quy định của pháp luật.
Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm trong phần luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng số 155/CT-VKS ngày 03/7/2024 và đề nghị:
Áp dụng Điểm b,c Khoản 2 Điều 173, Điểm g Khoản 2 Điều 249; Điểm s Khoản 1 điều 51, Điểm g Khoản 1 Điều 52; Điều 55; Điều 38; Điều 17 Bộ luật hình sự năm 2015 (đối với bị cáo T).
Áp dụng Điểm b,c Khoản 2 Điều 173; Điều 91; Điều 101; Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điểm g Khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (đối với bị cáo T2)
Áp dụng Khoản 1 Điều 173, Điểm s Khoản 1 Điều 51, (Điểm g đối với T4, Đ2 h đối với H1) Khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (đối với T4, H1)
Áp dụng Khoản 1 Điều 323; Điểm i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điểm g Khoản 1 Điều 52; Điều 38; Bộ luật hình sự năm 2015 (đối với N2)
Áp dụng Điều 587; Khoản 1 điều 589 Bộ luật dân sự; Điều 47, Khoản 1 Điều 106; Điều 136, Điều 331, điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Xử phạt:
Bị cáo Phùng Văn T từ 04 năm tù đến 04 năm 6 tháng tù về tội trộm cắp tài sản; Từ 6 năm 6 tháng tù đến 07 năm tù về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý. Tổng hợp hình phạt bị cáo phải chấp hành chung cho 02 tội từ 10 năm 06 tháng tù đến 11 năm 06 tháng tù; Đinh Tiến T2 từ 02 năm tù đến 2 năm 06 tháng tù; Nguyễn Văn T4 từ 02 năm tù đến 2 năm 06 tháng tù; Nguyễn Văn N2 từ 6 tháng tù đến 9 tháng tù; Nguyễn Việt H1 từ 12 tháng tù đến 18 tháng tù.
Về dân sự:
- - Buộc bị cáo Phùng Văn T và bị cáo T2 phải bồi thường cho người bị hại. Trong đó T là chủ mưu, cầm đầu đã bán 02 xe máy được 22.500.000 đồng, T2 là đồng phạm giúp sức nhưng chưa được hưởng lợi gì, ngoài ra khi thực hiện tội phạm T2 chưa đủ 18 tuổi nên T phải chịu trách nhiệm bồi thường cao hơn T2.
- - Trả lại chị Phạm Thị Bích N5 01 (một) xe máy kiểu dáng Honda Wave anpha màu trắng BKS 34AS-251.59; có số khung: RLHJA3930PY747141, số máy: JA70E-0217290 (đã qua sử dụng); 01 phong bì niêm phong có chữ ký của điều tra viên Nguyễn Văn T9 và bị hại Phạm Thị Bích N5 bên trong chứa 01 USB không kiểm tra chất lượng bên trong.
- - Trả lại anh Lương Hán H3 01 (một) xe máy kiểu dáng Wave alpha màu trắng, lắp BKS: 22B2-85909, số khung: RLHJA3923PY497127; số máy: JA39E-3123355 (đã qua sử dụng); 01 phong bì niêm phong có chữ ký của điều tra viên Nguyễn Văn T9 và bị hại Lương Hán H3 bên trong chứa 01 USB không kiểm tra chất lượng bên trong.
- - Trả lại anh Nguyễn Tiến Đ1 01 (một) xe máy kiểu dáng Wave alpha màu xanh, lắp BKS: 21B2-33270, số khung: RLHJA3937PY012299; số máy: JA70E-0015969 (đã qua sử dụng).
- - Trả lại anh Đinh Trần Hoàng V1 01 (một) xe máy kiểu dáng Wave RSX màu trắng, đen, lắp BKS: 29S1-79945, số khung: RLHJA3811GY144331; số máy: JA38E-0310027 (đã qua sử dụng).
Đối với 03 chiếc xe máy Wave RSX màu trắng đen lắp BKS 29E-386.60, Wave Alpha 88 D1-44508, Wave RSX màu xanh đen lắp BKS 37D2-628.67 bị cáo T và bị cáo T2 trộm cắp hiện không thu hồi được. Bị cáo T bán cho bị cáo T4 03 xe máy trên được 23.500.000 đồng bị cáo ăn tiêu hết, T2 chưa được hưởng lợi. Trị giá 03 chiếc xe máy trên là 35.000.000 đồng, bị cáo T đã hưởng lợi 23.500.000 đồng nên bị cáo phải chịu số tiền trên còn lại 11.500.000 02 bị cáo phải liên đới bồi thường theo kỷ phần. Những người bị hại yêu cầu được bồi thường bằng tiền nên buộc 02 bị cáo phải liên đới bồi thường cho những người bị hại:
- Buộc bị cáo Phùng Văn T, Đinh Tiến T2 phải liên đới bồi thường cho anh Nguyễn Viết S1 16.000.000 đồng. Cụ thể bị cáo T là 14.500.000 đồng; Bị cáo T2 1.500.000₫
- Buộc bị cáo Phùng Văn T, Đinh Tiến T2 phải liên đới bồi thường cho anh Khương Văn Đ 11.000.000 đồng. Cụ thể bị cáo T là 9.500.000 đồng; Bị cáo T2 1.500.000₫
- Buộc bị cáo Phùng Văn T, Đinh Tiến T2 phải liên đới bồi thường cho anh Hoàng Đức Q 8.000.000 đồng. Cụ thể bị cáo T là 6.500.000 đồng; Bị cáo T2 1.500.000₫.
Bị cáo Đinh Tiến T2 là người chưa thành niên nên đại diện hợp pháp của bị cáo T2 là bà Nguyễn Thị T3 phải có trách nhiệm bồi thường cho các bị hại.
Buộc các bị cáo phải truy nộp tiền hưởng lợi bất chính để sung công quỹ nhà nước. Cụ thể: Nguyễn Văn T4 là 3.000.000 đồng; Nguyễn Văn N2 3.500.000 đồng. Ghi nhận bị cáo N2 đã nộp 3.500.000 đồng.
[7] Xử lý vật chứng: Đối với chiếc xe máy kiểu dáng Yamaha Exciter màu đen lắp BKS: 30L5-6459 có số khung: không rõ, số máy: không rõ (đã qua sử dụng) T trộm cắp ở khu vực H không nhớ rõ địa điểm trộm cắp. Xe không rõ số khung số máy nên tịch thu xung công quỹ nhà nước.
Thu giữ của các bị cáo 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Viettel màu xanh lắp sim số thuê bao 0984443593; 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng OPPO A83 màu trắng lắp sim số thuê bao 0969554518; 01 (một) điện thoại di động màu đen có ghi chữ Good lắp sim số thuê bao 0972436317; 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone 7 màu trắng vàng lắp sim số thuê bao 0917491162; 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone SX Max màu vàng, lắp số thuê bao 0982.417.447 đều đã qua sử dụng. Xét thấy, đây là phương tiện phạm tội nên tịch thu sung công quỹ nhà nước theo điều 47 Bộ luật hình sự.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn N2 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone kiểu dáng 6s plus màu vàng đã qua sử dụng không liên quan đến vụ án.
Đối với 02 BKS : 30 L5-6459; 29 X1 592.75 đang thu giữ, các bị cáo dùng BKS giả lắp vào xe máy để thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu tiêu huỷ.
Thu giữ anh Hoàng Đức Q 01 phong bì niêm phong có chữ ký của điều tra viên Nguyễn Văn T9 và bị hại Hoàng Đức Q bên trong chứa 01 USB không kiểm tra chất lượng bên trong, anh Q không yêu cầu xin lại nên tịch thu tiêu huỷ.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) phong bì dán kín bên ngoài có chữ ký của Phùng Văn T, và giám định viên; 01 (một) phong bì niêm phong bên ngoài có chữ ký của Nguyễn Văn T4 và giám định viên; 01 phong bì niêm phong bên ngoài có chữ ký giám định viên Nguyễn Thị T10, bên trong mẫu vật PC 09 hoàn trả sau khi thu mẫu giám định; 01 phong bì niêm phong có chữ ký của điều tra viên Nguyễn Văn T9 và bị hại Nguyễn Hoàng Q1 bên trong chứa 01 USB không kiểm tra chất lượng bên trong.
Đối với 01 (một) một con dao loại dao gấp dài khoảng 25 cm khi mở cả phần lưỡi; 01 (một) kìm thủy lực bằng kim loại có dán băng dính màu đen dài khoảng 30 cm; 01 (một) tay công vam phá khóa xe bằng kim loại có dán băng dính màu đen dài khoảng 15 cm; 05 (năm) đầu vam phá khóa xe bằng kim loại các bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội nên tịch thu tiêu hủy theo Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
[8] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[9] Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điểm b,c Khoản 2 Điều 173, Điểm g Khoản 2 Điều 249; Điểm s Khoản 1 điều 51, Điểm g Khoản 1 Điều 52; Điều 55; Điều 17; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (đối với bị cáo T).
Áp dụng Điểm b,c Khoản 2 Điều 173; Điều 91; Điều 101; Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điểm g Khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (đối với bị cáo T2)
Áp dụng Khoản 1 Điều 173, Điểm s Khoản 1 Điều 51, (Điểm g đối với T4, Đ2 h đối với H1) Khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (đối với T4, H1)
Áp dụng Khoản 1 Điều 323; Điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điểm g Khoản 1 Điều 52; Điều 38; Bộ luật hình sự năm 2015 (đối với N2)
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 587; Khoản 1 điều 589 Bộ luật dân sự; Khoản 2 Điều 106; Điều 136, Điều 331, điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố:
Bị cáo Phùng Văn T phạm tội trộm cắp tài sản và tội tàng trữ trái phép chất ma tuý; Đinh Tiến T2, Nguyễn Văn T4, Nguyễn Việt H1 phạm tội trộm cắp tài sản; Nguyễn Văn N2 phạm tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội.
Xử phạt:
Bị cáo Phùng Văn T 4 (bốn) năm 6 (sáu) tháng tù về tội trộm cắp tài sản, 6 (sáu) năm 6 (sáu) tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho 02 tội là 11(mười một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/4/2024.
Xử phạt: Đinh Tiến T2 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/4/2024.
Xử phạt: Nguyễn Văn T4 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/4/2024.
Xử phạt: Nguyễn Việt H1 14 (mười bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/6/2024.
Xử phạt: Nguyễn Văn N2 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/4/2024.
Về dân sự:
Trả lại chị Phạm Thị Bích N5 01 (một) xe máy kiểu dáng Honda Wave anpha màu trắng BKS 34AS-251.59; có số khung: RLHJA3930PY747141, số máy: JA70E-0217290 (đã qua sử dụng); 01 phong bì niêm phong có chữ ký của điều tra viên Nguyễn Văn T9 và bị hại Phạm Thị Bích N5 bên trong chứa 01 USB không kiểm tra chất lượng bên trong.
Trả lại anh Lương Hán H3 01 (một) xe máy kiểu dáng Wave alpha màu trắng, lắp BKS: 22B2-85909, số khung: RLHJA3923PY497127; số máy: JA39E-3123355 (đã qua sử dụng); 01 phong bì niêm phong có chữ ký của điều tra viên Nguyễn Văn T9 và bị hại Lương Hán H3 bên trong chứa 01 USB không kiểm tra chất lượng bên trong.
Trả lại anh Nguyễn Tiến Đ1 01 (một) xe máy kiểu dáng Wave alpha màu xanh, lắp BKS: 21B2-33270, số khung: RLHJA3937PY012299; số máy: JA70E-0015969 (đã qua sử dụng)
Trả lại anh Đinh Trần Hoàng V1 01 (một) xe máy kiểu dáng Wave RSX màu trắng, đen, lắp BKS: 29S1-79945, số khung: RLHJA3811GY144331; số máy: JA38E-0310027 (đã qua sử dụng).
Buộc bị cáo Phùng Văn T và đại diện hợp pháp của bị cáo Đinh Tiến T2 phải liên đới bồi thường cho anh Nguyễn Viết S1 16.000.000 đồng. Cụ thể bị cáo T là 14.500.000 đồng (mười bốn triệu năm trăm ngàn đồng); Bà Nguyễn Thị Thanh 1 (một triệu năm trăm ngàn đồng).
Buộc bị cáo Phùng Văn T và đại diện hợp pháp của bị cáo Đinh Tiến T2 phải liên đới bồi thường cho anh Khương Văn Đ 11.000.000 đồng. Cụ thể bị cáo T là 9.500.000 đồng (chín triệu năm trăm ngàn đồng); Bà Nguyễn Thị Thanh 1 (một triệu năm trăm ngàn đồng).
-Buộc bị cáo Phùng Văn T và đại diện hợp pháp của bị cáo Đinh Tiến T2 phải liên đới bồi thường cho anh Hoàng Đức Q 8.000.000 đồng. Cụ thể bị cáo T là 6.500.000 đồng (sáu triệu năm trăm ngàn đồng); Bà Nguyễn Thị Thanh 1 (một triệu năm trăm ngàn đồng).
Buộc các bị cáo phải truy nộp tiền hưởng lợi bất chính để sung công quỹ nhà nước. Cụ thể: Nguyễn Văn T4 là 3.000.000 đồng (ba triệu đồng); Nguyễn Văn N2 3.500.000 đồng. Ghi nhận bị cáo Nguyễn Văn N2 đã nộp 3.500.000 đồng (ba triệu năm trăm ngàn đồng) theo biên lai số 0021555 ngày 19/8/2024 của Thi hành án dân sự quận B.
Xử lý vật chứng:
Tịch thu xung công quỹ nhà nước 01 chiếc xe máy kiểu dáng Yamaha Exciter màu đen lắp BKS: 30L5-6459 có số khung: không rõ, số máy: không rõ đã qua sử dụng.
Tịch thu xung công quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Viettel màu xanh lắp sim số thuê bao 0984443593; 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng OPPO A83 màu trắng lắp sim số thuê bao 0969554518; 01 (một) điện thoại di động màu đen có ghi chữ Good lắp sim số thuê bao 0972436317; 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone 7 màu trắng vàng lắp sim số thuê bao 0917491162; 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone SX Max màu vàng, lắp số thuê bao 0982.417.447 đều đã qua sử dụng.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn N2 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone kiểu dáng 6s plus màu vàng lắp sim số thuê bao 0975525443 đã qua sử dụng không liên quan đến vụ án.
Tịch thu tiêu huỷ : 02 BKS : 30 L5-6459; 29 X1 592.75; 01 (một) phong bì dán kín bên ngoài có chữ ký của Phùng Văn T, và giám định viên; 01 (một) phong bì niêm phong bên ngoài có chữ ký của Nguyễn Văn T4 và giám định viên; 01 phong bì niêm phong bên ngoài có chữ ký giám định viên Nguyễn Thị T10, bên trong mẫu vật PC 09 hoàn trả sau khi thu mẫu giám định; 01 phong bì niêm phong có chữ ký của điều tra viên Nguyễn Văn T9 và bị hại Nguyễn Hoàng Q1 bên trong chứa 01 USB không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 (một) một con dao loại dao gấp dài khoảng 25 cm khi mở cả phần lưỡi; 01 (một) kìm thủy lực bằng kim loại có dán băng dính màu đen dài khoảng 30 cm; 01 (một) tay công vam phá khóa xe bằng kim loại có dán băng dính màu đen dài khoảng 15 cm; 05 (năm) đầu vam phá khóa xe bằng kim loại. Tang vật hiện đang thu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự Quận Bắc Từ Liêm. Biên bản giao nhận số 227/24 ngày 24/7/2024
Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Phùng Văn T phải nộp 1.525.000 đồng án phí dân sơ thẩm, bị cáo Đinh Tiến T2 phải nộp 225.000 đồng án phí dân sơ thẩm.
Các bị cáo, anh Nguyễn Tiến Đ1 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày người có quyền yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu lãi suất của khoản tiền chưa thi hành án với mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng N7 quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thi hành theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Minh Huệ |
21
Bản án số 194/2024/HS-ST ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về vụ án hình sự (trộm cắp tài sản và tàng trữ trái phép chất ma tuý)
- Số bản án: 194/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự (Trộm cắp tài sản và Tàng trữ trái phép chất ma tuý)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo có hành vi trộm cắp 07 chiếc xe máy, tàng trữ trái phép chất ma tuý và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
