|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 194/2024/HS-ST Ngày: 25-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Linh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Lành và bà Trần Thanh Vân.
Thư ký phiên tòa: Bà Hứa Ngọc Ánh, Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phụng, Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 151/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 137/2024/QĐXXST-HS, ngày 11 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:
Họ và tên: Lê Thị T; sinh ngày 14 tháng 10 năm 1950 tại Thái Nguyên.
Nơi cư trú: Tổ C, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Hưu trí; trình độ văn hoá: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T1, đã chết; và bà Phạm Thị C, đã chết; có chồng: Ngô Thế K, đã chết; và 02 con; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/01/2024 đến ngày 13/01/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
Họ và tên: Nguyễn Đức T2; sinh ngày 25 tháng 9 năm 1957 tại Thái Nguyên.
Nơi cư trú: Tổ D, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Hưu trí; trình độ văn hoá: 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Khắc Â, đã chết; và bà Vũ Thị D, đã chết; có vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1960; và 02 con; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Tại Bản án số 441/2018/HS-ST ngày 13/11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, xử phạt Nguyễn Đức T2 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 BLHS, phạt bổ sung 5.000.000 đồng, án phí 200.000 đồng. Chấp hành xong bản án ngày 16/9/2019.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/01/2024 đến ngày 13/01/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
Họ và tên: Trần Thị H1; sinh ngày 02 tháng 7 năm 1977 tại Thái Nguyên.
Nơi cư trú: Tổ dân phố G, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đức C1, đã chết; và bà Vũ Thị T3, đã chết; có chồng: Nguyễn Ngọc H2, sinh năm 1965; và 03 con; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/01/2024 đến ngày 13/01/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
Họ và tên: Nguyễn Anh T4; sinh ngày 03 tháng 9 năm 1990 tại Thái Nguyên.
Nơi cư trú: Tổ B, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1967; và bà Trần Thị H3, sinh năm 1969; có vợ: Hoàng Thị N, sinh năm 1994; và 02 con; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/01/2024 đến ngày 13/01/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
Họ và tên: Nguyễn Đình T5; sinh ngày 20 tháng 7 năm 1985 tại Thái Nguyên.
Nơi thường trú: Tổ A, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; nơi ở hiện tại: Tổ A, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình T6, sinh năm 1956; và bà Vũ Thị B, sinh năm 1955; vợ con chưa có; tiền án, tiền sự: Không;
- Nhân thân:
- + Tại Quyết định số 180042 ngày 12/8/2009 của Công an quận Đ, Hà Nội xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”; đã nộp phạt ngày 13/8/2009.
- + Tại Bản án số 51/2024/HS-ST ngày 13/6/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xét xử Nguyễn Đình T5 15 (mười lăm năm) tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/01/2024 đến ngày 13/01/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; hiện bị cáo đang bị tạm giam trong một vụ án khác. Có mặt.
Họ và tên: Hoàng Thị Đ; sinh ngày 14 tháng 7 năm 1977 tại Bắc Giang.
Nơi thường trú: Tổ G, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; nơi ở: Tổ H, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn V, đã chết; và bà Nguyễn Thị Đ1, đã chết; có chồng: Trần H4, đã ly hôn; và 01 con; tiền án, tiền sự: Không;
- Nhân thân: Tại Quyết định số 16548 ngày 28/3/2020 của Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”. Nộp phạt 17/6/2020.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/01/2024 đến ngày 13/01/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- - Chị Lý Thị V1, sinh năm 1971, địa chỉ: Tổ A, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; vắng mặt.
- - Chị Nguyễn Nhật T7, sinh năm 1986, địa chỉ: Tổ A, phường P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người làm chứng:
- - Chị Đàm Thị H5; vắng mặt.
Người chứng kiến:
- - Chị Trần Thị Thu T8; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 19 giờ 30 phút ngày 07/01/2024, tổ công tác của Đội Cảnh sát Hình sự Công an thành phố T phối hợp với Công an phường P, thành phố T tiến hành kiểm tra, phát hiện bắt quả tang 04 đối tượng đang có hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh phỏm, được thua bằng tiền Việt Nam đồng tại phòng ngủ trên tầng 2 của gia đình Lê Thị T thuộc tổ A, phường P, thành phố T gồm: Nguyễn Đức T2, Trần Thị H1, Nguyễn Anh T4, Nguyễn Đình T5. Ngoài ra, tại thời điểm trên thì tại nhà của Lê Thị T còn có Hoàng Thị Đ, Lý Thị V1 (sinh năm 1971, HKTT: Tổ A, phường H, TP T, tỉnh Thái Nguyên), Đàm Thị H5 (sinh năm 1975, HKTT: Tổ D, phường H, TP T) và Lê Thị T là chủ nhà đang có mặt tại đó. Lê Thị T, Hoàng Thị Đ và Lý Thị V1 khai nhận trước đó có tham gia đánh bạc cùng nhưng đã đứng dậy nghỉ trước, Đàm Thị H5 chỉ ngồi xem chứ không tham gia đánh bạc.
Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ các vật chứng gồm:
- - Số tiền 12.754.000đ (Mười hai triệu bảy trăm năm mươi tư nghìn đồng). Trong đó:
- + Số tiền 9.114.000₫ (Chín triệu một trăm mười bốn nghìn đồng) là tiền của Nguyễn Đức T2, Trần Thị H1, Nguyễn Đình T5 và Nguyễn Anh T4 sử dụng để đánh bạc với nhau tại thời điểm phát hiện bắt quả tang.
- + Số tiền 1.800.000đ (Một triệu tám trăm nghìn đồng) của Hoàng Thị Đ sử dụng vào mục đích đánh bạc trước đó.
- + Số tiền 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) của Lê Thị V2 sử dụng sử dụng vào mục đích đánh bạc trước đó.
- + 01 hộp gỗ để trên chiếu bạc bên trong có số tiền 340.000₫ (Ba trăm bốn mươi nghìn đồng). Các đối tượng khai nhận số tiền trên là tiền “hồ lì” các đối tượng đánh bạc trả cho Lê Thị T là chủ nhà sau mỗi ván “ù”.
- - 02 (hai) bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài, một bộ có mặt màu xanh, một bộ có mặt màu đỏ, đã qua sử dụng các đối tượng sử dụng để đánh bạc.
- - 01 (Một) tấm thảm.
Tại cơ quan điều tra các bị cáo khai nhận: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 07/01/2024, Nguyễn Đức T2 chở Hoàng Thị Đ đến nhà của Lê Thị T thuộc tổ A, phường P, TP T để chơi, khi đến cổng nhà T thì T2 đưa cho Đ 1.000.000 đồng (mục đích để nếu có ai rủ đánh bạc thì sử dụng để đánh bạc) còn T2 thì quay về. Khi Đ vào nhà T thì gặp T cùng Nguyễn Thị H6 (sinh năm 1965, HKTT: TỔ F, phường T, thành phố T là em gái T) và H7 (hiện chưa rõ nhân thân lai lịch) đang ngồi chơi. Sau đó, T, Đ, H6, H7 rủ nhau lên phòng tại tầng 2 của căn nhà trên để đánh bạc bằng hình thức đánh phỏm được thua bằng tiền Việt Nam đồng. Khi bắt đầu đánh bạc T sử dụng số tiền 320.000 đồng, Đ sử dụng 3.000.000 đồng (trong đó tiền của Đ là 2.000.000 đồng để trong ốp điện thoại và tiền T2 đưa là 1.000.000 đồng) để đánh bạc (không rõ số tiền sử dụng vào việc đánh bạc của H6 và H7). Chơi được khoảng 2 ván bạc thì H6 nghỉ về trước (khi H6 nghỉ thì Đ thua bạc khoảng 500.000 đồng), lúc này có Lý Thị Viên đến và sử dụng số tiền 1.500.000 đồng vào tham gia đánh bạc cùng Đ, T và H7. Đến khoảng hơn 12 giờ cùng ngày thì T2 quay lại nhà T ngồi xem Đ, T, V2, H7 đánh bạc, quá trình đánh bạc Đ có lấy 200.000 đồng trong ốp điện thoại ra để trả tiền thua bạc nên trong ốp điện thoại của Đ còn 1.800.000 đồng, sau đó T2 vào thay Đ tham gia đánh bạc cùng T, V2 và H7, T2 sử dụng số tiền còn lại của Đ trên chiếu bạc để tham gia đánh bạc (T2 và Đ không đếm nên không xác định được số tiền Đ để lại trên chiếu bạc là bao nhiêu, còn số tiền 1.800.000 đồng trong ốp điện thoại của Đ thì Đ vẫn cầm không đưa cho T2 đánh bạc). Khoảng 14 giờ cùng ngày thì có Trần Thị H1 đến và sử dụng số tiền 800.000 đồng vào thay vị trí của T để tham gia đánh bạc bằng hình thức đánh phỏm được thua bằng tiền cùng T2, V2, H7 (T nghỉ, thua bạc và còn lại 200.000đ, số tiền này T sử dụng mua đồ ăn hết). Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày thì có Nguyễn Anh T4 và Nguyễn Đình T5 đến. Khi T4 và T5 đến thì H7 và Hồng nghỉ, H1 thua hết số tiền 800.000 đồng, lúc này T4 sử dụng số tiền 480.000 đồng vào thay vị trí của H7 để đánh bạc, T5 sử dụng 1.000.000 đồng vào thay vị trí của H1 để đánh bạc cùng T2 và V2. Một lúc sau, T2 có việc rời đi và để lại tiền đánh bạc của T2 trên chiếu bạc cho Đ vào thay tiếp tục đánh bạc cùng T4, T5 và V2. Khoảng 30 phút sau thì T2 quay lại và vào thay Đ tham gia đánh bạc tiếp cùng T5, T4, V2 (T2 sử dụng số tiền Đ để lại trên chiếu bạc để đánh bạc tiếp). Đến khoảng 19 giờ 00 phút cùng ngày, H1 quay trở lại nhà T và mang theo số tiền 6.200.000 đồng vào thay Viên đánh bạc cùng T2, T4 và T5 (Viên nghỉ thì không thắng, không thua nên vẫn còn 1.500.000 đồng). Sau đó T2 nghỉ ăn cơm thì Đ tiếp tục ngồi vào lên bài đánh giúp T2 hai ván, khi T2 ăn cơm xong thì tiếp tục vào thay Đ đánh bạc cùng T4, T5 và H1. Đ ngồi phía sau T2 xem T2 đánh bài, V2 sang nhà bạn chơi rồi sau đó quay lại nhà T thì gặp chị Đàm Thị H5 nên V2 và chị H5 cùng lên phòng ngồi xem T2, H1, T5 và T4 đánh bạc. Bốn người trên ngồi đánh bạc cùng nhau đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày thì bị tổ công tác của Công an thành phố T bắt quả tang và thu giữ các vật chứng như nêu trên. Như vậy, tổng số tiền các bị cáo đang sử dụng để đánh bạc tại thời điểm Công an bắt quả tang là 9.454.000 đồng. Ngoài ra cơ quan Công an còn thu giữ của V2 1.500.000 đồng, của Đ 1.800.000 đồng là số tiền mà V2 và Đ sử dụng để đánh bạc và đã nghỉ chơi trước khi Công an bắt quả tang.
Trong quá trình Viên tham gia đánh bạc cùng T, Đ, H7 sau đó T nghỉ thì V2 tham gia đánh bạc cùng H7, H1, Đ, T2 (T2 và Đ thay nhau đánh chung bài và tiền), tiếp đó H1, H7 nghỉ thì V2 tham gia đánh bạc cùng T2, T4, T5 nhưng quá trình điều tra chưa xác định được số tiền đánh bạc của H6 và H7, tổng số tiền đánh bạc của từng lần đánh bạc của những người còn lại đều dưới 5.000.000 đồng.
Về hình thức đánh phỏm, các đối tượng quy ước như sau: Ván đầu tiên chọn ra một người ngẫu nhiên chia bài, từ ván thứ hai trở đi ai về nhất là người chia bài. Bắt đầu một ván bài, người chia bài sẽ được 10 lá bài, những người còn lại được chia 09 lá bài, tất cả lá bài dư còn lại sẽ được đặt ở giữa chiếu bạc. Người chia bài đầu tiên sẽ đánh ra 01 lá bài, người chơi tiếp theo sẽ ăn lá bài đó nếu lá bài đó hợp với các lá bài đang có tạo thành phỏm, hoặc bốc một lá bài trong những lá bài còn lại được đặt giữa chiếu bạc. Sau khi ăn bài/bốc bài thì người chơi đó phải đánh ra 01 lá bài, cứ tiếp tục như vậy cho đến khi kết thúc ván bạc. Nếu người nào về “Ù” thì ván bài sẽ kết thúc, những người chơi còn lại phải trả tiền cho người về “Ù” số tiền là 100.000 đồng. Nếu không có người chơi nào về “Ù” thì sau khi kết thúc ván bạc thì người chơi sẽ hạ phỏm và tính số điểm của các là bài còn lại trên tay, ai có số điểm ít nhất là người về nhất, người chơi nào về nhất thì người về nhì phải trả tiền cho người về nhất là 20.000 đồng; người về ba phải trả tiền cho người về nhất là 40.000 đồng, người về bét phải trả tiền cho người về nhất số tiền là 60.000 đồng; trong trường hợp số điểm của hai người chơi bằng nhau sau khi hạ bài thì người nào hạ bài trước thì người đó thắng. Nếu người nào bị ăn “Chốt” thì phải trả tiền cho người ăn “Chốt” số tiền 80.000₫ (Tám mươi nghìn đồng). Khi kết thúc ván bạc, nếu người chơi nào không có phỏm (Tức là cháy) phải trả tiền cho người về nhất số tiền là 80.000₫ (Tám mươi nghìn đồng). Nếu người chơi nào đánh cho người chơi kế tiếp ăn được 03 lá bài để về “Ù” thì người chơi đó phải đền cho người ù thay cho những người chơi còn lại tổng số tiền là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng). Các đối tượng quy ước sau mỗi ván người nào được “Ù” sẽ bỏ ra số tiền 10.000 đồng đến 20.000 đồng để trả tiền “hồ” cho chủ nhà là Lê Thị T. Các đối tượng sử dụng 02 bộ bài tú lơ khơ để đổi bài chơi sau mỗi ván bạc và quy ước: Quân A = 1 điểm; quân J = 11 điểm, quân Q = 12 điểm, quân K= 13 điểm; Phỏm tức là bộ B1 bài trở lên có cùng chất và số liên tiếp nhau hoặc bộ B1 bài trở lên khác chất nhưng cùng số; “ù” là khi tất cả 09 lá bài đều có phỏm và không có lá bài nào dư ra; “cháy” là khi kết thúc ván bạc, người chơi không có phỏm nào; “ăn chốt” là người chơi “ăn” lá bài của người chơi trước ở lượt đánh cuối cùng.
Tại Cơ quan điều tra các bị cáo Lê Thị T, Nguyễn Đức T2, Trần Thị H1, Nguyễn Anh T4, Nguyễn Đình T5, Hoàng Thị Đ đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của các đối tượng phù hợp với nhau và phù hợp với các tài liệu điều tra thu thập được.
Vật chứng của vụ án: Số tiền 12.754.000 đồng tiền ngân hàng N1; 01 (một) bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài, mặt sau quân bài màu xanh, đã qua sử dụng; 01 (một) bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài, mặt sau quân bài màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 (Một) tấm thảm kích thước (3,3 x 2,3)m, đã qua sử dụng; 01 (Một) hộp gỗ kích thước (23 x 13 x 10)cm, đã qua sử dụng. Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng và tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên chờ xử lý.
Cáo trạng số 157/CT-VKSTPTN ngày 29 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Lê Thị T, Nguyễn Đức T2, Trần Thị H1, Nguyễn Anh T4, Nguyễn Đình T5, Hoàng Thị Đ về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị T, Nguyễn Đức T2, Trần Thị H1, Nguyễn Anh T4, Nguyễn Đình T5, Hoàng Thị Đ phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, o, s, x khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Thị T từ 06 đến 07 tháng tù cho hưởng án treo; không áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáo.
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s, x khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Hoàng Thị Đ 07 đến 08 tháng tù cho hưởng án treo; không áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáo.
Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, điều 65 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Thị H1 08 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo; phạt bổ sung từ 10.000.000đ đến 12.000.000đ sung ngân sách Nhà nước;
Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T4 07 đến 08 tháng tù cho hưởng án treo; phạt bổ sung từ 10.000.000đ đến 12.000.000₫ sung ngân sách Nhà nước;
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T2 09 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo; không áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáo.
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, điều 38, Điều 17, Điều 58, Điều 56 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T5 từ 09 đến 12 tháng tù; tổng hợp với hình phạt của bản án số 51/2024/HS-ST ngày 13/6/2024 cuả Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án; miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Xử lý vật chứng theo quy định; bị cáo Nguyễn Đình T5, Nguyễn Anh T4, Trần Thị H1, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm sung ngân sách nhà nước; miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Lê Thị T, Nguyễn Đức T2, Hoàng Thị Đ.
Các bị cáo không tranh luận. Nói lời sau cùng, các bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng tại phiên tòa: Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến, người làm chứng mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Các bị cáo không có ý kiến về sự vắng mặt của những người này, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đề nghị xét xử vắng mặt; việc Tòa án xét xử vắng mặt không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bị cáo, không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 292, 293, 296 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[3] Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi như Cáo trạng đã nêu, lời nhận tội của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, đã đủ cơ sở đã xác định:
Hồi 19 giờ 30 phút ngày 07/01/2024 tại nhà ở của Lê Thị T thuộc khu vực tổ A, phường P, thành phố T Nguyễn Đức T2, Trần Thị H1, Nguyễn Anh T4, Nguyễn Đình T5 đang có hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh phỏm được thua bằng tiền Việt Nam đồng thì bị tổ công tác của Công an thành phố T bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Trước khi đánh bạc thì T2 có đưa cho Hoàng Thị Đ 1.000.000 đồng để sử dụng đánh bạc, quá trình đánh bạc thì Đ và T2 thay nhau vào tham gia đánh bạc và sử dụng chung số tiền trên để đánh bạc cùng H1, T4 và T5. Trong suốt quá trình đánh bạc nếu có ai “ù” thì phải thả từ 10.000 đồng đến 20.000 đồng vào hộp gỗ để dưới chiếu bạc để trả cho T gọi là tiền “hồ lỳ” để Tâm cho các đối tượng đánh bạc tại nhà T. Tổng số tiền “hồ lỳ” T thu được từ những người đánh bạc là 340.000 đồng. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là 9.454.000 đồng.
Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự. Điều luật quy định:
“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền... từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng...thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
[4] Tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến an ninh, trật tự công cộng và trật tự an toàn xã hội, nên cần phải xử lý nghiêm minh, đảm bảo tính răn đe của pháp luật và mang tính phòng ngừa chung.
[5] Về nhân thân: Các bị cáo Lê Thị T, Trần Thị H1, Nguyễn Anh T4 đều có chưa có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt. Bị cáo Nguyễn Đức T2, Nguyễn Đình T5, Hoàng Thị Đ là người có nhân thân xấu.
[6] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Lê Thị T được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, “Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên” “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, “Người phạm tội là người có công với cách mạng” (bị cáo được thưởng Huy chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng nhất), bị cáo có chồng là ông Ngô Thế K được thưởng Huy chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, o, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Hoàng Thị Đ được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, “Người phạm tội là con của liệt sỹ” (bố đẻ bị cáo là ông Hoàng Văn V là liệt sỹ) nên bị cáo Đ được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s, x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Trần Thị H1, Nguyễn Anh T4 được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo T4 có ông nội được tặng thưởng Huân chương kháng chiến nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ khác quy định tại khoản 2 điều 51 của Bộ luật hình sự.
Bị cáo Nguyễn Đức T2 và Nguyễn Đình T5 được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội thành khẩn khai báo”, quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo T2 có bố đẻ là ông Nguyễn Khắc  được thưởng Huân chương kháng chiến nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
[7] Về hình phạt: Căn cứ các quy định của Bộ luật hình sự; căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất của đồng phạm, mức độ tham gia phạm tội, thái độ chấp hành pháp luật của từng bị cáo để quyết định hình phạt tương xứng đối với từng bị cáo. Hội đồng xét xử nhận thấy:
Tất cả các bị cáo thực hiện tội phạm với vai trò đều là người thực hành. Các bị cáo T, H1, T4, Đ phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo T, H1, T4 đều chưa có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt. Bị cáo Đ bị xử phạt hành chính, tính đến ngày phạm tội lần này được coi là chưa bị xử phạt hành chính. Bị cáo T2 bị xét xử đã được xóa án tích; tính chất mức độ phạm tội mới được thực hiện thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Các bị cáo đều có có ít nhất 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, trong đó có ít nhất một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 điều 51 của Bộ luật hình sự; các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào; các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo. Xét thấy không cần phải bắt các bị cáo chấp hành hình phạt tù và việc cho các bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Bị cáo T5 là người có nhân thân xấu, trong thời gian được tại ngoại ở địa phương tiếp tục phạm tội mới, bị cáo có thái độ coi thường pháp luật; cần áp dụng hình phạt tù cách ly xã hội mới đảm bảo răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung. Cần tổng hợp với bản án số 51/2024/HSST ngày 13/6/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, buộc bị cáo T5 phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
[8] Về hình phạt bổ sung:
Bị cáo T, bị cáo T2 là người cao tuổi, hiện đang điều trị bệnh tại trung tâm y tế; bị cáo Đ là con liệt sỹ; bị cáo T5 có nghề nghiệp lao động tự do, không có thu nhập ổn định, hiện đang tạm giam; do đó, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Bị cáo H1, T4 đều đang trong độ tuổi lao động; cần áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo theo quy định khoản 3 điều 321 của Bộ luật hình sự.
[9] Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài, mặt sau quân bài màu xanh, đã qua sử dụng; 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài, mặt sau quân bài màu đỏ, đã qua sử dụng; 1 tấm vải, kích thước 3,3x2,3 mét đã qua sử dụng; 01 hộp gỗ, kích thước 23x13x10cm, đã qua sử dụng.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước toàn bộ số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 12.754.000đ (mười hai triệu bảy trăm năm mươi tư nghìn đồng).
[10] Về án phí: Bị cáo T, bị cáo T2 là người cao tuổi, bị cáo Đ là con liệt sỹ, các bị cáo đều xin miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm; căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội, các bị cáo được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm. Các bị cáo H1, T4, T5 phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[12] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tại phiên toà về điều luật áp dụng, hình phạt cũng như các vấn đề khác là phù hợp.
Đối với Lý Thị V1 và Nguyễn Thị H6 (sinh năm 1965, HKTT: Tổ F, phường T, thành phố T) là người có tham gia đánh bạc cùng T, Đ và người phụ nữ tên H7 (chưa xác định được lai lịch địa chỉ). Quá trình điều tra H6 vắng mặt tại địa phương, cơ quan điều tra chưa lấy được lời khai (Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy tìm đối tượng) và chưa xác định được đối tượng tên H7 nên chưa xác định được tổng số tiền các đối tượng đánh bạc ở thời điểm này. Sau khi H6 và H7 nghỉ chơi thì V1 tiếp tục đánh bạc cùng với T2, T4 và T5 nhưng số tiền đánh bạc tại thời điểm này dưới 5.000.000 đồng, V1 chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc nên cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh làm rõ để xử lý đối với V1, H6, H7 sau.
Đối với chị Nguyễn Thị Nhật T9 (sinh năm 1986, nơi cư trú: Tổ A, phường P, thành phố T) là người thuê ngôi nhà để ở cùng Lê Thị T đồng thời cũng là ngôi nhà mà các bị cáo trên sử dụng để đánh bạc và chị Đàm Thị H5 (sinh năm1975, Nơi cư trú: Tổ D, phường H, thành phố T là người có mặt khi cơ quan Công an bắt quả tang các bị cáo trên đánh bạc. Quá trình điều tra xác định chị T9 không biết các bị cáo trên đánh bạc tại nhà mình và chị H5 chỉ ngồi xem đánh bạc và không có hành vi gì giúp sức cho các bị cáo trên đánh bạc nên Cơ quan điều tra không xử lý.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự
Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị T, Nguyễn Đức T2, Trần Thị H1, Nguyễn Anh T4, Nguyễn Đình T5, Hoàng Thị Đ phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, o, s, x khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Lê Thị T 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Lê Thị T cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Lê Thị T có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s, x khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Hoàng Thị Đ 07 (bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 (mười bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Hoàng Thị Đ cho Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Hoàng Thị Đ có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, điều 65 của Bộ luật hình sự:
- Xử phạt bị cáo Trần Thị H1 08 (tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 (mười sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Trần Thị H1 cho Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Trần Thị H1 có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
- Phạt bổ sung bị cáo Trần Thị Hồng 1 (Mười triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.
Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T4 07 (bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 (mười bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Anh T4 cho Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Nguyễn Anh T4 có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
- Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Anh T4 10.000.000đ (Mười triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T2 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Đức T2 cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Nguyễn Đức T2 có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong trường hợp các bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, điều 38, Điều 17, Điều 58, Điều 56 của Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T5 09 (chín) tháng tù; tổng hợp với hình phạt 15 (mười lăm năm tù) của bản án số 51/2024/HS-ST ngày 13/6/2024 cuả Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 15 (mười lăm) năm 09 (chín) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/01/2024, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 07/01/2024 đến ngày 13/01/2024.
Biện pháp tư pháp: Áp dụng điều 46, 47 của Bộ luật hình sự; điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài, mặt sau quân bài màu xanh, đã qua sử dụng; 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài, mặt sau quân bài màu đỏ, đã qua sử dụng; 1 tấm vải, kích thước 3,3 x 2,3 mét đã qua sử dụng; 01 hộp gỗ, kích thước 23x13x10cm, đã qua sử dụng.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 12.754.000đ (mười hai triệu bảy trăm năm mươi tư nghìn đồng), (ủy nhiệm chi số 16 ngày 14/6/2024).
Tình trạng, đặc điểm của vật chứng như Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 196 ngày 25 tháng 6 năm 2024 giữa Công an Thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.
Án phí: Áp dụng điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 điều 23, điểm đ khoản 1 điều 12, khoản 6 điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Đình T5, Nguyễn Anh T4, Trần Thị H1, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm sung ngân sách nhà nước. Miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Lê Thị T, Nguyễn Đức T2, Hoàng Thị Đ.
Quyền kháng cáo: Áp dụng 331, 333 BLTTHS: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án đối với bị cáo, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án./.
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Phạm Lành – Trần Thanh Vân |
Phạm Ngọc Linh |
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh Thái Nguyên;
- - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
- - VKSND thành phố Thái Nguyên;
- - Công an thành phố Thái Nguyên;
- - Chi cục THADS thành phố Thái Nguyên;
- - Bị cáo; Người có QLNVLQ đến vụ án;
- - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
- - Lưu: Văn phòng, hồ sơ.
Bản án số 194/2024/HS-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự - đánh bạc
- Số bản án: 194/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
