Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 194/2024/DS-PT

Ngày: 25 - 4 - 2024

V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Nguyễn Thị Hiền
Các Thẩm phán:Bà Đinh Cẩm Đào
Ông Đặng Minh Trung

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Thanh Khuyên là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hồng - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 11 tháng 01 và ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 440/2023/TLPT-DS ngày 08 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 218/2023/DS-ST ngày 11/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 315/2023/QĐXX-PT ngày 27 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:

  • · Nguyên đơn: Ông Trần Công B, sinh năm 1967 và bà Trần Ngọc T, sinh năm 1973 (có mặt); Cùng địa chỉ: ấp T, xã A, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
  • Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông B: Ông Trịnh Thanh L, là luật sư của Văn phòng luật sư Trịnh Thanh L thuộc Đoàn luật sư tỉnh C (có mặt).
  • - Bị đơn: Bà Phạm Thị B1, sinh năm 1957; Địa chỉ: ấp T, xã A, thành phố C, tỉnh Cà Mau (có mặt).
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    Anh Đinh Hùng C, anh Đinh Hùng M, anh Đinh Hùng V và chị Đinh Ngọc L1; Ông Châu Minh Đ và bà Huỳnh Thị L2; Anh Châu Minh Đ1 và anh Châu Khánh L3; Chị Châu Thùy N, anh Tăng Minh T1; Anh Châu Văn V1 và chị Huỳnh Kim N1 (anh M có mặt, các đương sự khác vắng); Các đương sự cùng địa chỉ: Ấp T, xã A, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

Do có kháng cáo của: Ông Trần Công Bbà Trần Ngọc T, là nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn ông Trần Công B cùng bà Trần Ngọc T trình bày:

Ông, bà có phần đất tọa lạc tại ấp T, xã A, thành phố C, tỉnh Cà Mau. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân thành phố C cấp ngày 12/4/2002 với diện tích đất là 25.825m² thuộc các thửa 094, 110, 148 tờ bản đồ số 02.

Trong khoảng thời gian gần đây, ông bà phát hiện bà B1 đã lấn chiếm phần đất có diện tích khoảng 960m² (chiều dài khoảng 120m, ngang khoảng 8m) nên đã nhiều lần yêu cầu bà B1 trả lại nhưng bà B1 không đồng ý. Ông bà khởi kiện yêu cầu bà B1 giao trả diện tích đất lấn chiếm. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án, qua kết quả đo đạc thực tế thể hiện phần đất bà B1 lấn chiếm có diện tích là 402,1m² nên ông bà thay đổi ý kiến chỉ yêu cầu bà B1 trả lại diện tích đất này và được Tòa án lập biên bản ghi nhận ý kiến thay đổi nêu trên. Đối với căn nhà của Châu Văn Đ2, Châu Văn V1, Châu TChâu Minh Đ1 chỉ lấn một ít qua phần đất tranh chấp nên ông bà đồng ý để những hộ này tiếp tục ở trên phần đất. Đồng thời, ông bà yêu cầu bà B1 trả lại số tiền chi phí đo đạc là 9.264.000 đồng và chi phí định giá là 14.391.000 đồng.

Bà Phạm Thị B1 cùng anh Đinh Hùng M trình bày: Bà B1anh M không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông B, bà T vì đất do gia đình quản lý sử dụng từ trước cho đến nay và đã được Ủy ban nhân dân thị xã C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đinh Văn T2 (chồng bà B1) năm 1998 với tổng diện tích 53.712m², hiện ông T2 đã chết nhưng bà B1 cùng anh M không nhớ chết năm nào, trước khi chết ông T2 không để lại di chúc, bà B1ông T2 chung sống với nhau có 04 người con chung gồm: Đinh Hùng C, Đinh Hùng M, Đinh Hùng VĐinh Ngọc L1.

Anh Đinh Hùng V trình bày: Nguồn gốc phần đất của cha mẹ anh đang sử dụng là của ông nội anh để lại cho cha mẹ anh canh tác từ trước đến nay và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trong quá trình sử dụng đất, cha mẹ của anh không cơi nới phần đất mà chỉ giữ nguyên hiện trạng đến thời điểm hiện nay. Nay nguyên đơn khởi kiện cho rằng mẹ anh là bà B1 lấn chiếm đất, anh không đồng ý. Do bận công việc nên xin Tòa án cho anh vắng mặt trong các phiên tòa hòa giải, xét xử vụ án.

Ông Châu Minh Đ cùng bà Huỳnh Thị L2, Châu Văn V1, Huỳnh Kim N1, Châu Khánh L3Châu Thùy N trình bày:

Ông Châu Minh Đbà Huỳnh Thùy L4 là vợ chồng, ông bà chuyển nhượng của ông Đinh Văn T2bà Phạm Thị B1 phần đất chiều ngang 35m, chiều dài 18m. Việc chuyển nhượng được thực hiện bằng giấy tay, được các hộ dân lân cận ký tên vào giấy mua bán và về đây sinh sống từ năm 1997 cho đến nay, hiện phần đất này ông, bà chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Từ khi chuyển nhượng phần đất này cho đến nay, ông bà cất nhà ở ổn định không tranh chấp với ai và đã cho đất các con gồm Châu Văn V1, Châu Minh Đ1Châu Thùy N cất nhà ở. Đối với anh V1 cùng vợ là Huỳnh Kim N1 xác định hiện anh, chị đang sống cùng với cha mẹ là Châu Minh Đ, Huỳnh Thị L2 trên phần đất nhận chuyển nhượng của bà B1 và hiện nay anh, chị đã xây dựng nhà ở riêng trên đất, riêng chị N trình bày việc cất nhà ở trên đất là được cha mẹ cho. Do đó, các đương sự xác định việc tranh chấp giữa ông B, bà T với bà B1 tự các bên giải quyết, các đương sự không có yêu cầu gì nhưng không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn và xin không tham gia tố tụng tại Tòa án.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 218/2022/DS-ST ngày 11/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau đã quyết định:

Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Công B, bà Trần Ngọc T về việc yêu cầu bà Phạm Thị B1 trả lại phần đất lấn chiếm có diện tích 402,1m² tọa lạc tại ấp T, xã A, thành phố C, tỉnh Cà Mau theo bản vẽ hiện trạng do Trung tâm K ký ngày 15/4/2022.

Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo luật định.

Ngày 22/9/2023, nguyên đơn ông Trần Công B, bà Trần Ngọc T kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, sửa án sơ thẩm yêu cầu bà B1 cùng những người có liên quan giao trả lại diện tích đất 402,1m² và bà B1 chịu toàn bộ chi phí tố tụng.

Tại phiên tòa:

  • Nguyên đơn trình bày: Yêu cầu cấp phúc thẩm chấp nhận nội dung khởi kiện của nguyên đơn, vì nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả 960m², qua đo đạc thực tế bị đơn lấn 402,1m² và 178,3m², nhưng Tòa sơ thẩm chỉ giải quyết phần diện tích 402,1m², đến khi nhận bản án sơ thẩm mới biết không giải quyết diện tích 178,3m². Nay yêu cầu giải quyết dứt điểm, buộc bị đơn trả hai phần đất lấn chiếm.
  • Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày căn cứ kháng cáo: Giấy chứng nhận quyền sử dụng (viết tắt QSD) đất ông B được cấp thuộc thửa 94 (chỉnh lý năm 2009 thuộc thửa 96), nhìn vào giấy chứng nhận QSD đất và Trích lục bản đồ năm 1999, 2009 đất tranh chấp thuộc thửa 94 (96) vì từ thửa 108 (chỉnh lý năm 2009 thuộc thửa 101) mũi nhọn phần đất thuộc về với thửa 94; nhìn vào bản mô tả của Trung tâm quan trắc thì đất tranh chấp thuộc QSD của ông B chứ không phải như án sơ thẩm nhận định đất tranh chấp thuộc về nhà nước quản lý.
  • - Bà Phạm Thị B1anh Đinh Hùng M trình bày: Phần đất tranh chấp thuộc về diện tích đất ông Đinh Văn T2 (chồng bà B1) được cấp QSD với tổng diện tích 53.712m², gia đình bà B1 hiến đất để làm lộ; giấy chứng nhận QSD đất đã cấp cho ông Bằng k hợp pháp vì gia đình bà B1 không ký tên hộ giáp ranh. Không đồng ý nội dung khởi kiện của ông B.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân tỉnh Cà Mau phát biểu quan điểm:

    Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tiến hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự và các đương sự cũng chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ của các đương sự được pháp luật quy định.

    Về nội dung: Đề nghị tạm ngừng phiên tòa để thu thập thêm chứng cứ.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn giao trả phần đất lấn chiếm, bản án sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp quyền sử dụng đất” là đúng pháp luật. Án sơ thẩm không chấp toàn bộ nội dung khởi kiện nên nguyên đơn kháng cáo, đơn kháng cáo làm trong hạn luật định, hợp lệ.

[2] Xem xét nội dung kháng cáo, nguyên đơn yêu cầu sửa bản án sơ thẩm, buộc bị đơn giao trả quyền sử dụng đất lấn chiếm diện tích 402,1m² tại ấp T, xã A, thành phố C, tỉnh Cà Mau. Bị đơn không đồng ý kháng của nguyên đơn vì cho rằng phần đất tranh chấp thuộc về bị đơn, nhà nước đã cấp QSD cho ông T2 (chồng bà B1)

Qua xem xét toàn diện chứng cứ, cũng như lời trình bày của các đương sự và nhận định của bản án sơ thẩm, nhận thấy:

  • Bản án sơ thẩm căn cứ vào nội dung trả lời của UBND xã A nên nhận định: “...tại bản vẽ hiện trạng ngày 15/4/2022 thể hiện phần đất tranh chấp được trích đo từ thửa đất số 101 và một phần thửa đất số 96 tờ bản đồ số 9 (Bản đồ địa chính chỉnh lý năm 2009) nhưng đối chiếu với sơ đồ vị trí đất thể hiện tại trang ba của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp cho ông Bông T2 thì phần đất tranh chấp hiện nguyên đơn yêu cầu không nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cả ông T2 cùng nguyên đơn mà thuộc phần đất của tuyến kênh xáng Láng Trâm...”. Tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm, nguyên đơn ông B cung cấp cho Tòa án Sổ mục kê và trích lục bản đồ năm 1999 thể hiện thửa số 94 đứng tên ông Trần Công B, thửa số 108 đứng tên Đinh Văn T2 (bản đồ số 2 năm 2009 thì thửa 94 là thửa 96; thửa 108 là thửa 101), qua đối chiếu thì phần đất tranh chấp được đo đạc ở vị trí giáp ranh của hai thửa đất này.
  • - Bị đơn bà B1 trình bày tại cấp sơ thẩm, phúc thẩm và đồng thời bản án sơ thẩm nhận định là phần đất tranh chấp ông T2 đã được cấp giấy chứng nhận QSD đất với tổng diện tích 53.712m² thuộc tờ bản đồ số 09, các thửa 0508, 0520, 0521, 0569 và 0573; nhưng qua xem xét thẩm định tại chỗ thì phần đất 53.712m² không có thửa nào là 101 hay 108, nhưng theo trích lục bản đồ thì đất tranh chấp liên quan đến hai thửa đất liền kề là thửa 94 (96) và thửa 101 (108).
  • Tại cấp phúc thẩm xem xét tại chỗ thì ông Banh M xác nhận 53.712m² không gần vị trí đất tranh chấp, trong khi đó phần đất tranh chấp được tiến hành đo đạc ở hai thửa liền kề là thửa số 94 đứng tên ông Trần Công B và thửa số 108 đứng tên Đinh Văn T2 (trích lục bản đồ năm 1999). Do đó, cần phải xác định vị trí đo đạc diện tích đất tranh chấp thuộc tờ bản đồ số mấy, thuộc thửa đất nào của ông T2 (thuộc Tờ bản đồ số 9 hay tờ bản đồ số 2; thuộc thửa 108 hay thửa 0508, 0520, 0521, 0569 và 0573), từ đó mới có cơ sở xác định diện tích đất của hộ bà B1 thiếu hay thừa; thửa 101 (108) Hộ ông T2 đã được cấp giấy chứng nhận QSD đất chưa?
  • - Theo ông Bbà B1 cùng trình bày, cả hai đương sự hiến đất để làm đường lộ hiện tại. Đo đạc đất tranh chấp có một phần diện tích đất con lộ cắt ngang nhưng chưa thể hiện được con lộ này do ông B hay hộ bà B1 hiến đất cho nhà nước.
  • - Tại đơn khởi kiện, biên bản hòa giải và bản vẽ hiện trạng thửa đất thì nguyên đơn yêu cầu bị đơn giao trả diện tích khoảng 960m²; sau khi đo đạc thể hiện trên bản vẽ hiện trạng thì diện tích thực tế nguyên đơn yêu cầu bị đơn giao trả phần đất 402,1m² (M7M6N4N3) và 178,3m²(M9M8N7); do nhầm lẫn diện tích 402,1m² trong đó có cả diện tích 178,3m² cho nên tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả 402,1m². Tại cấp phúc thẩm, nguyên đơn xác định bị đơn lấn chiếm 402,1m² và 178,3m² nên phải giao trả toàn bộ cho nguyên đơn. Cấp sơ thẩm không có lỗi chủ quan khi xem xét giải quyết trong phạm vi 402,1m² là vì tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn nhầm lẫn diện tích nên có sự thay đổi về diện tích đất tranh chấp.

[3] Với nhận định trên, tại cấp phúc thẩm, do phát sinh chứng cứ mới, cần thiết phải thu thập, xác minh rõ và cần xác định lại yêu cầu của nguyên đơn thì mới giải quyết vụ án được toàn diện, mà tại phiên tòa phúc thẩm không thể bổ sung được. Vì vậy, hủy bản án dân sự sơ thẩm số: 218/2023/DS-ST ngày 11/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau; do đó; không xem xét kháng cáo của nguyên đơn về yêu cầu sửa án sơ thẩm.

[4] Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa đề nghị tạm ngừng để thu thập chứng cứ; tuy nhiên, Hội đồng xét xử hủy án sơ thẩm với nhận định trên.

[5] Án phí phúc thẩm nguyên đơn không phải chịu, đã dự nộp được nhận lại.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 3 Điều 308, 310 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Hủy bản án dân sự sơ thẩm số: 218/2023/DS-ST ngày 11/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

    Giao hồ sơ vụ án về Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.

  2. Án phí dân sự phúc thẩm nguyên đơn không phải chịu, ông Trần Công B đã dự nộp 300.000 đồng tại biên lai số 0008301 ngày 25 tháng 9 năm 2023 và bà Trần Ngọc T đã dự nộp 300.000 đồng tại biên lai số 0003950 ngày 25 tháng 9 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau, ông Bbà T được nhận lại.
  3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Cà Mau;
  • - TAND TP Cà Mau;
  • - Chi cục THADS TP Cà Mau;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu VT(TM:TANDTCM).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 194/2024/DS-PT ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 194/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: hủy bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger