|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 194/2024/HS-ST Ngày 22-7-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Hữu Phúc
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đặng Quang Hoạch
Ông Đinh Xuân Dậu
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Lê Quỳnh Anh- Thư ký Toà án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom- tỉnh Đồng Nai tham gia phiên toà: Ông Phạm Hữu Tình- Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 201/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 187/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:
Nguyễn Huỳnh T, sinh năm 1994 tại tỉnh Đồng Nai; Nơi đăng ký thường trú: Ấp N, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nơi ở hiện nay: Ấp L, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn H (đã chết) và bà Huỳnh Thị H1, sinh năm 1966; Vợ là Nguyễn Thị Bích P, sinh năm 1994, có 02 con sinh năm 2017 và 2019; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22-12-2023, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam B5- Công an tỉnh Đ (có mặt).
Nguyễn Ngọc C, sinh năm 2003 tại tỉnh Đồng Nai; Nơi đăng ký thường trú: Ấp B, xã L, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nơi ở hiện nay: Ấp L, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đình D, sinh năm 1969 và bà Bùi Thị Ngọc M, sinh năm 1975; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22-12-2023, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam B5- Công an tỉnh Đ (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 14 giờ 30 phút ngày 21/12/2023, Công an huyện T phối hợp Công an xã S kiểm tra hành chính quán hồ câu “Bảo Ngọc”, địa chỉ tại: ấp D, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai do bà Phùng Thị T1 đứng tên. Tại thời điểm kiểm tra có Nguyễn Huỳnh T, Nguyễn Ngọc C cùng một số nhân viên của quán đang nấu ăn. Qua kiểm tra việc sử dụng ma túy đối với những người có mặt tại quán “Bảo Ngọc” phát hiện Nguyễn Huỳnh T và Nguyễn Ngọc C cho kết quả dương tính với chất ma túy. Cả hai khai nhận đã sử dụng ma túy chung với nhau vào ngày 19/12/2023 tại phòng hát Karaoke của quán B. Lực lượng Công an đã lập biên bản ghi nhận sự việc, tạm giữ vật chứng có liên quan và mời những người có mặt về trụ sở để phục vụ điều tra.
Quá trình điều tra xác định: Nguyễn Huỳnh T và Nguyễn Ngọc C là anh em họ hàng với nhau, cả hai đều sử dụng ma túy tổng hợp dạng khay và kẹo (thuốc lắc). Từ tháng 11/2023, T cùng Nguyễn Lê Nhật T2 hiện đã bị Cơ quan điều tra Công an tỉnh Đ khởi tố, tạm giam để điều tra về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và Nguyễn Thị T3 thỏa thuận góp tiền thuê lại thửa đất số 3308, tờ bản đồ số 39 thuộc ấp D, xã S, huyện T của bà Phùng Thị T1 để kinh doanh hồ câu “Bảo Ngọc”. Khi thuê thì bà T1 đã xây dựng sẵn cơ sở hạ tầng gồm phía bên tay trái cổng đi vào là nhà bếp, đi qua nhà bếp có bãi đất trống dài khoảng 7m có 02 phòng được cải tạo làm phòng hát Karaoke, phía mặt trước của phòng hát karaoke là khu vực ao nước rộng khoảng 4.000m2 có 07 chòi lá xây nổi trên mặt hồ để phục vụ khách đến ăn uống, giải trí và T đặt tên quán là hồ câu “Bảo Ngọc”. Hợp đồng thuê lại toàn bộ hồ câu do T2 đứng tên đại diện thuê lại của bà T1.
Vào tối ngày 19/12/2023, T và T2 cùng ở hồ C, đến khoảng 22 giờ cùng ngày, T vào hát karaoke thì gặp T2 đang đứng trước phòng, T2 đưa cho T một cục ma túy khay để sử dụng, T cầm ma túy vào phòng hát karaoke ngồi trên ghế sopha nghe nhạc, được một lúc Thể lấy tờ tiền giấy mệnh giá 2.000 đồng trong túi quần phía trước bên phải ra và bỏ cục ma túy khay lên tờ tiền rồi lấy quẹt gas trong túi quần ra hơ bên dưới tờ tiền cho ma túy khay nóng lên, tiếp đó T để tờ tiền có ma túy khay ở trên xuống mặt bàn, rồi gấp tờ tiền chứa ma túy bên trong, dùng quẹt gas cà lên bề mặt ngoài tờ tiền cho ma túy bên trong nhuyễn ra và T lấy tờ tiền polyme mệnh giá 10.000 đồng cuộn tròn thành ống hút, rồi hít một phần số ma túy vừa cà nhuyễn vào mũi bằng ống hút này, sau đó T tiếp tục dựa lưng vào ghế ngồi nghe nhạc còn lại một ít ma túy trên tờ tiền giấy và tờ tiền polyme Thể để trên mặt bàn trong phòng. Khoảng 10 phút sau, thì C đi vào phòng, do trước đó C đã mua được 01 viên ma túy với giá 300.000 đồng của “Nam Lai” (không rõ nhân thân, lai lịch) nên C mang đến quán của T để sử dụng. Tại phòng, C lại ghế sô pha ngồi bên tay trái của T, T thấy C lấy trong túi quần ra 01 túi nylon dạng túi Zip bên trong có ma túy kẹo, rồi C bẻ đôi viên ma túy đưa cho T nửa viên, C nửa viên, cả hai cho ma túy kẹo vào miệng rồi uống nước cocacola ở phòng. Sử dụng xong ma túy kẹo, T nhắm mắt dựa lưng vào ghế, còn C ngồi một lúc thì nhờ T2 gọi thêm 02
nhân viên nữ (không rõ nhân thân, lai lịch) đến ngồi nói chuyện với T và C. Do thấy còn ma túy khay trên tờ tiền giấy của T nên C cầm tờ tiền polyme mệnh giá 10.000 đồng được Thể cuộn thành ống hút trước đó hít được 04 đường ma túy còn lại, T thấy C sử dụng ma túy nhưng không nói gì. Sau đó, T mệt nên nằm ngủ tại phòng, còn C trả cho 02 nhân viên nữ số tiền 1.800.000 đồng, xong C cũng đi ra chòi lá phía ao nằm ngủ đến sáng thì đi về phòng trọ ở xã T, huyện T.
* Vật chứng thu giữ: 03 (ba) đèn chiếu laser các loại; 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh, không gắn sim và 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu đen, gắn sim số 0376666650 (đều qua sử dụng), tất cả là tài sản cá nhân của Nguyễn Huỳnh T. 01 (một) điện thoại di động Iphone 14 Promax gắn sim số 0343963129 (đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng) và 01 xe mô tô hiệu Yamah gắn biển số 59S3-303.28 của Nguyễn Ngọc C.
Cơ quan điều tra công an huyện T đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Huỳnh T và Nguyễn Ngọc C để tiến hành điều tra theo quy định.
Quá trình điều tra, Nguyễn Huỳnh T và Nguyễn Ngọc C đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại phiên tòa Nguyễn Huỳnh T và Nguyễn Ngọc C khai nhận hành vi phạm tội như cáo trang truy tố là đúng sự thật.
Nguyễn Huỳnh T trình bày, tại phòng karaoke của quán B” T là người trực tiếp cà nhuyển cục ma túy mà T2 đưa rồi sử dụng, lúc T đang sử dụng ma túy thì C đi vào phòng, C có đưa cho thể một nữa viên ma túy kẹo để sử dụng, còn C sử dụng một nữa viên ma túy kẹo còn lại và sử dụng số ma túy khay còn lại Thể để ở trên bàn.
Nguyễn Ngọc C trình bày, khi vào phòng karaoke thì thấy T sử dụng ma túy nên C lấy 1 viên ma túy kẹo mà C mua trước đó bẻ một nữa đưa cho T sử dụng, còn một nữa C sử dụng. Sau đó, C ngồi xuống ghế cùng sử dụng ma túy khay mà T để trên bàn, lúc này T thấy C sử dụng ma túy nhưng không nói gì.
Tại bản cáo trạng số: 207/CT/VKS-TB, ngày 26 tháng 6 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom đã truy tố các bị cáo Nguyễn Huỳnh T và Nguyễn Ngọc C về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Huỳnh T và Nguyễn Ngọc C phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự 2015.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Huỳnh T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc C từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Về vật chứng: Đối với 03 (ba) đèn chiếu laser các loại; là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội, đề nghị Toà án tịch thu sung công. Đối với 01 (một)
điện thoại di động Iphone 14 Promax gắn sim số 0343963129 (đã qua sử dụng) của Nguyễn Ngọc C không liên quan tới việc phạm tội đề nghị Toà án tuyên trả cho C. Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh, không gắn sim và 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu đen, gắn sim số 0376666650 (tất cả đều qua sử dụng), quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của Nguyễn Huỳnh T, không liên quan đến việc phạm tội, Cơ quan điều tra trả lại cho T. Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha gắn biển số 59S3-303.28 (đã qua sử dụng), kết quả tra cứu biển số xe do anh Phạm Thanh L, sinh năm 1987, HKTT: phường A, quận B, thành phố Hồ Chí Minh đứng tên đăng ký. Qua làm việc, anh L cho biết hoạt động mua bán xe cũ, chiếc xe mô tô biển số 59S3-303.28 của anh L mua vào năm 2020 và đứng tên trên giấy chứng nhận đăng ký là loại xe mô tô nhãn hiệu Honda SH150I, chứ không phải chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha gắn biển số 59S3-303.28 mà Cơ quan điều tra đang tạm giữ. Do đó, Cơ quan điều tra tách xe mô tô trên ra, tiếp tục xác minh xử lý theo quy định.
Đối với Nguyễn Lê Nhật T2 (hiện đang bị Cơ quan điều tra Công an tỉnh Đ khởi tố, điều tra về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”) là người Thể khai cho ma túy khay vào ngày 19/12/2023 để sử dụng, C khai nhờ T2 gọi 02 nhân viên nữ đến ngồi nói chuyện vời C và T quá trình điều tra T2 không thừa nhận hành vi cung cấp chất ma túy cho T, việc T và C rủ nhau cùng sử dụng ma túy vào ngày 19/12/2023 thì T2 hoàn toàn không không biết, mục đích Tùng T2 gọi nhân viên nữ đến cho C và T để hát Karaoke mặt khác ngoài lời khai của T thì không còn chứng cứ nào khác nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.
Đối với Nguyễn Thị Thanh c tham gia góp vốn kinh doanh với T và T2, không trực tiếp tham gia quản lý quán hồ câu Bảo N, việc T và C rủ nhau sử dụng ma túy vào ngày 19/12/2023 thì T3 hoàn toàn không biết do đó Cơ quan điều tra không xử lý.
Đối với “Nam Lai” là người bán ma túy cho C, quá trình điều tra không xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.
Đối với 02 người phụ nữ đến ngồi chơi với T và C vào ngày 19/12/2023, quá trình điều tra không xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định pháp luật.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Huỳnh T và Nguyễn Ngọc C thửa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dụng bản cáo trạng truy tố đối với các bị cáo. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản khám xét, biên bản hiện trường và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua đó, đã có đủ căn cứ kết luận: Vào ngày 19/12/2023 tại phòng hát Karaoke của quán hồ câu “Bảo Ngọc” ở ấp D, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai do Nguyễn Huỳnh T thuê kinh doanh, Nguyễn Huỳnh T và Nguyễn Ngọc C cùng đem ma túy (khay và kẹo) đến sau đó cả hai rủ nhau cùng sử dụng hết thì bị phát hiện xử lý.
Hành vi nêu trên của Nguyễn Huỳnh T và Nguyễn Ngọc C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự 2015.
[2.2] Xét về tính chất, mức độ thực hiện hành vi và vai trò của các bị cáo thì thấy: Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, trong vụ án này các bị cáo đều đưa ma túy cho nhau cùng sử dụng nên có vai trò bằng nhau.
[2.3] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo thì thấy:
Về nhân thân: Các bị cáo T và C đều là người có nhân thân tốt vì không có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo T và C trong giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, ăn năn hối cải. Nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[2.4] Về xử lý vật chứng:
Cần tịch thu sung ngân sách nhà nước 03 (ba) đèn chiếu laser các loại là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội.
Trả lại 01 (một) điện thoại di động Iphone 14 Promax kèm theo sim có số seri 8984 04800 09003 63730 cho bị cáo Nguyễn Ngọc C do không liên quan tới việc phạm tội.
[3] Về án phí: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Quan điểm đề nghị về tội danh truy tố đối với bị cáo của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ vào khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017):
Xử phạt bị cáo Nguyễn Huỳnh T 02 (hai) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 22/12/2023.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc C 02 (hai) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 22/12/2023.
[2] Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 điều 106 Bộ tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu sung ngân sách nhà nước 03 (ba) đèn chiếu laser các loại.
Trả lại 01 (một) điện thoại di động Iphone 14 Promax kèm theo sim có số seri 8984 04800 09003 63730 cho bị cáo Nguyễn Ngọc C.
(Vật chứng hiện đang ở Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 01/7/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai).
[2] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Huỳnh T và Nguyễn Ngọc C mổi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[3] Báo cho các bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Lê Hữu Phúc |
Bản án số 194/2024/HS-ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 194/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
