|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 194/2024/HS-ST.
Ngày: 21-8-2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hường.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hoài Đức Huệ.
2. Bà Lê Thị Kim Xuyến.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trúc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn tham gia phiên tòa: Ông Vũ Đình Tứ- Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 211/2024/HSST ngày 02 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 213/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Trương Hoàng M, giới tính: Nam.
Sinh năm 2006 tại tỉnh An Giang.
Nơi cư trú: ấp V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang (hộ ông Trương Văn N, bà Đặng Thị H); Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Văn Tú A, sinh năm 1984 và bà Hứa Thị Kim O, sinh năm 1989; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình và chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/6/2024 đến ngày 05/7/2024 được hủy bỏ tạm giữ và bị tạm giam từ ngày 13/7/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện N.
- Bị hại: Anh Đỗ Thanh N1, sinh năm 1980.
Cư trú: Khu phố P, thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
(Bị cáo có mặt, bị hại vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 23 giờ 30 phút ngày 24/6/2024, đối tượng T (không rõ nhân thân, lai lịch) rủ bị cáo Trương Hoàng M và Bùi Trí Đ, sinh ngày 11/04/2011 để lén lút đi chiếm đoạt tài sản của người khác thì M, Đ đồng ý.
Vào lúc 0 giờ 04 phút ngày 25/6/2024, T cùng với M và Đ đi bộ hẻm S khu C thuộc khu phố M, thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai thì phát hiện 01 xe mô tô hiệu Honda, loại xe Mangostin màu nâu, biển kiểm soát 60C2-179.89 của anh Đỗ Thanh N1 dựng bên hông nhà tại khu phố M, thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai. M đứng ngoài cảnh giới, T và Đ đi vào lấy xe đem cất giấu ở bãi đất trống thuộc khu phố M, thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
Khoảng 08 giờ ngày 25/6/2024, anh Đỗ Thanh N1 phát hiện chiếc xe bị mất nên đến Công an thị trấn H, huyện N trình báo vụ việc.
Đến 10 giờ ngày 25/6/2024, M và Đ đến Công an thị trấn H, huyện N đầu thú. Sau đó, Đ chỉ nơi cất giấu xe cho Cơ quan Công an thu giữ.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 57/KL-HĐĐGTS ngày 29/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện N kết luận: 01 xe mô tô hiệu Honda, loại xe Mangostin màu nâu Biển kiểm soát 60C2-179.89, giá trị sử dụng còn lại là 80%, có giá trị tài sản là 5.600.000 đồng.
* Vật chứng vụ án:
- + 01 xe mô tô hiệu Honda, loại xe Mangostin màu nâu, Biển kiểm soát 60C2-179.89, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã trả lại cho chủ sở hữu.
- + 01 USB màu đen, dung lượng 4 GB ghi lại hình ảnh trộm cắp tài sản ngày 25/6/2024 (lưu giữ tại hồ sơ).
Trước Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nêu trên phù hợp với lời khai bị hại, người làm chứng cùng các vật chứng, chứng cứ, tài liệu đã được thu thập tại hồ sơ vụ án.
Tại bản cáo trạng số 213 /CT-VKSNT ngày 30/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch đã truy tố bị cáo Trương Hoàng M về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đề nghị xử phạt bị cáo Trương Hoàng M mức án từ 06 tháng tù đến 08 tháng tù giam.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Đỗ Thanh N1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét giải quyết.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản Cáo trạng; bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với ông bà nội, làm ăn sinh sống và làm tròn trách nhiệm của một người cháu được ông bà nội cưu mang từ nhỏ trong khi thiếu vắng tình thương, chăm sóc, giáo dục của cha mẹ.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác tại hồ sơ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: tại phiên tòa, bị hại – anh Đỗ Thanh N1 vắng mặt (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt). Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, đề nghị Tòa án tiếp tục xét xử, do sự vắng mặt này không ảnh hưởng đến việc xét xử. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị hại là phù hợp với quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai bị hại và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa, bị cáo M khai nhận: Vào lúc 0 giờ 04 phút ngày 25/6/2024, tại hẻm S khu C thuộc khu phố M, thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai, đối tượng T (không rõ nhân thân lai lịch) cùng với Trương Hoàng M và Bùi Trí Đ, sinh năm 2011 đã lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô hiệu Honda, loại xe Mangostin màu nâu, biển kiểm soát 60C2-179.89 có giá trị 5.600.000 đồng của anh Đỗ Thanh N1.
Do đó, hành vi của bị cáo Trương Hoàng M đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), nên cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch đã truy tố bị cáo M là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, tác động xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo vì không có tiền, phải đi làm ăn sinh sống xa gia đình, bị lôi kéo tư tưởng hưởng thụ, muốn chiếm đoạt tài sản của người khác để tiêu xài cá nhân nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội.
Tuy nhiên, Hội đồng xét xử có xem xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trước khi có hành vi phạm tội, bản thân bị cáo có nhân thân tốt, không tiền án, tiền sự; là con duy nhất trong hoàn cảnh gia đình thiếu tình thương, chăm sóc, dạy dỗ của cha mẹ, phải sống từ nhỏ với sự cưu mang của ông bà nội tại ấp V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn (tài sản bị chiếm đoạt 5.600.000 đồng đã được chỉ nơi cất giấu xe, nhanh chóng trả lại cho bị hại); tính chất, vai trò hành vi của bị cáo trong vụ án là không đáng kể (bị đối tượng T rủ rê, lôi kéo đứng cảnh giới cho T và Đ thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại N1. Sau khi T, Đ lấy được xe của bị hại, bị cáo M đi theo T, Đ, nhưng không tham gia vào việc cất giấu xe mà chỉ nhanh chóng đi ra chỗ khác chờ đợi T, Đ đi về); bị hại có yêu cầu xin miễn, giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo; sau khi phạm tội bị cáo đã đến cơ quan Công an đầu thú nên được xem xét áp dụng các điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) là các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo.
Tất cả tình tiết trên, Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi lượng hình, giảm nhẹ phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện chính sách khoan hồng pháp luật của Nhà nước bên cạnh một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Xét thấy, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng (kết hợp đối chiếu với lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các bút lục số 78b, 78c tại hồ sơ vụ án), và trong thời gian tạm giữ, tạm giam bị cáo không vi phạm quy định, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại các điểm của khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nêu trên. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy không cần thiết áp dụng hình phạt tù giam, mà cho bị cáo hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo, phòng ngừa chung tội phạm của chính sách pháp luật hình sự theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Do bị cáo bị xử phạt tù nhưng được hưởng án treo. Áp dụng khoản 4 Điều 328 của Bộ luật Tố tụng hình sự cần trả tự do cho bị cáo M ngay tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác, vì thời gian tạm giữ, tạm giam bị cáo cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo nên không cần thiết tiếp tục cách ly bị cáo ra ngoài xã hội.
[4] Về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng vụ án:
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Đỗ Thanh N1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng vụ án:
- + 01 xe mô tô hiệu Honda, loại xe Mangostin màu nâu, Biển kiểm soát 60C2-179.89, Cơ quan Công an huyện N đã trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp và đúng quy định pháp luật.
- + 01 USB màu đen, dung lượng 4 GB ghi lại hình ảnh trộm cắp tài sản ngày 25/6/2024 được lưu giữ tại hồ sơ vụ án.
[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[6] Về các vấn đề khác:
Đối với đối tượng Bùi Trí Đ cùng thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại N1, do phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và tại thời điểm thực hiện hành vi thì Đ chưa đủ 16 tuổi nên chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với loại tội phạm này. Cơ quan điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Đ là đúng quy định pháp luật.
Đối với đối tượng T chưa rõ nhân thân, lai lịch đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại N1, Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ, xử lý sau.
[7] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đều hợp pháp, đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, mức hình phạt và điều luật áp dụng đối với bị cáo là tương xứng phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); các điều 2, 6 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018; Điều 1 Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Tuyên bố bị cáo Trương Hoàng M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Trương Hoàng M 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách là 12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị cáo phải thực hiện nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
Giao bị cáo M cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện C, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục. Trong trường hợp thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Do bị cáo bị xử phạt tù nhưng được hưởng án treo nên căn cứ vào khoản 4 Điều 328 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả tự do cho bị cáo Trương Hoàng M ngay tại phiên tòa, nếu bị cáo M không bị tạm giam về một tội phạm khác.
Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng vụ án: 01 USB màu đen, dung lượng 4 GB ghi lại hình ảnh trộm cắp tài sản ngày 25/6/2024 được lưu giữ tại hồ sơ vụ án.
Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Buộc bị cáo Trương Hoàng M phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hường |
Bản án số 194/2024/HS-ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 194/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trương Hoàng M trộm cắp tài sản
