Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 194/2025/HS-PT

Ngày 27 tháng 3 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Xuân Thành

Các Thẩm phán: Ông Hà Huy Cầu

Ông Lê Thành Long

- Thư ký phiên tòa: ông Bùi Đức Anh - Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: bà Lê Nguyệt Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử phúc thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 899 /2024/TLPT-HS ngày 02 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Đoàn Văn Q bị Toà án cấp sơ thẩm xét xử về tội “ Mua bán người dưới 16 tuổi ”. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2024/HS-ST ngày 22 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 106/2025/QĐXXPT-HS ngày 03 tháng 3 năm 2025.

Bị cáo kháng cáo.

Bị cáo Đoàn Văn Q, sinh năm 1983 tại Nam Định; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; nơi thường trú: Tổ C, ấp A, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam; số Căn cước công dân: [...] do Cục Cảnh sát quản lý Hành chính về Trật tự xã hội cấp ngày 16/4/2022; bị cáo là con ông Đoàn Văn C, sinh năm 1951 và con bà Bùi Thị S, sinh năm 1958, gia đình bị cáo có 03 anh/chị/em; bị cáo có vợ là Phạm Thị Mỹ L, sinh năm 1999; bị cáo có 01 người con.

Tiền án: bị cáo có 04 tiền án

  • Ngày 23/9/2004, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xử phạt 06 tháng tù giam về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo Bản án số 99/HSPT. Bị cáo đã đóng án phí, chưa được xóa án tích.
  • Ngày 31/3/2005, bị Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành xử phạt 30 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo Bản án số 17/2005/HSST. Bị cáo đã đóng án phí, chưa được xóa án tích.
  • Ngày 28/01/2008, bị Tòa án nhân dân thị xã Đồng Xoài xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm p khoản 2 Điều 194 BLHS (bị áp dụng tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm”) theo Bản án số 10/2008/HSST. Ngày 08/11/2013 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, đã đóng án phí, chưa được xóa án tích.
  • Ngày 25/9/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành xử phạt 07 năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” quy định tại điểm p khoản 2 Điều 194 BLHS (bị áp dụng tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm”) theo Bản án số 104/2015/HSST. Ngày 28/4/2021 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, đã đóng án phí, chưa được xóa án tích.

Tiền sự: bị cáo có 02 tiền sự

  • Ngày 06/6/2014 có hành vi gây mất trật tự công cộng và sử dụng trái phép công cụ hỗ trợ (roi điện) bị Công an huyện C xử phạt hành chính số tiền 3.750.000 đồng theo quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 48/QĐ-XPVPHC ngày 06/6/2014. Bị cáo chưa chấp hành;
  • Ngày 02/9/2022, bị Trưởng Công an huyện C xử phạt 6.500.000 đồng về hành vi Cố ý gây thương tích.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 26 tháng 01 năm 2024

Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Q: Luật sư Trịnh Bá T – Thuộc Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Đỗ Thị Xuân T1 là chủ quán Karaoke “Sơn Ca 2” thuộc ấp C, xã M, huyện C (nay là khu phố C, phường M, thị xã C), tỉnh Bình Phước. T1 thuê bị cáo Tô Xuân Đ và bị cáo Lê Văn T2 làm nhân viên phục vụ quán. Quá trình kinh doanh, bị cáo T1 quen biết, liên hệ với bị cáo Đoàn Văn Q gọi tiếp viên phục vụ karaoke (ở ngoài quán) đến phục vụ rót bia, bấm bài hát khi khách yêu cầu. Do cần tiếp viên nữ ăn ở trực tiếp tại quán karaoke để phục vụ rót bia, bấm bài hát nên đầu tháng 6/2022, bị cáo T1 liên hệ nhờ bị cáo Quảng tìm nhân viên. Do bị cáo Q có mối quan hệ quen biết với bị cáo Nguyễn Văn Đ1 nên nhờ bị cáo Đ1 tìm và giới thiệu tiếp viên cho bị cáo Q tiếp nhận, bị cáo Đ1 sẽ nhận tiền công thì bị cáo Đ1 đã đồng ý.

Khoảng 07 giờ ngày 24/6/2022, D (chưa rõ nhân thân, lai lịch) điện thoại cho bị cáo Đ1 nói có hai tiếp viên của N (chưa rõ nhân thân, lai lịch) muốn xin việc nhưng cả hai đang nợ N 16 triệu đồng và D gửi số điện thoại của N cho bị cáo Đại để hai bên thỏa thuận. Sau đó, bị cáo Đ1 điện thoại cho N thỏa thuận giao dịch trả tiền để nhận (chuộc) hai tiếp viên từ N. Nhi gửi địa chỉ bằng định vị qua mạng xã hội Zalo cho bị cáo Đ1 biết. Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, bị cáo Đ1 thuê Hoàng Vân N1 (là tài xế chạy xe dịch vụ) xe ô tô biển số 93A-174.00 đi đến thành phố Hồ Chí Minh theo địa chỉ N gửi. Trên đường đi, bị cáo Đ1 điện thoại báo cho bị cáo Q biết việc bị cáo Đ1 đang đi “chuộc” hai tiếp viên và hỏi bị cáo Q có nhận tiếp viên không. Lúc này, bị cáo Q điện thoại cho bị cáo T1 nói “Có hai nhân viên xin vào làm mà nó thiếu nợ người ta chị nhận không”, bị cáo T1 nói bị cáo Quảng cứ đưa tiếp viên đến quán để bị cáo T1 xem. Sau đó, bị cáo Quảng điện lại cho bị cáo Đ1 nói đưa tiếp viên về quán karaoke “Sơn Ca” gặp bị cáo T1. Khoảng 11 giờ cùng ngày, bị cáo Đ1 chỉ đường cho N1 điều khiển xe theo định vị mà N gửi đến một quán karaoke tại Quận I, thành phố Hồ Chí Minh, Đại liên lạc qua điện thoại thỏa thuận được với N số tiền “chuộc” hai tiếp viên là 16 triệu đồng. Bị cáo Đ1 giao tiền mặt 8.000.000 đồng cho người thanh niên làm nhân viên của quán karaoke (chưa rõ nhân thân, lai lịch). Do không đủ tiền trả cho N nên bị cáo Đ1 hỏi vay N1 số tiền 8.000.000 đồng và nói khi nào về Bình Phước thì bị cáo Đ1 sẽ trả lại thì N1 đồng ý. Khi hỏi vay tiền của N1 thì bị cáo Đ1 không nói cho N1 biết dùng để chuộc hai tiếp viên. Lúc này, N1 điện thoại hỏi bạn là Phạm Hoàng T3 hỏi vay tiền. T3 đồng ý cho vay rồi N1 nhắn tin số tài khoản của bị cáo Đ1 cho T3 để T3 chuyển tiền vào tài khoản cho bị cáo Đ1, sau đó Đ1 chuyển khoản cho N số tiền 8 triệu đồng. Sau khi nhận đủ tiền, nhân viên của quán karaoke dẫn Thạch Thị Ngọc Q1 và Dương Thị Yến L1 cùng sinh năm 2008 giao cho Đ1. Sau khi đưa L1 và Q1 lên xe ô tô do N1 điều khiển chở đi, Đ1 nói cho L1 và Q1 biết Đ1 đã “chuộc” L1 và Q1 với số tiền 16 triệu đồng. Nghe vậy, L1 nhắn tin Z hỏi N nhưng N không trả lời. L1 và Q1 hỏi Đ1 đưa về đâu thì Đ1 nói đưa về Bình Phước làm tiếp viên quán karaoke. Đồng thời, Đ1 nói với L1 và Q1 “nếu hai đứa làm không đàng hoàng thì sẽ bị bán qua Campuchia”. Sau đó, Đ1 gọi điện cho Q thỏa thuận thống nhất về tiền “chuộc” là 8 triệu đồng/người, tiền xe đi “chuộc” người là 3 triệu đồng, địa điểm giao người tại Bình Phước là quán Karaoke “S”. Khi Đ1 nói tiền công đi “chuộc” người theo thỏa thuận từ trước là 2 triệu đồng/người thì Q nói Đại tính cộng vào luôn khi giao người.

Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, N1 điều khiển xe chở Đ1, L1 và Q1 đến quán karaoke “Sơn Ca 2” của T1. Do không quen biết T1 nên Đ1 đã điện thoại báo cho Q biết đã đến quán karaoke, Q nói Đ1 dẫn L1 và Q1 vào quán gặp T1 rồi Q điện thoại báo cho T1 biết đã cho người chở tiếp viên về đến quán karaoke của T1. Đ1 vào quán karaoke gặp T1 và nói “anh Quảng điện cho chị chưa”, T1 trả lời “Quảng mới điện cho chị” rồi Đ1 nói “anh Q kêu em chở hai đứa tiếp viên tới làm cho chị”. Sau đó, Đ1 quay ra xe nói L1 và Q1 vào quán. Đ1 nói cho T1 biết L1 và Q1 còn nợ tiền quán khác 24.000.000đ (hai mươi bốn triệu đồng). L1 liền nói với Đ1 “ủa, có mười sáu triệu mà anh”, Đ1 quay qua liếc mắt nhìn, tỏ vẻ không hài lòng nên L1 sợ và không dám nói gì. T1 thấy ngoại hình của L1 và Q1 xấu và còn nhỏ tuổi nên T1 nói với Đ1 “hai đứa này còn nhỏ, mà xấu quá chắc chị không nhận đâu”. Đ1 nói với T1 “em mượn tiền để chuộc tụi nó về, chị không nhận thì em phải làm sao”, rồi Đ1 nói thêm “chị gọi cho anh Q coi sao”. T1 điện thoại cho Q nói “tiếp viên xấu quá mà tiền chuộc cao”, thấy T1 có ý không muốn tiếp nhận nên Q nói “chị coi được thì nhận, không được thì thôi ...” T1 nói “lỡ rồi để chị nhận, mai mốt người ta còn đưa người lên cho mình nữa”. Do T1 không quen biết Đ1 nên không tin tưởng để giao tiền, vì vậy T1 nhắn tin cho Q với nội dung “vay la 24 tr dung ko e” nghĩa là “vậy là 24 triệu đồng đúng không em” nhưng T1 nhắn nhầm qua cho người khác. Ngay sau đó, T1 điện cho Q hỏi đưa tiền cho ai, Q nói T1 trả tiền cho Đ1. Sau đó, T1 đưa 24 triệu đồng trả cho Đại để tiếp nhận L1 và Q1. Sau khi nhận tiền, Đ1 cùng N1 ra về và Đ1 trả cho N1 tiền thuê xe là 3 triệu đồng, tiền Đ1 vay Nam 8 triệu đồng, tổng cộng 11 triệu đồng. Số tiền 13 triệu đồng còn lại Đ1 tiêu xài cá nhân hết.

Sau khi tiếp nhận sợ L1 và Q1 bỏ trốn, nên T1 đưa cả hai vào ở căn phòng phía sau quán karaoke rồi T1 dùng ổ khóa bằng kim loại khóa ngoài cửa phòng lại, không cho L1 và Q1 tự ý ra ngoài. T1 nói hai nhân viên là Tô Xuân Đ và Lê Văn T2 canh giữ L1 và Q1. Khi khách đến hát karaoke có yêu cầu tiếp viên, T2 hoặc Đ có trách nhiệm mở khóa phòng để L1 và Q1 ra tiếp khách, tiếp khách xong L1 và Q1 sẽ được đưa về phòng nhốt lại; khi đến giờ ăn, T1 nói Đ hoặc T2 mua cơm mang vào cho L1 và Q1 ăn.

Đến khoảng 13 giờ 30 phút ngày 25/6/2022, Q1 và L1 bức xúc việc bị T1 khóa cửa giữ trong phòng nên L1 điện thoại trình báo cho Cơ quan Công an. Nhận được tin báo, Công an xã M (nay là phường M) đến quán của T1 kiểm tra. Khi thấy lực lượng Công an đến quán, T1 nói T2 dẫn lực lượng Công an lên lầu kiểm tra rồi T1 chạy vòng ra phía sau quán mở khóa cửa sau của căn phòng L1 và Q1 đang ở, T1 nắm tay L1 và Q1 kéo ra khỏi phòng. Thấy L1 đang cầm điện thoại di động và nghĩ rằng L1 và Q1 điện thoại báo Công an nên T1 bực tức, yêu cầu L1 đưa điện thoại cho T1 nhưng L1 không đưa. T1 tát vào mặt L1 một cái và tịch thu điện thoại của L1. T1 điện thoại cho Q nói “Sao đưa hai con nhỏ đó xuống, giờ nó báo công an tùm lum hết”, Q trả lời “để em hỏi lại tụi nó”. Sau khi điện thoại cho Q, T1 đi ra phía trước quán, L1 và Q1 cũng đi theo sau để báo cho lực lượng Công an đang có mặt tại quán. Sau đó, T1 trả điện thoại lại cho L1 và tất cả được mời về trụ sở Công an để làm việc. Quá trình điều tra, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như trên [bút lục số 95-158; 196-200; 215-219; 228; 322; 325-332; 374-375; 460-461; 616-627; 640-643; 652-664; 675-678; 685-695].

Tại Bản kết luận giám định pháp y về độ tuổi số 6385/C09B ngày 30/12/2022 của Phân viện KHHS tại TP Hồ Chí Minh kết luận: “Qua quá trình khám lâm sàng và kết quả cận lâm sàng, xác định tại thời điểm giám định (tháng 11 năm 2022) Dương Thị Yến L1 có độ tuổi từ 14 năm 06 tháng đến 15 năm” [bút lục số 404-405].

Tại Bản kết luận giám định pháp y về độ tuổi số 933/C09B ngày 13/01/2023 của Phân viện KHHS tại TP Hồ Chí Minh kết luận: “Qua quá trình khám lâm sàng và kết quả cận lâm sàng, xác định tại thời điểm giám định (tháng 01 năm 2023) Thạch Thị Ngọc Q1 có độ tuổi từ 14 năm 04 tháng đến 14 năm 10 tháng” [bút lục số 479-480].

Tại Kết luận giám định số 1067/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh B về giám định kỹ thuật số điện tử [bút lục số 579-590] kết luận:

  • “- Không tìm thấy giữ liệu Camera từ ngày 24/6/2022 đến ngày 25/6/2022 trong thiết bị lưu trữ dữ liệu Camera gửi giám định ký hiệu A1.
  • Tìm thấy 64 cuộc gọi (nội dung chi tiết thể hiện trong phụ lục 01 gửi kèm theo) trong điện thoại gửi giám định ký hiệu A2.
  • Tìm thấy 17 tin nhắn SMS (nội dung chi tiết thể hiện trong phụ lục 02 gửi kèm theo) trong điện thoại gửi giám định ký hiệu A2.
  • Tìm thấy 113 tin nhắn Zalo (nội dung chi tiết thể hiện trong phụ lục 03 gửi kèm theo) trong điện thoại gửi giám định ký hiệu A2.
  • - Không tìm thấy tin nhắn Messenger trong điện thoại gửi giám định ký hiệu A2”.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 55 ngày 05/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản huyện C (nay là thị xã C) kết luận: “Giá trị của tài sản cần định giá là 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu I-Phone 6 Plus, vỏ màu trắng bạc, đã qua sử dụng tại thời điểm xảy ra vụ án là: 1.800.000 đồng (Một triệu tám trăm nghìn đồng)” [bút lục số 172].

Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đỗ Thị Xuân T1, Đoàn Văn Q, Tô Xuân Đ, Lê Văn T2 và Nguyễn Văn Đ1 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Ngoài ra bị cáo Đỗ Thị Xuân T1 và Đoàn Văn Q đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho bị hại.

* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ:

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 12 /2024/HS-ST ngày 22 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước quyết định.

2.3. Căn cứ điểm g khoản 3 Điều 151; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Đoàn Văn Q 18 (mười tám) năm tù về tội “Mua bán người dưới 16 tuổi”.

Bản án còn quyết định hình phạt đối với các bị cáo Đỗ Thị Xuân T1 phạm tội “Mua bán người dưới 16 tuổi” và “Giữ người trái pháp luật”. Nguyễn Văn Đ1 phạm tội “Mua bán người dưới 16 tuổi”.Tô Xuân Đ và Lê Văn T2 phạm tội “Giữ người trái pháp luật”. Quyết định trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Trong hạn luật định bị cáo Đoàn Văn Q có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo vẫn giữ nguyên kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định, như sau:

[1] Đỗ Thị Xuân T1 là chủ quán karaoke “Sơn Ca 2” thuộc ấp C, xã M, huyện C, tỉnh Bình Phước (nay là khu phố C, phường M, TX C, tỉnh Bình Phước). Do cần tiếp viên nữ ăn ở trực tiếp tại quán karaoke để phục vụ khách nên đầu tháng 6/2022, T1 liên hệ nhờ bị cáo Đoàn Văn Q tìm nhân viên ở lại quán. Sau đó, bị cáo Q liên hệ với bị cáo Nguyễn Văn Đại Đ2 nhờ bị cáo Đ1 tìm tiếp viên cho bị cáo Q. Khoảng 07 giờ ngày 24/6/2022, thông qua người bạn tên D (chưa rõ lai lịch), Đại liên lạc với N (chưa rõ lai lịch) để trao đổi việc bị cáo Đ1 tiếp nhận hai tiếp viên của N và cả 02 thống nhất với số tiền chuộc 8 triệu đồng/người. Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, bị cáo Đ1 thuê Hoàng Vân N1 (chạy xe dịch vụ) xe ô tô biển số 93A-174.00 chở đi xuống thành phố Hồ Chí Minh để gặp N “chuộc” người. Trên đường đi, do bị cáo Đ1 không quen biết T1 nên bị cáo Đ1 điện thoại báo cho bị cáo Q biết việc bị cáo Đ1 đang đi “chuộc” hai tiếp viên và hỏi bị cáo Q về việc giao nhận tiếp viên. Bị cáo Q điện thoại cho bị cáo T1 nói “Có hai nhân viên xin vào làm mà nó thiếu nợ người ta chị nhận không”, T1 nói bị cáo Quảng cứ đưa tiếp viên đến quán để bị cáo T1 xem. Bị cáo Quảng điện lại cho bị cáo Đ1 nói đưa tiếp viên về quán K1 gặp bị cáo T1. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo Đ1 gặp bị cáo T1 thỏa thuận theo sự giới thiệu của bị cáo Q và chuyển giao thành công các bị hại L1 và Q1 với số tiền 24.000.000 đồng.

Sau khi tiếp nhận, bị cáo T1 đưa hai bị hại L1 và Q1 vào phòng khóa trái cửa lại và nói hai nhân viên là bị cáo Tô Xuân Đ và bị cáo Lê Văn T2 canh giữ. Khi khách đến hát karaoke có yêu cầu tiếp viên, bị cáo T2 hoặc bị cáo Đ mở khóa phòng để bị hại L1 và Q1 ra tiếp khách, tiếp khách xong bị hại L1 và Q1 sẽ được đưa về phòng nhốt lại; khi đến giờ ăn, bị cáo T1 nói bị cáo Đ hoặc bị cáo T2 mua cơm mang vào cho các bị hại L1 và Q1 ăn. Ngoài ra, các bị hại L1 và Q1 không được phép ra ngoài. Đến ngày 25/6/2022, bị hại L1 điện thoại trình báo lực lượng Công an. Cùng ngày, Công an xã M (nay là phường M) đến quán karaoke của bị cáo T1 kiểm tra và mời các bị cáo T1, T2, Đ, các bị hại L1 và Q1 về trụ sở làm việc. Tại thời điểm xảy ra vụ án, các bị hại Q1 và L1 chưa đủ 16 tuổi.

Với những hành vi nêu trên bị cáo Đoàn Văn Q cùng các đồng phạm bị toà án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Giữ người trái pháp luật” là có căn cứ đúng pháp luật.

[2] Xét đơn kháng cáo của bị cáo Đoàn Văn Q; Hội đồng xét xử xét thấy:

Hành vi của bị cáo Đoàn Văn Q do bị cáo T1 cần tiếp viên nữ phục vụ khách tại quán Karaoke nên bị cáo T1 liên hệ nhờ bị cáo Quảng tìm nhân viên. Sau đó, bị cáo Q liên hệ với bị cáo Đại để nhờ bị cáo Đ1 tìm tiếp viên cho bị cáo Q. Bị cáo Đ1 tiếp nhận hai tiếp viên số tiền chuộc 8.000.000 đồng/người. Vì bị cáo Đ1 không quen biết với bị cáo T1 nên bị cáo Đ1 điện thoại báo cho bị cáo Q biết việc bị cáo Đ1 đi “chuộc” 02 tiếp viên và hỏi bị cáo Q về việc giao nhận tiếp viên. Bị cáo Q điện thoại cho bị cáo T1, bị cáo T1 nói bị cáo Quảng cứ đưa tiếp viên đến quán để bị cáo T1 xem. Bị cáo Quảng điện lại cho bị cáo Đ1 nói đưa tiếp viên về quán K1 gặp bị cáo T1. Bị cáo Đ1 gặp bị cáo T1 thỏa thuận theo sự giới thiệu của bị cáo Q và chuyển giao thành công hai bị hại L1 và Q1 với số tiền 24.000.000 đồng. Tuy bị cáo Q không trực tiếp thực hiện hành vi chuyển giao người để nhận tiền nhưng bị cáo Q với vai trò giúp sức về mặt tinh thần cho bị cáo T1 và bị cáo Đ1 thực hiện hành vi phạm tội “Mua bán người dưới 16 tuổi”.

Do bị cáo Q có 04 tiền án, chưa được xoá án tích, vì vậy, lần phạm tội này bị cáo Q phạm tội thuộc trường hợp bị áp dụng tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm g khoản 3 Điều 151 Bộ luật Hình sự.

Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét đánh gía đúng tính chất mức độ hành vi của bị cáo, áp dụng đúng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đồng thới đánh giá về nhân thân của bị cáo áp dụng để xử phạt bị cáo 18 năm tù là thoả đáng và không nặng. Bị cáo kháng cáo nhưng không có tình tiết giảm nhẹ nào mới, do vậy không có căn cứ để chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo.

Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến của Viện kiểm sát, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đoàn Văn Q, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[3] Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Đoàn Văn Q. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2024/HS-ST ngày 22 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước.

1. Về tội danh:

- Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn Q phạm tội “Mua bán người dưới 16 tuổi” theo quy định tại điểm g khoản 3 Điều 151 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

2. Căn cứ điểm g khoản 3 Điều 151; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Đoàn Văn Q 18 (mười tám) năm tù về tội “Mua bán người dưới 16 tuổi”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam là ngày 26 tháng 01 năm 2024.

Án phí: Bị cáo Đoàn văn Q phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao; (1)
  • - VKSNDCC tại TP Hồ Chí Minh; (1)
  • - TAND tỉnh Bình Phước; (5)
  • - VKSND tỉnh Bình Phước; (1)
  • - Công an tỉnh Bình Phước (1)
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước; (1)
  • - Cục THADS tỉnh Bình Phước. (1)
  • - Bị cáo, (2)
  • - Lưu VT (5), HS (2) (Án-Anh).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Mai Xuân Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 194/2025/HS-PT ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về mua bán người dưới 16 tuổi

  • Số bản án: 194/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán người dưới 16 tuổi
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Đoàn Văn Q, sinh năm 1983 tại Nam Định. - Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn Q phạm tội “Mua bán người dưới 16 tuổi” theo quy định tại điểm g khoản 3 Điều 151 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; - Căn cứ điểm g khoản 3 Điều 151; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Đoàn Văn Q 18 (mười tám) năm tù về tội “Mua bán người dưới 16 tuổi”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam là ngày 26 tháng 01 năm 2024.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger