Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 194/2024/HS-ST
Ngày 10 tháng 12 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

  • - Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Linh
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Duy Thụy, bà Phan Thị Yến.
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Trần Ngọc Ký – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Kim Chi - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 193/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 194/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn V, sinh ngày 22/9/2001 tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú: Số F, tổ D, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; nơi ở hiện nay: Khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Giáo viên trường L; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn V1 và bà Nguyễn Thị Thu C; vợ con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 19/6/2018 bị Công an thành phố L xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh nhau”, đã nộp phạt.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/9/2024 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố L (có mặt).

Bị hại: Bà La Hoài T, sinh năm 1985; địa chỉ: A, khóm B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 19 tháng 9 năm 2024, Nguyễn Văn V điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario màu xám, biển số 67AA-232.58 trên đường N. Khi đến đoạn đèn tín hiệu giao thông trên đường N khóm T, phường M, thành phố L, V thấy chị La Hoài T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Spacy, màu trắng phía trước cùng chiều, trên cổ có đeo sợi dây chuyền vàng 18k loại vàng 610 dáng đôi hai tầng, dài 105cm, trọng lượng 2,998 chỉ, nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. Thực hiện ý định này, V điều khiển xe mô tô 67AA-232.58 áp sát bên trái xe mô tô của chị T, dùng tay phải giựt sợi dây chuyền của chị T để vào túi quần bên trái rồi tăng ga bỏ chạy về tuyến tỉnh lộ 943 hướng T, để đến nơi làm việc tại ấp H, xã P, huyện T, tỉnh An Giang.

Đến 10 giờ 30 phút cùng ngày, V đến Công an phường M đầu thú và giao nộp tang vật.

Vật chứng thu giữ: 01 sợi dây chuyền vàng 18k loại vàng 610 dáng đôi hai tầng, dài 105cm trọng lượng 2,998 chỉ; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario màu xám, biển số 67AA-232.58, có số khung MH1KF1126HK146734, số máy KF11E2143918.

Tại Kết luận định giá tài sản số 1927 ngày 22 tháng 10 năm 2024, của Hội đồng định giá thường xuyên để định giá tài sản trong tố tụng hình sự trên địa bàn thành phố L, xác định: 01 sợi dây chuyền vàng 18k loại vàng 610 dáng đôi hai tầng, dài 105cm trọng lượng 2,998 (hai chỉ chín phân chín li tám dem) trị giá 16.380.200 đồng.

Tại Cáo trạng số: 201/CT-VKSCĐ-HS ngày 06 tháng 11 năm 2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố thành phố Long Xuyên đã truy tố Nguyễn Văn V về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn V khai nhận hành vi phạm tội như nội dung nêu trên.

Bị hại vắng mặt tại phiên toà nhưng quá trình điều tra trình bày phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Áp dụng Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đề nghị: Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario màu xám, biển số 67AA-232.58, số khung MH1KF1126HK146734, số máy KF11E2143918. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì nên không đề cập xem xét.

Bị cáo không bào chữa và tranh luận gì khác, lời sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến và khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

- Tại phiên toà, bị hại vắng mặt dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của bị hại không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các biên bản xác minh, biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 06 giờ 30 phút, ngày 19/9/2024, trên đường N (đoạn đèn tín hiệu giao thông) thuộc khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang, bị cáo Nguyễn Văn V đã có hành vi điều khiển xe mô tô biển số 67AA-232.58, chạy áp sát với xe chạy cùng chiều của bị hại T để thực hiện hành vi cướp giật dây chuyền vàng của bị hại La Hoài T với mục đích nhanh chóng để tẩu thoát, tổng trị giá tài sản là 16.380.200 đồng.

Hành vi dùng xe mô tô để cướp giật tài sản của người đi xe mô tô là tình tiết định khung hình phạt tăng nặng “dùng thủ đoạn nguy hiểm” căn cứ hướng dẫn tại tiểu mục 5.3 mục 5 phần I Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25/12/2001.

Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn V đã phạm tội “Cướp giật tài sản”, với tình tiết định khung tăng nặng “dùng thủ đoạn nguy hiểm” được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt tù từ 03 năm đến 10 năm tù.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, đồng thời còn gây mất trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình. Do đó, cần xử lý nghiêm với hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo là người trưởng thành, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Lẽ ra bị cáo phải lao động tích cực để nuôi sống bản thân, gia đình và giúp ích cho xã hội. Nhưng chỉ vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân mà không cần phải lao động, bị cáo đã có hành vi cố ý cướp giật tài sản của người khác. Do đó, cần phải có hình phạt tương xứng với mức độ nghiêm trọng của tội phạm.

Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo; tự nguyện nộp lại toàn bộ tài sản cướp giật được để khắc phục hậu quả; tự nguyện đầu thú và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, ngoài ra bị cáo cũng đã hoàn thành xong nghĩa vụ quân sự. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét thấy: Bị cáo được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, nhưng hành vi phạm tội của bị cáo thuộc tội phạm rất nghiêm trọng. Do đó, việc áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc là cần thiết nhằm giáo dục răn đe và phòng ngừa chung. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội một thời gian là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 171 của Bộ luật Hình sự thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng”. Xét thấy, bị cáo không có tài sản, thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 sợi dây chuyền vàng đã trao trả cho chủ sở hữu nên không đề cập giải quyết; đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario màu xám, biển số 67AA-232.58 là phương tiện dùng vào việc phạm tội, còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét giải quyết.

[9] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 19/9/2024).

Căn cứ Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario, màu xám, biển số 67AA-232.58.

(Đặc điểm theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 11 tháng 11 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên).

Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Văn V phải chịu 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh An Giang;
  • - VKSND thành phố Long Xuyên;
  • - Công an thành phố Long Xuyên;
  • - CQTHAHS Công an Tp. Long Xuyên;
  • - Nhà tạm giữ - Công an Tp. Long Xuyên;
  • - Chi cục THADS thành phố Long Xuyên;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Hành chính tư pháp.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Mỹ Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 194/2024/HS-ST ngày 10/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về hình sự về tội cướp giật tài sản

  • Số bản án: 194/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn V phạm tội cướp giật tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger