|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 194/2024/HSST
Ngày 05 tháng 12 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÚ QUỐC – TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hồ Văn Bình
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Phước Lộc
- Bà Nguyễn Tường Diễm Linh Giang
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Cẩm Duyên - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Tặng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 05 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 153/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 185/2024/QĐXXST- HS ngày 19 tháng 11 năm 2024, đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Trần Thành Đ, sinh ngày 27/9/2001, tại A, Kiên Giang; nơi thường trú: Ấp A Chợ, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang; nơi ở hiện nay: Ấp R, xã H, thành phố P, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị Đ1; vợ Trần Thị Tuyết N; con 01 người sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/3/2024 cho đến nay.
- Họ và tên: Huỳnh Lập N1, sinh ngày 22/9/2004, tại P, Kiên Giang; nơi thường trú: Ấp S, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang; nơi ở hiện nay: Ấp S, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn N2 và bà Hồ Ngọc H; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/3/2024 cho đến nay.
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Trần Thanh K, sinh năm 1977 (có đơn xin vắng mặt). Địa chỉ: Ấp B, xã H, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
- Bà Hồ Ngọc H, sinh năm 1981 (có mặt xin vắng mặt). Địa chỉ: Ấp S, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ 50 phút ngày 28/3/2024, Trần Thành Đ đang ở phòng trọ thuộc ấp R, xã H, thành phố P, thì có người phụ nữ tên T1 (chưa rõ nhân thân) gọi điện qua ứng dụng Facebook hỏi Đ có biết ai bán ma túy loại Ketamine và thuốc lắc không thì mua giùm T1, Đặng đồng ý. Đ dùng điện thoại di động nhắn tin bằng ứng dụng Facebook cho người thanh niên tên T2 (chưa rõ nhân thân) hỏi mua ma túy loại Ketamine và 04 viên thuốc lắc với giá 4.000.000 đồng, Đ nhắn tin riêng với T2 thỏa thuận giá là 4.400.000 đồng để hưởng phần chênh lệch 400.000 đồng từ T1, T2 đồng ý. T2 cho số điện thoại của Huỳnh Lập N1 kêu Đặng đi đến sân bóng đá mini Sáng Tươi trên đường P, thuộc khu phố A, phường D, thành phố P để đi giao ma túy cùng N1. Lúc này, T2 gọi qua ứng dụng Facebook kêu N1 đi đến Hẻm I, đường T, thuộc khu phố G, phường D, thành phố P để lấy ma túy đi giao cho khách, T2 cho số điện thoại để khi đến nơi N1 liên hệ. Khi đến nơi N1 gặp một người thanh niên đeo khẩu trang (chưa rõ nhân thân) đưa cho N1 một bịch nylon màu đen bên trong có chứa ma túy. T2 kêu N1 đi giao bịch nylon chứa ma túy vừa nhận được cho khách, T2 sẽ trả cho N1 tiền công là 200.000 đồng, N1 đồng ý. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, N1 mang bịch nylon chứa ma túy nói trên về lại sân bóng đá mini Sáng T3 gặp Đ để cả hai cùng đi giao ma túy. Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Sirius, màu đen, biển kiểm soát 68P1-697.61 mượn của ông Trần Thanh K trước đó chở N1 ngồi phía sau tay phải cầm bịch nylon màu đen bên trong chứa ma túy để đi giao cho khách. Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, khi cả hai đang dừng xe chờ giao ma túy tại khu vực cổng G, thuộc tổ G, ấp G, xã G thì bị Công an thành phố P kiểm tra, phát hiện, tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trần Thành Đ và Huỳnh Lập N1. Ngày 05/4/2024, Đ và N1 bị Cơ quan điều tra – Công an thành phố P khởi tố, tạm giam để điều tra.
Tang vật vụ án thu giữ gồm:
01 bịch nylon màu đen, có rãnh gài, kích thước 04x06 cm bên trong bịch nylon có chứa 01 bịch nylon có rãnh gài viền màu xanh, kích thước 03x03,5cm có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng không đồng nhất và 04 viên nén màu xám, hình dạng không xác định hình dạng, đã được niêm phong gửi giám định; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu đen, số IMEI: 353890103723729, mặt sau máy bị vỡ nát, máy đã qua sử dụng (Máy của Huỳnh Lập N1); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu đen, số IMEI: 353096100183772, máy đã qua sử dụng (Máy của Trần Thành Đ) và 01 mô tô nhãn hiệu Yamaha sirius, màu đen, biển kiểm soát 68P1-967.61, xe đã qua sử dụng.
Tại bản kết luận giám định số: 280/KL-KTHS ngày 04/4/2024
của Phòng K2 Công an tỉnh K kết luận: “Các hạt tinh thể rắn màu trắng không đồng nhất, chứa trong 01 bịch nylon là ma túy, loại Ketamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 1,5162 gam.
04 viên nén màu xám, không rõ hình dạng là ma túy loại MDMA, khối lượng là 1,7632 gam”.
MDMA là chất ma túy nằm trong danh mục IB, STT 11, Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ và K1 là chất ma túy nằm trong danh mục III, STT 50, Nghị định 57/2022/NĐ – CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ”.
Tổng 02 chất là 39,13% (trong đó: MDMA là 30,32% Ketamine là 8,81%) so với quy định khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại Cáo trạng số: 154/CT-VKSPQ ngày 20/9/2024, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc đã truy tố bị cáo Trần Thành Đ và Huỳnh Lập N1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc phát biểu:
Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Thành Đ và Huỳnh Lập N1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Trần Thành Đ mức án từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù.
Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Lập Nhân T4 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
01 mô tô nhãn hiệu Yamaha sirius, màu đen, biển kiểm soát 68P1-967.61, xe đã qua sử dụng đã trao trả cho chủ sở hữu là ông Trần Thanh K nên đề nghị miễn xét.
Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu đen, số IMEI: 353890103723729, mặt sau máy bị vỡ nát, máy đã qua sử dụng (của Huỳnh Lập N1) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu đen, số IMEI: 353096100183772, máy đã qua sử dụng (của Trần Thành Đ);
Tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 (một) phong bì ký hiệu vụ số 309/2024. Bên trong phong bì bao gồm bao gói đựng mẫu và: Các hạt tinh thể rắn màu trắng, có khối lượng là 1,4443 gam được đựng trong 01 bịch nylon và C bột màu xám có khối lượng là 1,6187 gam được đựng trong 01 bịch nylon. (Tất cả vật chứng thể hiện tại Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 21/11/2024).
Đối với người đàn ông tên T2, người phụ nữ tên T1 và người thanh niên đã giao ma túy cho N1 chưa xác định rõ nhân thân, Cơ quan Cảnh sát điều tra đang tiếp tục điều tra làm rõ khi có đủ tài liệu, chứng cứ sẽ xử lý sau.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc không khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Trần Thành Đ và Huỳnh Lập N1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 28/3/2024, Trần Thành Đ và Huỳnh Lập N1 mang 1,5162 gam ma túy loại Ketamine và 1,7632 gam ma túy loại MDMA đi bán cho người tên T2 (chưa rõ nhân thân) để được hưởng tiền lần lượt là 400.000 đồng và 200.000 đồng, khi cả hai đang dừng xe chờ giao ma túy cho khách tại khu vực cổng G, thuộc tổ G, ấp G, xã G, thành phố P thì bị Công an thành phố P bắt quả tang. Tại kết luận giám định vật chứng thu giữ của các bị cáo là loại Ketamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 1,5162 gam và 04 viên nén màu xám, không rõ hình dạng là ma túy loại MDMA, khối lượng là 1,7632 gam. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc đã truy tố các bị cáo Trần Thành Đ và Huỳnh Lập N1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo: Hành vi phạm tội của các bị cáo mang tính chất nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy. Đối với các chất ma túy là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội khác, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương. Các bị cáo là người đã trưởng thành, có đủ năng lực hành vi, nhận thức được tác hại của ma túy nhưng các bị cáo vẫn mua bán mục đích để vụ lợi nên dẫn thân vào con đường phạm tội. Vì vậy, cần phải xử phạt nghiêm mới đủ tính răn đe, giáo dục các bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội, đồng thời phòng ngừa chung đối với các loại tội phạm này.
Trong vụ án này, bị cáo Trần Thành Đ là người thực hiện hành vi tích cực, chủ động liên lạc, tìm nguồn ma túy và trực tiếp hỏi mua ma tý về bán cho các đối tượng nghiện nên mức án của bị cáo phải cao hơn bị cáo N1 mới tương xứng với vai trò của bị cáo trong vụ án. Đối với bị cáo Huỳnh Lập N1 là người đồng phạm tích cực, khi T2 giới thiệu thì bị cáo cùng bị cáo Đặng Đ2 giao ma tý cho khách hàng nên bị cáo phải chịu mức hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo.
[4] Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ hình phạt theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, các bị cáo lẽ ra còn phải chịu hình phạt bổ sung bằng tiền theo khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy, các bị cáo chưa có việc làm ổn định, không có thu nhập nên miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho các bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P đã trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha sirius, màu đen, biển kiểm soát 68P1-697.61, xe đã qua sử dụng cho chủ sở hữu là ông Trần Thanh K theo biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liện ngày 20/6/2024 (BL số 122) là có căn cứ nên miễn xét.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu đen, số IMEI: 353890103723729, mặt sau máy bị vỡ nát, máy đã qua sử dụng (Máy của Huỳnh Lập N1) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu đen, số IMEI: 353096100183772, máy đã qua sử dụng (Máy của Trần Thành Đ) các bị cáo dùng để làm phương tiện phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 (một) phong bì ký hiệu vụ số 309/2024. Bên trong phong bì bao gồm bao gói đựng mẫu và: Các hạt tinh thể rắn màu trắng, có khối lượng là 1,4443 gam được đựng trong 01 bịch nylon và C bột màu xám có khối lượng là 1,6187 gam được đựng trong 01 bịch nylon là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên tích thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[7] Đối với người đàn ông tên T2, người phụ nữ tên T1 và người thanh niên đã giao ma túy cho N1 chưa xác định rõ nhân thân nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đang tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố các bị cáo Trần Thành Đ và Huỳnh Lập N1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt:
- Bị cáo Trần Thành Đ 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 28/3/2024.
- Bị cáo Huỳnh Lập N1 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 28/3/2024.
- Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a và điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu đen, số IMEI: 353890103723729, mặt sau máy bị vỡ nát, máy đã qua sử dụng (Máy của Huỳnh Lập N1) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu đen, số IMEI: 353096100183772, máy đã qua sử dụng (Máy của Trần Thành Đ);
Tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 (một) phong bì ký hiệu vụ số 309/2024. Bên trong phong bì bao gồm bao gói đựng mẫu và: Các hạt tinh thể rắn màu trắng, có khối lượng là 1,4443 gam được đựng trong 01 bịch nylon và C bột màu xám có khối lượng là 1,6187 gam được đựng trong 01 bịch nylon.
(Tất cả vật chứng được thể hiện tại Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 21/11/2024).
Đối với 01 mô tô nhãn hiệu Yamaha sirius, màu đen, biển kiểm soát 68P1-697.61, xe đã qua sử dụng, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P trả lại cho chủ sở hữu là ông Trần Thanh K theo biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 20/6/2024 (BL số 122).
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Trần Thành Đ và Huỳnh Lập N1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Văn Bình |
Bản án số 194/2024/HSST ngày 05/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC – TỈNH KIÊN GIANG về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 194/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC – TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thanh Đ và Huỳnh Lập N phạm tội mau bán trái phép chất ma túy
