Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ VĨNH CHÂU

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 194/2024/DS-ST

Ngày: 30/9/2024

Về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Lâm Minh Tuấn.
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    • Ông Sơn Khem
    • Ông Triệu Khánh Long
  • Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Tâm, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
  • Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu tham gia phiên tòa: Ông Âu Hoàng Mến- Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 412/2023/TLST-DS, ngày 08 tháng 12 năm 2023 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 197/2024/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ngân hàng N1;
  • Địa chỉ trụ sở chính: Số B đường L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.
  • Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Hoài P là người đại diện theo ủy quyền (theo văn bản ủy quyền số 439/GUQ-NHNo-VC ngày 30/9/2024) (ông P có mặt).
  • Địa chỉ: Số D đường N, khóm A, phường A, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.
  • - Bị đơn: Khưu Thuộc (Khưu Thuột); sinh năm: 1954 (vắng mặt)
  • Địa chỉ: Số F, ấp T, xã H, thị xã V, tỉnh Sóc
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Ong Thị B (Ong Thị P1); sinh năm: 1956 (có mặt)
      Địa chỉ: Số 65, ấp Trà Teo, xã Hòa Đông, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc
    2. Bà Khưu Thị Huỳnh N; sinh năm: 1978 (vắng mặt)
      Địa chỉ: Số 65, ấp Trà Teo, xã Hòa Đông, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc
    3. Ông Khưu Văn T; sinh năm 1975 (vắng mặt)
      Địa chỉ: Số 65, Ấp Trà Teo, xã Hòa Đông, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng
    4. Bà Khưu Thị K; sinh năm: 1984 (vắng mặt)
      Địa chỉ: Số 65, ấp Trà Teo, xã Hòa Đông, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng
    5. Ông Khưu Văn H; sinh năm: 1987 (có mặt)
      Địa chỉ: Số F, ấp T, xã H, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 02/10/2023 của nguyên đơn Ngân hàng N1 cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn – ông Nguyễn Hoài P trình bày:

Ngày 20/01/2020, Ngân hàng N1 Chí nhánh thị xã V với ông Khưu T1 đã ký kết Hợp đồng tín dụng số 7606-LAV202000087. Theo Hợp đồng, Ngân hàng N1 Chi nhánh thị xã V, Sóc Trăng cho ông K1 Thuộc vay số tiền 300.000.000 đồng; mục đích vay: Nuôi tôm.; lãi suất 10,5%/ năm; thanh toán trả lãi hàng quý, trả nợ gốc 01 lần khi đến hạn; thời hạn vay là 8 tháng.

Hợp đồng tín dụng trên được bảo đảm bằng Hợp đồng thế chấp sau:

- Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 149/HĐ/02/2020/HĐTC ngày 21/01/2020 được ký kết giữa ông K1 Thuộc và Ngân hàng N1 Chi nhánh thị xã V; tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất tại các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như sau:

  • + Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 670412, có diện tích 6.378 m2 (loại đất: 1L), thửa số 41; tờ bản đồ số 07, tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện V, tỉnh Sóc Trăng (Nay là ấp T, xã H, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng) do Ủy ban nhân dân huyện V (Nay là UBND thị xã V) cấp cho hộ ông K1 Thuộc ngày 10/11/1998.
  • + Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số E 0629560, có diện tích 8.819 m2 (loại đất: 1L), thửa số 208; tờ bản đồ số 07, tọa lạc ấp T, xã H, huyện V, tỉnh Sóc Trăng (Nay là ấp T, xã H, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.), do Ủy ban nhân dân huyện V, tỉnh Sóc Trăng cấp cho hộ ông K1 Thuộc ngày 29/06/1996.
  • + Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số E 0629517, có diện tích 15.726 m2 (loại đất 1L, Đất nuôi trồng thủy sản), thừa số 167, 192, 746; tờ bản đồ số 07, tọa lạc ấp T, xã H, huyện V, tỉnh Sóc Trăng (Nay là ấp T, xã H, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng) do Ủy ban nhân dân huyện V, tỉnh Sóc Trăng cấp cho hộ Ông K1 Thuộc ngày 29/06/1996.

Tính đến hết ngày 02/10/2023, tổng nợ của ông Khưu T1, bà Ong Thị B tạm tính (do nợ lãi vẫn tiếp tục phát sinh) tại Ngân hàng N1 Chi nhánh thị xã V, Sóc Trăng là: 462.073.973 đồng, trong đó:

  • - Nợ gốc: 300.000.000 đồng.
  • - Nợ lãi trong hạn: 114,349.315 đồng.
  • Nợ lãi quá hạn: 47.724.658 đồng. Nợ lãi chậm trả: 0 đồng.

Ngân hàng N1 Chi nhánh thị xã V đã nhiều lần làm việc trực tiếp và có văn bản yêu cầu ông Khưu T1, bà Ong Thị B thực hiện nghĩa vụ trả nợ nếu trên theo Hợp đồng tín dụng số 7606- LAY202000087 ngày 20/01/2020, yêu cầu ông Khưu T1, Bà Ong Thị B thực hiện nghĩa vụ theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 149/HD/02/2020/HĐTC ngày 21/01/2020, Tuy nhiên, tính đến nay, ông Khưu T1, bà Ong Thị B vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả toàn bộ nợ gốc, nợ lãi cho Ngân hàng N1.

Nay ngân hàng N1 yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • - Buộc ông Khưu T1 (K) và bà Ong Thị B (Ong Thị P1) phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng N1 toàn bộ số tiền nợ gốc và lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 7606-LAV202000087 ngày 20/01/2020.
  • - Trong trường hợp ông Khưu T1 (K) và bà Ong Thị B (Ong Thị P1)không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp tài sản mà hai bên đã ký kết để thu hồi nợ.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Ngân hàng N1 thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, phía ngân hàng không yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là các thửa đất số 208 tờ bản đồ số 07, tọa lạc ấp T, xã H, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng và yêu cầu cụ thể như sau:

Buộc ông ông Khưu T1 (K) và bà Ong Thị B (Ong Thị P1) thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng N1 toàn bộ số tiền tính đến ngày 30/9/2024 là 509.194.521 đồng (trong đó: Nợ gốc: 300.000.000 đồng, lãi trong hạn: 145.763.014đồng, lãi quá hạn: 63.431.507 đồng) và lãi phát sinh theo mứức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 7606-LAV202000087 ngày 20/01/2020, kể từ ngày 01/10/2024 cho đến khi ông K1 Thuộc (K) và bà Ong Thị B (Ong Thị P1) trả hết nợ gốc cho Ngân hàng N1.

Trường hợp ông Khưu T1 (K) và bà Ong Thị B (Ong Thị P1) không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm là thửa đất số 41, 167, 192 và thửa 746, tờ bản đồ số 07 tọa lạc ấp T, xã H, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng theo Hợp đồng thế chấp số 149/HĐ/02/2020/HĐTC ngày 21/01/2020 mà hai bên đã ký kết để thu hồi nợ.

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại biên bản lấy lời khai ông Khưu T1 (K) trình bày: Ông thừa nhận có vay Ngân hàng N1 – Chi nhánh thị xã V số tiền nợ gốc 300.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng mà hai bên ký kết và thống nhất thanh toán số tiền nợ gốc và lãi suất phát sinh theo hợp đồng cho phía ngân hàng. Tuy nhiên, do điều kiện kinh tế khó khăn nên yêu cầu được trả dần số tiền nêu trên.

Trong quá trình giải quyết vụ án, và tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Ong Thị B (Ong Thị P1) trình bày: Bà thống nhất với lời trình bày của ông Khưu T1 (K), bà là vợ ông T1 (Thuột), việc ông T1 (Thuột) vay vốn ngân hàng là để phục vụ sinh hoạt và kinh tế trong gia đình nên bà thống nhất cùng ông T1 (Thuột) thanh toán số tiền còn nợ cho ngân hàng nhưng do kinh tế khó khăn nên yêu cầu được trả dần số tiền mà ngân hàng yêu cầu.

Trong quá trình giải quyết vụ án, và tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Khưu Văn H trình bày: Ông là con của ông Khưu T1 (Khưu Thuột) và bà Ong Thị B (Ong Thị P1). Hiện ông đang ở cùng với ông Khưu T1 (Khưu Thuột) và bà Ong Thị B (Ong Thị P1), ông cùng với người con khác của ông Khưu T1 (K) và bà Ong Thị B (Ong Thị P1) có ủy quyền cho ông K1 Thuộc (K) và bà Ong Thị B (Ong Thị P1) thế chấp quyền sử dụng đất để vay vốn tại ngân hàng. Hiện nay do kinh tế khó khăn nên ông yêu cầu ngân hàng xem xét cho ông Khưu T1 (K) và bà Ong Thị B (Ong Thị P1) trả dần số tiền còn nợ.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa nêu quan điểm: Qua thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký phiên tòa cũng như Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, chứng cứ được thu thập đầy đủ đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho các đương sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Đối với bị đơn Khưu T1 (K) người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Khưu Thị Huỳnh N, ông Khưu Văn T, bà Khưu Thị K trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định. Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn ông Khưu T1 (K) và bà Ong Thị B (Ong Thị P1) liên đới trả nguyên đơn Ngân hàng N1 số tiền 509.194.521 đồng (trong đó: Nợ gốc: 300.000.000 đồng, lãi trong hạn: 145.763.014đồng, lãi quá hạn: 63.431.507 đồng) và ông ông T1 (T2), bà B (P) phải trả lãi phát sinh kể từ ngày 01/10/2024 theo lãi suất trong Hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết cho đến khi thanh toán hết nợ.

Ghi nhận sự thay đổi yêu cầu khởi kiện của ngân hàng N1 về việc không yêu cầu xử lý tài sản thế chấp đối với thửa đất số 208, tờ bản đồ số 07, tọa lạc ấp T, xã H, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng theo hợp đồng thế chấp số 149/HĐ/02/2020/HĐTC ngày 21/01/2020. Trường hợp ông Khưu T1 (K) và bà Ong Thị B (Ong Thị P1) không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì ngân hàng có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Đồng thời quyết định về nghĩa vụ chịu án phí, chi phí thẩm định đo đạc theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn ngân hàng N1 khởi kiện tranh chấp về hợp đồng tín dụng với bị đơn là ông Khưu T1 (Khưu Thuột) có địa chỉ tại ấp T, xã H, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng. Do đó, theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
  2. [2] Bị đơn ông Khưu T1 (K), người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Ong Thị B (Ong Thị P1), bà Khưu Thị Huỳnh N, ông Khưu Văn T, bà Khưu Thị K đã được triệu tập hợp lệ hai lần tham gia phiên tòa, đều vắng mặt không có lý do nên phải chịu hậu quả pháp lý về việc vắng mặt của mình. Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật và Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vụ án vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
  3. [3] Nguyên đơn thay một phần yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu xử lý tài sản thế chấp đối với thửa đất số 208, tờ bản đồ số 07, tọa lạc ấp T, xã H, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng theo hợp đồng thế chấp số 149/HĐ/02/2020/HĐTC ngày 21/01/2020. Căn cứ khoản 1 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự, việc thay đổi một phần yêu cầu này của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện và không vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
  4. [4] Về nội dung: Việc thỏa thuận vay tiền của bị đơn ông K1 Thuộc (K) tại Hợp đồng tín dụng số 7606- LAY202000087 ngày 20/01/2020 là tự nguyện, bình đẳng nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ của các bên trong giao dịch dân sự, phù hợp với quy định tại các Điều 116, 117 của Bộ luật dân sự năm 2015, hình thức và nội dung hợp đồng phù hợp với quy định tại các Điều 119, 398, 463 của Bộ luật dân sự năm 2015. Đồng thời, các bên thỏa thuận lãi suất trong hạn 10,5%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn là phù hợp với quy định tại Điều 466, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 và Điều 91, 95 của Luật các tổ chức tín dụng. Sau khi các bên ký kết hợp đồng, ông T1 (T2) còn nợ lại tiền nợ gốc là 300.000.000 đồng và tiền lãi chưa thanh toán cho đến nay nên đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ mà hai bên đã ký kết. Mặc dù Ngân hàng đã yêu cầu bị đơn ông K1 Thuộc (Khưu Thuột) thanh toán nợ nhưng ông T1 (Thuột) không thanh toán theo hợp đồng mà hai bên thỏa thuận. Do vậy, bị đơn ông Khưu T1 (K) đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, là bên có lỗi trong việc thực hiện các thỏa thuận đã ký kết nên ngân hàng N1 yêu cầu bị đơn ông K1 Thuộc (K) phải trả số tiền nợ gốc và nợ lãi tính đến ngày xét xử 30/9/2024 số tiền là 509.194.521 đồng (trong đó: Nợ gốc: 300.000.000 đồng, lãi trong hạn: 145.763.014đồng, lãi quá hạn: 63.431.507 đồng) và yêu cầu tiếp tục tính lãi phát sinh từ ngày 10/10/2024 theo lãi suất trong hợp đồng tín dụng số 7606-LAV202000087 ngày 20/01/2020 mà hai bên đã ký kết là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
  5. [5] Xét về trách nhiệm liên đới: Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Ong Thị B (Ong Thị P1) trình bày, bà là vợ ông K1 Thuộc (K), việc ông T1 (Thuột) vay vốn ngân hàng là để phục vụ sinh hoạt và kinh tế trong gia đình nên bà thống nhất cùng ông T1 (Thuột) thanh toán số tiền còn nợ cho ngân hàng nhưng do kinh tế khó khăn nên yêu cầu được trả dần số tiền mà ngân hàng yêu cầu. Căn cứ vào khoản 1 Điều 27 và khoản 1 Điều 30 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về trách nhiệm liên đới của vợ chồng khi một bên vợ hoặc chồng thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình nên việc Ngân hàng N1 yêu cầu bà Ong Thị B (Ong Thị P1) liên đới cùng ông K1 Thuộc (K) trả tiền nợ vay ngân hàng là có cơ sở được Hội đồng xét xử chấp nhận.
  6. [6] Để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng N1, ông Khưu T1 (K) đã ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 149/HĐ/02/2020/HĐTC ngày 21/01/2020, dùng tài sản là thửa số 167, 192, 746 tờ bản đồ số 07, tọa lạc tại ấp T, xã H, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng, do Ủy ban nhân dân huyện V (Nay là UBND thị xã V) cấp cho hộ Khưu Thuộc (Khưu Thuột) ngày 29/6/1996 và thửa đất số 41 tờ bản đồ số 07, tọa lạc tại ấp T, xã H, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng, do Ủy ban nhân dân huyện V (Nay là UBND thị xã V) cấp cho hộ Khưu Thuộc (Khưu Thuột) ngày 10/11/1998 để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ. Xét thấy, theo biên bản thẩm định tại chỗ đối với 04 thửa đất thế chấp nêu trên thì hiện không có tài sản gì trên đất, toàn bộ 04 thửa đất do hộ ông K1 Thuộc (K) đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp. Đồng thời, tất cả các thành viên trong hộ ông K1 Thuộc (K) và người đang quản lý sử dụng đất gồm bà Ong Thị B (Ong Thị P1), bà Khưu Thị Huỳnh N, ông Khưu Văn T, bà Khưu Thị K và ông Khưu Văn H1 nhất ủy quyền cho ông Khưu T1 (K) thế chấp quyền sử dụng đất nêu trên để vay vốn tại ngân hàng. Mặt khác, Hợp đồng thế chấp 149/HĐ/02/2020/HĐTC ngày 21/01/2020 giữa ngân hàng với bị đơn ông Khưu T1 (K) phù hợp theo quy định tại Điều 317, 318 của Bộ luật dân sự 2015, nội dung hợp đồng thế chấp có quy định rõ về quyền và nghĩa vụ của bên thế chấp và bên nhận thế chấp và có đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 12 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm, nên Hợp đồng thế chấp có giá trị pháp lý và có hiệu lực thi hành.
  7. [7] Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp với số tiền là 750.000 đồng, ông Khưu T1 (Khưu Thuột) và bà Ong Thị B (Ong Thị P1) liên đới chịu theo quy định tại khoản 1 Điều 157 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do nguyên đơn ngân hàng N1 đã tạm ứng thanh toán nên buộc ông K1 Thuộc (K) và và Ong Thị B (Ong Thị P1) phải trả lại số tiền này cho nguyên đơn.
  8. [8] Án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N1 được chấp nhận nên ông Khưu T1 (K) và bà Ong Thị B (Ong Thị P1) phải liên đới chịu án phí. Tuy nhiên, ông Khưu T1 (K) và bà Ong Thị B (Ong Thị P1) thuộc trường hợp là người cao tuổi nên được miễn nộp tiền án theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  9. [9] Toàn bộ quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu là có căn cứ pháp lý và cơ sở thực tiễn như đã nhận định ở trên nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 157; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 244; Điều 271; Điều 273; Điều 278 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ vào các Điều 116, 117, 119, 317, 318, 325, 398, 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự.

Căn cứ vào Điều 91 và Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ngân hàng N1 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng với bị đơn ông Khưu T1 (K).
    Buộc ông Khưu T1 (K) liên đới cùng bà Ong Thị B (Ong Thị P1) thanh toán cho Ngân hàng N1 số tiền 509.194.521 đồng (trong đó: Nợ gốc: 300.000.000 đồng, lãi trong hạn: 145.763.014đồng, lãi quá hạn: 63.431.507 đồng). Ông Khưu T1 (K) và bà Ong Thị B (Ong Thị P1) phải trả lãi phát sinh kể từ ngày 01/10/2024 theo lãi suất trong Hợp đồng tín dụng số LAV202000087 ngày 20/01/2020 mà hai bên đã ký kết cho đến khi thanh toán hết nợ.
  2. Về xử lý tài sản thế chấp: Trường hợp ông Khuru T1 (K) và bà Ong Thị B (Ong Thị P1) không thanh toán hoặc thanh toán không hết nợ, nguyên đơn ngân hàng N1 được quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Khưu Thị Huỳnh N, ông Khưu Văn T, bà Khưu Thị K và ông Khưu Văn H2 nghĩa vụ cùng với bị đơn ông Khưu T1 (K) bàn giao tài sản thế chấp, cụ thể: Thửa đất số 167 (mục đích sử dụng: 1L), diện tích 8.512m², thửa số 192 (mục đích sử dụng: 1L), diện tích 5.214m², thửa 746 (mục đích sử dụng: Hg/b), diện tích 2.000m² đều thuộc tờ bản đồ số 07, tọa lạc tại ấp T, xã H, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng, do Ủy ban nhân dân huyện V (Nay là Ủy ban nhân dân thị xã V) cấp cho hộ Khưu Thuộc (Khưu Thuột) ngày 29/6/1996 và thửa đất số 41 (mục đích sử dụng: 1L), diện tích 6.378m² tờ bản đồ số 07, tọa lạc tại ấp T, xã H, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng, do Ủy ban nhân dân huyện V (Nay là Ủy ban nhân dân thị xã V) cấp cho hộ Khưu Thuộc (Khưu Thuột) ngày 10/11/1998 để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số số 149/HĐ/02/2020/HĐTC ngày 21/01/2020.
    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật nếu ông Khưu T1 (Khưu Thuột) và bà Ong Thị B (Ong Thị P1) thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ hoặc tất toán toàn bộ khoản vay thì Ngân hàng N1 phải có trách nhiệm giải chấp và trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chủ tài sản.
  3. Án phí dân sự sơ thẩm và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ:
    • 3.1. Án phí dân sự sơ thẩm:
      • - Ông Khưu T1 (K) liên đới cùng bà Ong Thị B (Ong Thị P1) chịu án phí dân sự sơ thẩm nhưng ông, bà là người cao tuổi nên được miễn nộp tiền án phí.
      • - Nguyên đơn ngân hàng N1 và P2 triên Nông thôn Việt Nam không phải chịu án phí, hoàn trả cho ngân hàng N1 và P2 triên Nông thôn Việt Nam số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 11.241.479 theo biên lai thu số 0000339 ngày 27 tháng 11 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
    • 3.2. Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Ông Khưu T1 (K) và bà Ong Thị B (Ong Thị P1) phải chịu là 750.000 đồng. Do nguyên đơn ngân hàng N1 đã đóng tạm ứng số tiền này nên ông Khưu T1 (K) và bà Ong Thị B (Ong Thị P1) có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng N1 số tiền 750.000 đồng.
  4. Về quyền kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.
    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014.

Nơi nhận:

  • - VKSND thị xã Vĩnh Châu;
  • - Phòng KTNV&THATAND tinh Sóc Trăng;
  • - Chi cục THADS thị xã Vĩnh Châu;
  • - Các đương sự,
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lâm Minh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 194/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 194/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger