Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 194/2024/HS-ST

Ngày 24-9-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan

  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tư, bà Nguyễn Thị Lan

  • Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hoàng Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Nguyệt - Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm là Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang và điểm cầu thành phần là Trại tạm giam Công an tỉnh B. Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 184/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 181/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

* Họ và tên: Nguyễn Tiến C, sinh năm 1981; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Tổ dân phố M, thị trấn N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 6/12; Con ông: Nguyễn Tiến Đ, sinh năm 1942 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1953; Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là thứ ba; Vợ: Đào Thị T1, sinh năm 1983; Con: Có hai con, lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2005.

Tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 61/2016/HS-ST ngày 27/4/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc giang xử phạt 02 năm 6 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (đến ngày 27/3/2023 bị cáo mới chấp hành xong tiền án phí và phạt bổ sung); Bản án hình sự sơ thẩm số 190/2022/HS-ST ngày 09/11/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt 01 năm 3 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, phạm tội thuộc trường hợp tái phạm, chấp hành xong án phạt tù ngày 15/11/2023.

Tiền sự: Không

Nhân thân: Ngày 20/4/2007 bị Công an thành phố B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; ngày 11/3/2008 bị Công an phường H, thành phố B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; ngày 15/10/2010 bị Công an phường M, thành phố B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; ngày 04/8/2011 bị Công an phường T, thành phố B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; bản án hình sự sơ thẩm số 129 ngày 27/8/2008 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma túy”, đã chấp hành xong bản án và được xoá án tích; bản án hình sự sơ thẩm số 41 ngày 30/5/2012 của Tòa án nhân dân huyện Việt Yên xử phạt 02 năm 6 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong bản án và được xoá án tích.

Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/6/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (Có mặt)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1991. Nơi cư trú: Tổ dân phố P, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (Vắng mặt)

  2. Ông Trần Công Đ1, sinh năm 1968. Nơi cư trú: Số nhà A, đường B, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (Vắng mặt)

  3. Chị Đào Thị L, sinh năm 1983. Nơi thường trú: Thị trấn N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã L, thành phố C, tỉnh Hải Dương (Vắng mặt)

* Người chứng kiến: Anh Nguyễn Duy Ư, sinh năm 1983. Nơi cư trú: T, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Buổi sáng ngày 30/5/2024, Nguyễn Tiến C đi từ nhà đến thành phố B với mục đích mua ma túy để sử dụng và bán lại cho người khác thu lời. Theo C khai, C đi đến một quán nước trên vỉa hè gần nhà thờ thuộc phường L, thành phố B thì gặp Trần Công Đ1, C hỏi mua 800.000 đồng ma túy Heroine thì Đ1 đồng ý bán và hẹn buổi tối đi lên lấy ma tuý được cất giấu trong một túi nilon màu đỏ treo ở gốc cây tại khu vực ngã 3 gần nghĩa trang C1, phường T, thành phố B. Sau đó, C đưa cho Đ1 số tiền 800.000 đồng rồi điều khiển xe đi về nhà. Khoảng 22 giờ cùng ngày, C đi xe mô tô đến thành phố B và đi theo chỉ dẫn của Đ1 trước đó rồi đi đến khu vực ngã 3 gần nghĩa trang C1 thì thấy có một túi nilon màu đỏ treo ở cây ven đường. C xuống xe lấy túi nilon mở ra xem thì thấy bên trong có 01 gói giấy bạc đựng ma túy Heroine. C cầm số ma túy này đi về nhà rồi chia thành 10 gói nhỏ, đã sử dụng hết 02 gói ma túy, còn lại 08 gói ma túy cất giấu trong túi áo khoác mục đích vừa để sử dụng, vừa để bán lại cho người khác thu lời.

Khoảng 09 giờ ngày 01/6/2024, C đem theo 08 gói ma túy cất giấu ở túi áo khoác bên trái đang mặc rồi điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98B1-853.46 đi từ nhà đến thành phố B mục đích nếu có ai hỏi mua ma tuý thì bán lại kiếm lời. Khi C đi đến thành phố B thì có Nguyễn Văn D là người quen biết từ trước gọi điện thoại cho C hẹn ra quán vỉa hè thuộc phường L, thành phố B uống nước. Tại đây, D hỏi C về địa điểm bán ma túy H nhờ mua giúp 200.000 đồng. Chương hẹn D đi ra khu vực cửa ga tàu ở đường X, phường T, thành phố B để nhận ma túy thì D đồng ý. Sau đó, D điều khiển xe đi ra điểm hẹn trước, khoảng 05 phút sau C điều khiển xe đi ra gặp D. Tại đây, D đưa cho C 200.000 đồng gồm 02 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, C cầm tiền rồi lấy 01 gói ma túy ở túi áo khoác bên trái đang mặc ra đưa cho D. Theo D khai đi về nhà và sử dụng hết số ma tuý vừa mua. Khoảng 10 giờ 20 phút cùng ngày, C điều khiển xe mô tô đến cổng công viên N, phường T, thành phố B thì bị Công an thành phố B kiểm tra, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi mua bán trái phép chất ma túy, tang vật thu giữ gồm: 07 gói giấy bạc, trong đó 05 gói có đặc điểm là một mặt màu trắng bạc, một mặt màu trắng và 02 gói có đặc điểm là một mặt màu vàng, một mặt màu trắng. Kiểm tra bên trong mỗi gói giấy bạc đều đựng chất cục bột màu trắng - nghi là ma tuý; toàn bộ số tang vật do Nguyễn Tiến C lấy từ trong túi áo khoác bên trái đang mặc tự giác giao nộp được cho vào trong một phong bì thư niêm phong dán kín ký hiệu "QT1"; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda biển kiểm soát 98B1-853.46; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu bạc, có số IMEI: 358362062354156, gắn sim số 0394.311.054; 01 ví da màu đen bên trong có số tiền 230.000 đồng gồm 02 tờ mệnh giá 100.000 đồng; 01 tờ mệnh giá 10.000 đồng; 02 tờ mệnh giá 5.000 đồng.

Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Tiến C nhưng không thu giữ đồ vật, tài sản gì. Tiến hành kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 thu giữ của Nguyễn Tiến C không phát hiện nội dung liên quan mua bán ma tuý. Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định số vật chứng nghi là ma tuý thu giữ của Nguyễn Tiến C khi bắt quả tang, Kết luận giám định số 1218/KL-KTHS ngày 06/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: “Trong 01 phong bì thư ký hiệu “QT1” được niêm phong gửi giám định: Chất cục bột màu trắng đựng trong 07 (bảy) gói giấy bạc (trong đó: 05 gói có một mặt màu trắng bạc, một mặt màu trắng và 02 gói có một mặt màu vàng, một mặt màu trắng) đều là ma tuý, loại Heroine, có tổng khối lượng 0,843 gam”

Cơ quan điều tra đã cho Nguyễn Tiến C nhận dạng ảnh của Nguyễn Văn D. Kết quả C nhận đúng ảnh và xác định đã bán cho D 01 gói ma túy Heroin với giá 200.000 đồng vào ngày 01/6/2024. Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra điện thoại Iphone 6 thu giữ của C, kết quả phát hiện có 02 cuộc gọi đến từ số điện thoại 0828.192.xxx hồi 09 giờ 33 phút và 09 giờ 42 phút ngày 01/6/2024. C khai đây là số điện thoại của D gọi cho C vào ngày 01/6/2024. Ngày 26/8/2024, Cơ quan điều tra đã cho Nguyễn Tiến C và Nguyễn Văn D xác định địa điểm mua bán chất ma túy và thực nghiệm điều tra tại hiện trường. Kết quả, C và D xác định vị trí giao dịch mua bán ma túy tại vỉa hè phía trước ga tàu thuộc đường X, phường T, thành phố B; Chương thực hiện động tác nhận tiền do D đưa cho và đưa cho D 01 gói ma tuý Heroin như đã khai.

Tại Bản cáo trạng số 188/CT-VKS ngày 05 tháng 9 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo Nguyễn Tiến C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa:

  • - Bị cáo trình bày: Ngày 30/5/2024 bị cáo mua của ông Đ1 800.000 đồng ma tuý loại H, bị cáo mang ma tuý về nhà chia thành 10 gói nhỏ, bị cáo đã sử dụng hết 02 gói, còn lại 08 gói bị cáo cất giấu trong áo khoác với mục đích vừa để sử dụng, vừa để bán lại cho người khác kiếm lời. Ngày 01/6/2024 bị cáo đem theo 08 gói ma tuý cất giấu ở túi áo khoác rồi điều khiển xe mô tô đến thành phố B với mục đích nếu có ai hỏi mua ma tuý thì bán lại kiếm lời. Bị cáo đã bán được cho anh Nguyễn Văn D 02 gói ma tuý với số tiền 200.000 đồng. Sau khi bán ma tuý cho anh D, bị cáo đi đến cổng công viên N, phường T, thành phố B thì bị Công an bắt quả tang. Bị cáo không sử dụng chiếc điện thoại bị thu giữ để liên lạc mua bán ma tuý với ông Đ1 và anh D vì bị cáo với ông Đ1, anh D trao đổi mua bán ma tuý trực tiếp với nhau, không liên lạc, trao đổi qua điện thoại. Bị cáo nghiện ma tuý từ năm 2006 đến nay chưa cai được nghiện, trước khi phạm tội bị cáo không có công ăn, việc làm, không có thu nhập. Nội dung, diễn biến hành vi phạm tội của bị cáo như cáo trạng nêu là đúng. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo khai báo tự nguyện, không bị ép cung, dùng nhục hình. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, không oan.

  • - Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì.

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

    • + Áp dụng điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến C từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, thời hạn tù tính từ ngày 01/6/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

    • + Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại bị cáo: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu bạc, máy đã qua sử dụng, có số IMEI: 358362062354156, gắn sim số 0394.311.054 và số tiền 30.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án; tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định, 01 ví da màu đen; truy thu, nộp ngân sách nhà nước: Số tiền 200.000 đồng.

  • + Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

  • + Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

  • - Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.

  • - Bị cáo nói lời sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người chứng kiến không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên các quyết định, hành vi này đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người chứng kiến đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Những người vắng mặt đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Căn cứ khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục xét xử vụ án.

[3] Về tội danh: Căn cứ Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 11 giờ 00 phút ngày 01/6/2024 của Công an thành phố B; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ lập hồi 10 giờ 30 phút và 15 giờ 50 phút ngày 01/6/2024 của Công an thành phố B; Kết luận giám định số 1218/KL-KTHS ngày 06/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh B; Biên bản làm việc (kiểm tra mục cuộc gọi đến, cuộc gọi đi của điện thoại) lập hồi 15 giờ 30 phút ngày 01/6/2024 của Công an thành phố B. Căn cứ lời khai của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở xác định: Sáng ngày 01/06/2024, bị cáo Nguyễn Tiến C điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98B1-853.46 mang theo 08 (tám) gói ma túy Heroine đã mua trước đó, đi từ nhà đến thành phố B với mục đích vừa để sử dụng, vừa để bán thu lời. Sau khi bán cho anh D 01(một) gói ma túy Heroine với giá 200.000 đồng, bị cáo điều khiển xe đến công viên Ngô Gia T2 thì bị Công an thành phố B bắt quả tang, thu giữ 0,843 gam ma túy, loại Heroine. Bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng đã thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Hành vi tàng trữ trái phép 0,843 gam ma túy, loại Heroine nhằm mục đích vừa để sử dụng, vừa để bán kiếm lời của bị cáo C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Ngày 27/4/2016 bị cáo bị Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, đến ngày 27/3/2023 bị cáo mới chấp hành xong tiền án phí và phạt bổ sung. Ngày 14/8/2022 (bị cáo chưa được xoá án tích) bị cáo lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang đã xử phạt bị cáo 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (theo Bản án số 190/2022/HS-ST ngày 09/11/2022), bị cáo chấp hành xong án phạt tù ngày 15/11/2023. Vì vậy, lần thực hiện hành vi phạm tội ngày 14/8/2022 thuộc trường hợp tái phạm quy định tại khoản 1 Điều 53 Bộ luật Hình sự. Ngày 01/6/2024 bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 53 của Bộ luật Hình sự, lần thực hiện hành vi phạm tội ngày 01/6/2024 của bị cáo C thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Vì vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo theo tội danh, điểm, khoản, Điều luật trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Về tính chất mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội, gây tâm lý hoang mang, bất an cho người dân. Ma tuý là tệ nạn xã hội làm ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến nhận thức, sức khỏe con người, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Bị cáo vì vụ lợi đã cố ý phạm tội. Do đó, cần xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[7] Về nhân thân: Bị cáo là người đã có 02 (hai) tiền án và có nhân thân xấu. Bị cáo đã 04 lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (ngày 20/4/2007, ngày 11/3/2008, ngày 15/10/2010 và ngày 04/8/2011); ngày 27/8/2008 bị xét xử về tội “Tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma túy” và ngày 30/5/2012 bị xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý.

[8] Sau khi xem xét hành vi, tính chất, mức độ, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo là đối tượng khó giáo dục, cải tạo và cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo với mức hình phạt như đề nghị của Viện Kiểm sát là phù hợp, đảm bảo giáo dục, răn đe bị cáo để vừa có tác dụng giáo dục cải tạo riêng, vừa có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

[9] Ngoài hình phạt chính lẽ ra cần áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự để phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng nộp ngân sách nhà nước, xong Hội đồng xét xử thấy trước khi phạm tội bị cáo là người nghiện ma tuý và không có công ăn việc làm nên cần miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo như đề nghị của Viện Kiểm sát là phù hợp với quy định pháp luật.

[10] Về xử lý vật chứng, tài sản, đồ vật thu giữ:

[10.1] Căn cứ vào điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu bạc, máy cũ đã qua sử dụng, có số IMEI: 358362062354156, gắn sim số 0394.311.054 và số tiền 30.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[10.2] Đối với: Số tiền 200.000 đồng thu giữ của bị cáo là tiền bị cáo có được do phạm tội nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước theo điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.

[10.3] Đối với: 01 phong bì thư hoàn lại sau giám định là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và 01 ví da màu đen không không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của khoản 1, khoản 4 Điều 331, Điều 332 và khoản 1, khoản 3 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự

[13] Về các vấn đề khác có liên quan:

[13.1] Trong quá trình điều tra, bị cáo khai số ma tuý bị thu giữ bị cáo mua của ông Trần Công Đ1. Tuy nhiên, ông Đ1 khai không quen biết và không bán ma tuý cho bị cáo. Cơ quan điều tra đã cho bị cáo và ông Đ1 đối chất nhưng hai bên giữ nguyên lời khai. Ngoài lời khai của bị cáo thì không còn tài liệu khác nên không đủ căn cứ xác định ông Đ1 bán ma tuý cho bị cáo ngày 30/5/2024. Do vậy, Cơ quan Điều tra không có căn cứ xem xét, xử lý ông Đ1 đối với hành vi bán ma tuý cho bị cáo C theo lời khai của bị cáo C là đúng quy định.

[13.2] Đối với hành vi của bị cáo và anh Nguyễn Văn D sử dụng trái phép chất ma túy. Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể của bị cáo và anh D đều dương tính với ma túy. Công an thành phố B đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định.

[13.3] Về xử lý vật chứng: Chiếc xe mô tô Honda biển kiểm soát 98B1-853.46 là của chị Đào Thị L là em họ bị cáo, chị L cho bị cáo mượn xe và không biết bị cáo sử dụng xe làm phương tiện đi mua bán ma tuý. Ngày 29/8/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị L chiếc xe mô tô trên là có căn cứ

[14] Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm q khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ vào điểm b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ vào khoản 2 và điểm a, b khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 292; khoản 1, khoản 4 Điều 331; Điều 332; khoản 1, khoản 3 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến C 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 01/6/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo

  2. Về xử lý vật chứng, tài sản thu giữ:

    • - Trả lại bị cáo Nguyễn Tiến C: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu bạc, máy cũ đã qua sử dụng, có số IMEI: 358362062354156, gắn sim số 0394.311.054 và số tiền 30.000 đồng (Ba mươi nghìn đồng) nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án

    • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì thư hoàn lại sau giám định và 01 (một) ví da màu đen.

    • - Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: Số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) đang tạm giữ của bị cáo.

    • (Theo Quyết định chuyển vật chứng số 137/QĐ-VKS ngày 05 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang và Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 17 tháng 9 năm 2024 giữa Công an thành phố B và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang)

  3. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

  5. Về hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Nguyễn Thị L1

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Lan

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND thành phố Bắc Giang;
  • - Công an thành phố Bắc Giang;
  • - Cơ quan Cảnh sát Điều tra (CATP. Bắc Giang);
  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS thành phố Bắc Giang;
  • - UBND thị trấn Nham Biền, huyện Yên Dũng;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, văn phòng.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 194/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về mua bán trái phép chất ma túy (criminal case)

  • Số bản án: 194/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger