|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 194/2024/HS-ST Ngày 17-9-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Đức Hoàng
Các Hội thẩm nhân dân.
Bà Phạm Thị Bích Ngọc
Bà Hà Thị Nga.
- Thư ký phiên toà: Bà Lưu Hoàng Hải Bình - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 197/2024/HSST ngày 28 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 752/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Thị T, sinh ngày 24 tháng 7 năm 1986 tại Quảng Ninh. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số B H, phường H, quận H, thành phố Hải Phòng; nơi sinh sống: Thôn C, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Duy V (đã chết) và bà Nguyễn Thị Bích L; có chồng là Trần Bá L1 và 02 con; tiền án: Bản án số 97/2022/HS-PT ngày 29/9/2022 Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, 12 tháng thử thách về tội Không tố giác tội phạm (chưa được xóa); tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 19/12/2023; tạm giam ngày 27/12/2023; có mặt.
2. Nguyễn Đình Q, sinh ngày 10 tháng 8 năm 1992 tại Hải Phòng. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số A D, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng; nơi sinh sống: Số E P, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Đình Q1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T1; chưa có vợ con; tiền án: Bản án số 12/2016/HSST ngày 28/01/2016 Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xử phạt 08 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy (chưa được xóa); tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 20/12/2023; tam giam ngày 27/12/2023; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17h15' ngày 19/12/2023, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý - Công an quận L làm nhiệm vụ trên tuyến đường T, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng phát hiện Nguyễn Thị T đang điều khiển xe mô tô màu xanh mang biển kiểm soát 15AA-291.65 khu vực trước cửa nhà số H T, phường V, quận L có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy. Quá trình dừng xe tiến hành kiểm tra, lực lượng Công an đã phát hiện thu giữ bên trong cốp xe mô tô biển kiểm soát 15AA-291.65 Thảo đang điều khiển có 01 túi khẩu trang nhãn hiệu “5D Smart Mask” kích thước 16cm x 18,5cm bên trong có 01 túi nilon màu trắng mép viền đỏ kích thước 8,5cm x 05cm chứa chất tinh thể màu trắng dạng cục nghi là ma túy. Tổ công tác đã tiến hành thu giữ túi nilon trên (Mẫu QT), đưa T cùng vật chứng về trụ sở Công an quận L lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Ngoài ra, còn thu giữ của T 01 xe mô tô biển kiểm soát 15AA-291.65; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng (Ký hiệu A) và số tiền 1.400.000 đồng (Một triệu bốn trăm nghìn đồng).
Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận L đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Thị T tại thôn C, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng. Quá trình khám xét đã thu trên giường ngủ 01 túi xách màu đen bên trong có:
- 01 bằng trung học cơ sở mang tên Nguyễn Thị T
- 01 túi giấy bên trong có: 01 ống nhựa một đầu cắt vát; 01 hộp giấy kích thước 7,5 cm x 13,5cm x 05cm, 01 cân điện tử; 01 tẩu thủy tinh; 05 vỏ túi nilon màu trắng mép viền xanh kích thước 02cm x 02cm và 05 vỏ túi nilon màu trắng mép viền đỏ kích thước 02cm x 02cm.
Tại Cơ quan điều tra, T khai nhận túi nilon chứa tinh thể màu trắng dạng cục bị thu giữ là ma túy “đá” Thảo đang mang đi bán để kiếm lời. Tối ngày 18/12/2023 T gặp và mua của một người nam giới tên T2 3.000.000 đồng được 02 túi nilon trắng đựng 08 gam ma túy đá, T mang số ma túy đã mua được về nhà ở thôn C, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng và chia nhỏ số ma túy vừa mua được. T chia 03 gam ma túy “đá” vào nhiều túi nilon nhỏ rồi cất vào 01 hộp sắt, 05 gam ma túy “đá” còn lại T đựng trong 01 túi nilon màu trắng mép viền đỏ. Sau đó, T để túi nilon đựng 05 gam ma túy “đá” ở nhà T rồi cầm theo hộp sắt đựng 03 gam ma túy “đá” đã chia nhỏ đến nhà Nguyễn Đình Q, sinh năm 1992; trú tại: Số E P, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng để dọn nhà cho Q. Sau khi dọn dẹp xong T về nhà ở thôn C, xã A, huyện A, Hải Phòng và để hộp sắt đựng ma túy “đá” ở nhà Q.
Căn cứ tài liệu điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận L đã tiến hành khám xét khẩn cấp nhà số E P, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng là nơi ở của Nguyễn Đình Q. Quá trình khám xét đã thu giữ:
- Thu trên mặt bàn nhựa 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone.
- Thu trong sọt nhựa cạnh giường ngủ: 01 hộp kim loại kích thước 08cm x 06cm x 1,5 cm bên trong có 03 túi nilon trắng mép viền xanh kích thước 02cm x 2,5cm đựng chất tinh thể màu trắng (Mẫu KX1); 01 túi nilon trắng mép viền đỏ kích thước 02cm x 1,5cm đựng chất tinh thể màu trắng (Mẫu KX2); 01 túi nilon trắng mép viền đỏ kích thước 02cm x 02cm đựng chất tinh thể màu trắng (Mẫu KX3) và 01 cân điện tử màu ghi.
- Thu trong túi giả da treo trên cây treo quần áo số tiền 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng).
- Thu trên kệ gỗ ở chân tủ quần áo: 01 hộp kim loại màu vàng đỏ kích thước 09cm x 06cm x 2,5cm bên trong có 01 túi nilon trắng mép viền xanh kích thước 02cm x 02cm đựng chất tinh thể màu trắng (Mẫu KX4); 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng bên trong có 01 túi nilon trắng mép viền xanh kích thước 04cm x 04cm, trong túi nilon này có 01 túi nilon trắng mép viền đỏ kích thước 05cm x 08cm đựng chất tinh thể màu trắng (Mẫu KX5); 01 hộp nhựa hình bầu dục màu đỏ bên trong có 01 túi nilon trắng mép viền đỏ kích thước 05cm x 08cm đựng chất tinh thể màu trắng (Mẫu KX6); 01 túi nilon trắng mép viền xanh kích thước 02cm x 02cm đựng chất tinh thể màu trắng (Mẫu KX7); 01 kéo kim loại; 01 ống nhựa dài 10,5cm được cắt vát 2 đầu; 01 vỏ túi nilon trắng mép viền đỏ kích thước 05cm x 08cm; 03 vỏ túi nilon trắng mép viền đỏ kích thước 04cm x 6,5cm; 10 vỏ túi nilon trắng mép viền xanh kích thước 02cm x 2,5cm và 20 vỏ túi nilon trắng mép viền đỏ kích thước 02cm x1,5 cm.
- Thu trong ngăn tủ quần áo 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá.
- Thu trên gác xép: 01 hộp giấy màu cam bên trong có 01 túi nilon màu trắng kích thước 11cm x 08cm có mép viền trắng đựng 01 túi nilon màu trắng mép viền đỏ kích thước 07cm x 04cm chứa 15 viên nén màu đỏ hình tròn (Mẫu KX8); 10 vỏ túi nilon trắng mép viền xanh kích thước 02cm x1,5cm và 10 vỏ túi nilon trắng mép viền đỏ kích thước 02cm x 2,5 cm; 01 túi xách tay màu đen bên trong có 01 túi nilon màu trắng mép viền trắng kích thước 11cm x 08cm đựng 01 túi nilon trắng mép viền xanh kích thước 2,5cm x 2,5cm chứa chất tinh thể trắng (Mẫu KX9); 01 túi nilon màu trắng kích thước 03cm x 02cm được hàn kín một đầu bên trong chứa 01 viên nén màu xám và chất bột màu xám (Mẫu KX10) cùng 01 giấy khai sinh của Nguyễn Thị T.
Tại bản kết luận giám định số 1055/KL-KTHS ngày 26/12/2023 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận:
- Tinh thể màu trắng của mẫu QT gửi giám định là ma túy, có khối lượng 4,94 gam, loại Methamphetamine.
- Tinh thể màu trắng của mẫu KX1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,42 gam, loại Methamphetamine.
- Tinh thể màu trắng của mẫu KX2 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,18 gam, loại Methamphetamine.
- Tinh thể màu trắng của mẫu KX3 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,25 gam, loại Methamphetamine.
- Tinh thể màu trắng của mẫu KX4 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,48 gam, loại Methamphetamine.
- Tinh thể màu trắng của mẫu KX5 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,52 gam, loại Methamphetamine.
- Tinh thể màu trắng của mẫu KX6 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,23 gam, loại Methamphetamine.
- Tinh thể màu trắng của mẫu KX7 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,09 gam, loại Methamphetamine.
- Các viên nén màu đỏ của mẫu KX8 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,37 gam, loại Methamphetamine.
- Tinh thể màu trắng của mẫu KX9 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,61 gam, loại Ketamine.
- Viên nén và chất bột của mẫu KX10 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,44 gam loại MDMA (bút lục: 84-85).
Tại bản Kết luận giám định số 1482/KL-KTHS ngày 22/5/2024 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận:
- - Trong mẫu giám định ký hiệu A: Tìm thấy 284 cuộc gọi, 58 danh bạ, 27 tin nhắn tức thì, 42 cuộc hội thoại Native Messages, 93 tin nhắn Recents, 49 cuộc hội thoại Zalo, 66 tin nhắn Facebook thời gian từ 00h00' ngày 01/12/2023 đến 17h15' ngày 19/12/2023 được lưu trong máy. Nội dung chi tiết các dữ liệu được lưu trong đĩa CD kèm theo.
- - Không tìm thấy dữ liệu thời gian từ từ 00h00' ngày 01/12/2023 đến 17h15' ngày 19/12/2023 được lưu trong SIM.
Tại bản kết luận giám định số 1345/KL-KTHS ngày 10/5/2024 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận: Xe gắn máy, nhãn hiệu ESPERO, biển kiểm soát 15AA-291.65, có số khung: RPE6CBFPENA 964465 và số máy: VDEJQ139QMB2964465 là số máy nguyên thủy, không phát hiện có sự tẩy xóa, sửa chữa các ký tự.
Ngày 20/12/2023, Nguyễn Đình Q đã bị bắt theo Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L, Hải Phòng.
Quá trình điều tra Nguyễn Thị T và Nguyễn Đình Q khai nhận: Khoảng giữa tháng 11/2023, Nguyễn Thị T và Nguyễn Đình Q quen biết nhau, Q và T bàn bạc mua ma túy về bán kiếm lời. Đến khoảng đầu tháng 12/2023, T liên lạc với một nam giới tên T2 là bạn xã hội của T và mua của T2 15 viên ma túy “hồng phiến”; 02 viên ma túy “thuốc lắc”; 02 gam ma túy đá và 01 gam ma túy Ketamine với giá 3.000.000 đồng. Mua được ma túy T chia 02 gam ma túy “đá” ra các túi nhỏ để ở bên trong các hộp kim loại, vỏ bao thuốc lá, hộp nhựa màu đỏ để phân biệt trọng lượng và giá bán. Sau đó, T mang số ma túy vừa mua được đến để ở các vị trí khác nhau trong nhà Nguyễn Đình Q ở số E P, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng với mục đích khi nào có người hỏi mua nếu T không trực tiếp giao dịch được thì T sẽ nói với Q về số lượng, loại ma túy, giá tiền để Q lấy bán cho khách và thu tiền. Từ đầu tháng 12/2023 đến ngày 18/12/2023, T và Q đã bán được 01 túi ma túy “đá” và 01 túi ma túy Ketamine cho một nam giới tên Ba với giá 300.000 đồng. Tối ngày 18/12/2023, T tiếp tục hẹn gặp và mua của T2 08 gam ma túy “đá” với giá 3.000.000 đồng. T mang số ma túy trên về nhà ở thôn C, xã A, huyện A, Hải Phòng chia 03 gam ma túy “đá” vừa mua được vào nhiều túi nilon nhỏ rồi cho các túi nilon nhỏ chứa ma túy “đá” vào 01 hộp sắt, 05 gam ma túy “đá” còn lại T đựng trong 01 túi nilon màu trắng mép viền đỏ và cất ở nhà tại thôn C. Thảo cầm theo hộp sắt đựng 03 gam ma túy “đá” đã chia được xuống để ở nhà Q. Sau khi dọn nhà cho Q xong T đi về nhà ở thôn C và báo cho Q biết đã để 03 gam ma túy “đá” ở nhà của Q khi nào có người hỏi mua thì Q lấy để bán. Đến khoảng 16 giờ ngày 19/12/2023, T đang ở nhà tại thôn C thì có H là bạn xã hội gọi điện thoại cho T hỏi mua 05 gam ma túy “đá”, T báo cho H 05 gam ma túy “đá” giá là 4.000.000 đồng, H đồng ý mua và hẹn T ra khu vực ngõ B T, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng để giao dịch. T lấy túi nilon đựng 05 gam ma túy “đá” cho vào túi đựng khẩu trang và cất vào trong cốp xe mô tô biển kiểm soát 15AA-291.65 rồi điều khiển xe đi đến ngõ B T, phường V, quận L để bán ma túy cho H. Khi T đi đến khu vực trước cửa nhà số H T, phường V, quận L thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý - Công an quận L kiểm tra bắt giữ, thu giữ vật chứng như nội dung trên.
Ngoài ra, T khai nhận tiền mua ma túy là tiền riêng của T, mục đích mua ma túy về chia nhỏ bán lại kiếm lời, Q không góp tiền với T để mua ma túy, không biết T mua ma túy của ai và không biết việc T mang 05 gam ma túy đi bán cho H. Ma túy T tự chia nhỏ mang đến nhà Q đưa cho Q cất giấu hoặc T tự cất ở nhà Q và nói cho Q biết chỗ cất giấu. Khi nào có khách hỏi mua ma túy, T sẽ báo cho Q để Q giao hàng cho khách và thu tiền. Tiền bán ma túy Q đưa lại cho T để T chi tiêu cá nhân cho Q và T. Ma túy, bộ D sử dụng ma túy, cân điện tử và các đồ vật khác thu tại nhà Q là do T mang đến vào ngày 19/12/2023 và các ngày trước đó. Q và T không sử dụng bộ dụng cụ sử dụng ma túy T mang đến.
Nguyễn Đình Q khai nhận: Q không chung tiền mua ma túy với T, không biết nguồn gốc số ma túy T mang đến nhà Q để T và Q bán kiếm lời, Q chỉ bán số ma túy T mang đến và đã bán được 01 túi ma túy “đá”, 01 túi ma túy Ketamine cho một nam giới tên Ba với giá 300.000 đồng, tiền bán ma túy Q thu được đưa lại cho T giữ để chi tiêu cho cả hai. Q không biết việc T cất giấu ma túy ở nhà T ở thôn C, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng và không biết việc T bán ma túy cho H. Q và T không sử dụng bộ dụng cụ sử dụng ma túy T mang đến.
Bản Cáo trạng số 209/CT-VKSLC ngày 27/8/2024, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng truy tố ra trước Tòa án nhân dân dân quận L để xét xử bị can Nguyễn Thị T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, p khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự và bị can Nguyễn Đình Q về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm p, q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Đối với nữ giới mua ma túy của T, quá trình điều tra T khai nữ giới tên H, sử dụng số điện thoại 0346.044.xxx. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận L, thành phố Hải Phòng ra lệnh thu giữ thư tín tại Tập đoàn C, kết quả số điện thoại 0346.044.xxx được đăng ký bởi Lê Thị Thanh T3, sinh ngày: 26/9/1979; địa chỉ: Phường A, quận T, thành phố Hồ Chí Minh. Xác minh tại Công an phường A, quận T, thành phố Hồ Chí Minh không có ai là Lê Thị Thanh T3 lai lịch như trên, vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận L, thành phố Hải Phòng chưa có cơ sở để điều tra làm rõ.
Đối với nam giới bán ma túy cho Nguyễn Thị T, T khai tên là T2 sử dụng số điện thoại 0583.268.xxx. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận L, thành phố Hải Phòng ra lệnh thu giữ thư tín tại Công ty Cổ phần V1, kết quả số điện thoại 0583.268.xxx đã chuyển sang nhà mạng C. Thu giữ thư tín tại Tập đoàn C, kết quả số điện thoại 0583.268.xxx được đăng ký bởi Ngô Trung H1, sinh ngày 27/06/1996; địa chỉ: Xã H, huyện C, thành phố Hải Phòng. Ghi lời khai của Ngô Trung H1, H1 khai không đăng ký, không sử dụng số điện thoại trên. Kết quả nhận dạng qua bản ảnh T xác định H1 không phải là T2, là người đã bán ma túy cho T vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận L, thành phố Hải Phòng chưa có cơ sở để điều tra làm rõ.
Đối với nam giới tên B là người đã mua ma túy của T và Q, quá trình điều tra Nguyễn Thị T và Nguyễn Đình Q khai không biết nhân thân lai lịch, tên tuổi, địa chỉ của Ba, vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận L, thành phố Hải Phòng chưa có cơ sở để điều tra làm rõ.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân có quan điểm: Qua xem xét đánh giá chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra, cùng lời khai nhận của bị cáo, lời khai của người làm chứng giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Nguyễn Thị T và Nguyễn Đình Q theo tội danh cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị T và Nguyễn Đình Q đồng phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T với mức hình phạt từ 10 (Mười) năm đến 11 (Mười một) năm tù; áp dụng điểm p, q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Đình Q với mức hình phạt từ 09 (Chín) năm đến 10 (M) năm tù.
Xét điều kiện, hoàn cảnh gia đình và bản thân các bị cáo đều không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đề nghị tịch thu tiêu hủy lượng ma túy còn lại sau giám định cùng toàn bộ vỏ bao gói đã được niêm phong trong 04 bì giấy; 01 túi giấy; 01 ống nhựa một đầu cắt vát; 01 hộp giấy kích thước 7,5 cm x 13,5cm x 05cm; 01 cân điện tử; 01 tẩu thủy tinh; 05 vỏ túi nilon màu trắng mép viền xanh kích thước 02cm x 02cm; 05 vỏ túi nilon màu trắng mép viền đỏ kích thước 02cm x 02 cm; 01 hộp kim loại kích thước 08cm x 06cm x 1,5cm; 01 cân điện tử; 01 hộp kim loại màu vàng - đỏ kích thước 09cm x 06cm x 2,5cm; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long; 01 hộp nhựa hình bầu dục màu đỏ; 01 kéo kim loại; 01 ống nhựa được cắt vát 2 đầu; 01 vỏ túi nilon trắng mép viền đỏ kích thước 05cm x 08cm; 03 vỏ túi nilon trắng mép viền đỏ kích thước 04cm x 6,5cm; 10 vỏ túi nilon trắng mép viền xanh kích thước 02cm x 2,5cm; 20 vỏ túi nilon trắng mép viền đỏ kích thước 02cm x1,5 cm; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá; 01 hộp giấy màu cam; 10 vỏ túi nilon trắng mép viền xanh kích thước 02cm x1,5 cm; 10 vỏ túi nilon trắng mép viền đỏ kích thước 02cm x 2,5 cm; 01 túi xách tay màu đen.
Đề nghị trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị T 01 bằng trung học cơ sở và 01 giấy khai sinh mang tên Nguyễn Thị T. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị T số tiền 1.400.000 đồng, trả lại cho bị cáo Nguyễn Đình Q số tiền 1.200.000 đồng nhưng đều tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 xe mô tô biển kiểm soát 15AA-291.65; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng thu của Nguyễn Thị T và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus thu của Nguyễn Đình Q
Về vấn đề khác: Bị cáo Nguyễn Thị T phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 300.000 đồng.
Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Thị T và Nguyễn Đình Q phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an quận L, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
- Về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”:
[2] Xét lời khai về hành vi phạm tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai người chứng kiến; phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản khám xét, Bản kết luận giám định số 1055/KL-KTHS ngày 26/12/2023 của Phòng K - Công an thành phố H cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Các bị cáo Nguyễn Thị T và Nguyễn Đình Q đã có hành vi mua bán và cất giữ 4,54 gam ma túy, loại Methamphetamine; 0,61 gam ma túy, loại Ketamine và 0,44 gam ma túy, loại MDMA của nam giới tên T2 (không rõ lai lịch, địa chỉ) nhằm mục đích bán kiếm lời. Ngoài ra, Nguyễn Thị T còn có hành vi mua bán và cất giữ 4,94 gam Methamphetamine để bán kiếm lời bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý - Công an quận L bắt quả tang trước cửa nhà số H T, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng.
Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Tội danh Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đã truy tố để xét xử các bị cáo Nguyễn Thị T và Nguyễn Đình Q đồng phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” vi phạm Điều 251 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
- Về tình tiết định khung hình phạt:
[3] Các bị cáo Nguyễn Thị T và Nguyễn Đình Q đồng phạm thực hiện hành vi mua bán trái phép các chất ma túy với khối lượng 4,54 gam ma túy, loại Methamphetamine; 0,61 gam ma túy, loại Ketamine và 0,44 gam ma túy, loại MDMA; theo hướng dẫn tại Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số Điều của Bộ luật Hình sự: Tỷ lệ phần trăm về khối lượng Methamphetamine so với mức tối thiểu của Methamphetamine được quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự là 15,1%. Tỷ lệ phần trăm về khối lượng các chất ma túy ở thể rắn (Ketamine) so với mức tối thiểu của các chất ma túy ở thể rắn được quy định tại điểm e khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự là 0,61%. Tỷ lệ phần trăm về khối lượng MDMA so với mức tối thiểu của MDMA được quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự là 1,47%. Tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng Methamphetamine, MDMA và Ketamine các bị cáo Nguyễn Thị T và Nguyễn Đình Q2 cất giữ để bán kiếm lời là 17,18%. Ngoài ra, Nguyễn Thị T còn có hành vi cất giữ 4,94 gam Methamphetamine so với mức tối thiểu của Methamphetamine được quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự là 16,5% để bán kiếm lời thì bị bắt quả tang trước cửa nhà số H T, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng. Tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng Methamphetamine, MDMA và Ketamine bị cáo Nguyễn Thị T cất giữ để bán kiếm lời là 33,68%. Như vậy, so với mức tối thiểu của từng chất ma túy quy định tại khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự là dưới 100%, nên các bị cáo Nguyễn Thị T và Nguyễn Đình Q phải chịu tình tiết định khung hình phạt được quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
[4] Bị cáo Nguyễn Thị T ngoài hành vi cùng Nguyễn Đình Q bán trái phép ma túy cho một nam giới tên B (Không xác định được lai lịch, địa chỉ) vào tháng 12/2023 thì còn có hành vi bán ma túy cho một người phụ nữ tên H (Không xác định được lai lịch, địa chỉ) bị bắt quả tang vào hồi 17h15' ngày 19/12/2023, nên bị cáo Nguyễn Thị T phải chịu tình tiết định khung “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
[5] Bị cáo Nguyễn Đình Q đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý, nên bị cáo Nguyễn Đình Q phải chịu tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
- Đánh giá vai trò của các bị cáo:
[6] Đối với các bị cáo Nguyễn Thị T, Nguyễn Đình Q được xác định đều có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đều cùng thực hiện hành vi bán ma túy cho người khác để kiếm lời là đồng phạm cùng với vai trò là người thực hành. Tuy nhiên, bị cáo Nguyễn Thị T là người chủ động mua, phân chia, cất giấu và bán ma túy với số lượng nhiều hơn Nguyễn Đình Q hoặc chỉ đạo Nguyễn Đình Q bán ma túy khi T vắng mặt, nên Hội đồng xét xử đánh giá bị cáo Nguyễn Thị T có vai trò cao hơn bị cáo Nguyễn Đình Q.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
[7] Bị cáo Nguyễn Thị T có 01 tiền án chưa được xóa án tích, nên lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Đình Q không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[8] Tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo đối với hành vi phạm tội của mình là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về hình phạt áp dụng:
[9] Xét tội phạm mà các bị cáo thực hiện là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm, xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy với lỗi cố ý. Mặt khác, căn cứ vào vai trò, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo, cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn trên mức khởi điểm của khung hình phạt theo mức đề nghị của Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân và bị cáo Nguyễn Thị T phải áp dụng hình phạt cao hơn bị cáo Nguyễn Đình Q mới tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo với mục đích răn đe, giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa chung.
[10] Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự thì tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Xét điều kiện, hoàn cảnh gia đình và bản thân các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng và trên quan điểm Viện kiểm sát đề nghị, nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
[11] Đối với 04 bì giấy có dấu niêm phong số 1055MT/PC09, 1055MT-A/PC09, 1055MT-B/PC09 và 1055MT-C/PC09 đựng số ma túy thu giữ của các bị cáo còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[12] Đối với 02 cân điện tử; 01 túi giấy; 01 ống nhựa một đầu cắt vát; 01 hộp giấy kích thước 7,5 cm x 13,5cm x 05cm; 01 tẩu thủy tinh; 05 vỏ túi nilon màu trắng mép viền xanh kích thước 02cm x 02cm; 05 vỏ túi nilon màu trắng mép viền đỏ kích thước 02cm x 02 cm; 01 hộp kim loại kích thước 08cm x 06cm x 1,5cm; 01 cân điện tử; 01 hộp kim loại màu vàng - đỏ kích thước 09cm x 06cm x 2,5cm; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long; 01 hộp nhựa hình bầu dục màu đỏ; 01 kéo kim loại; 01 ống nhựa được cắt vát 2 đầu; 01 vỏ túi nilon trắng mép viền đỏ kích thước 05cm x 08cm; 03 vỏ túi nilon trắng mép viền đỏ kích thước 04cm x 6,5cm; 10 vỏ túi nilon trắng mép viền xanh kích thước 02cm x 2,5cm; 20 vỏ túi nilon trắng mép viền đỏ kích thước 02cm x1,5 cm; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá; 01 hộp giấy màu cam; 10 vỏ túi nilon trắng mép viền xanh kích thước 02cm x1,5 cm; 10 vỏ túi nilon trắng mép viền đỏ kích thước 02cm x 2,5 cm; 01 túi xách tay màu đen được thu giữ tại nhà các bị cáo xác định là công cụ, phương tiện dùng chứa ma túy và không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[13] Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Thị T; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Đình Q là tài sản các bị cáo sử dụng liên lạc, giao dịch trong việc mua bán ma túy, nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[14] Đối với số tiền 1.400.000 đồng thu giữ của Nguyễn Thị T và số tiền 1.200.000 đồng thu giữ của Nguyễn Đình Q được xác định là số tiền của các bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội, nên trả lại cho bị cáo, nhưng được tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
[15] Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu ESPERO, biển kiểm soát 15AA - 291.65 là tài sản của Nguyễn Đình Q giao cho Nguyễn Thị T sử dụng làm phương tiện đi lại và mua, bán ma túy, nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[16] Đối với 01 bằng trung học cơ sở và 01 giấy khai sinh mang tên Nguyễn Thị T không liên quan đến hành vi phạm tội, nên Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo theo điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Về vấn đề khác
[17] Bị cáo Nguyễn Thị T phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 300.000 đồng để sung ngân sách nhà nước theo quy định điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.
- Về án phí:
[18] Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo:
[19] Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b, p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 10 (Mười) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/12/2023.
- Căn cứ điểm p, q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình Q 09 (Chín) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/12/2023.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
+ Tịch thu tiêu hủy 04 bì giấy có dấu niêm phong số 1055MT/PC09, 1055MT-A/PC09, 1055MT-B/PC09 và 1055MT-C/PC09 trong có số ma túy thu giữ của các bị cáo còn lại sau giám định.
+ Tịch thu tiêu hủy 02 cân điện tử; 01 túi giấy; 01 ống nhựa một đầu cắt vát; 01 hộp giấy kích thước 7,5 cm x 13,5cm x 05cm; 01 tẩu thủy tinh; 05 vỏ túi nilon màu trắng mép viền xanh kích thước 02cm x 02cm; 05 vỏ túi nilon màu trắng mép viền đỏ kích thước 02cm x 02 cm; 01 hộp kim loại kích thước 08cm x 06cm x 1,5cm; 01 cân điện tử; 01 hộp kim loại màu vàng - đỏ kích thước 09cm x 06cm x 2,5cm; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long; 01 hộp nhựa hình bầu dục màu đỏ; 01 kéo kim loại; 01 ống nhựa được cắt vát 2 đầu; 01 vỏ túi nilon trắng mép viền đỏ kích thước 05cm x 08cm; 03 vỏ túi nilon trắng mép viền đỏ kích thước 04cm x 6,5cm; 10 vỏ túi nilon trắng mép viền xanh kích thước 02cm x 2,5cm; 20 vỏ túi nilon trắng mép viền đỏ kích thước 02cm x1,5 cm; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá; 01 hộp giấy màu cam; 10 vỏ túi nilon trắng mép viền xanh kích thước 02cm x1,5 cm; 10 vỏ túi nilon trắng mép viền đỏ kích thước 02cm x 2,5 cm; 01 túi xách tay màu đen.
+ Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng đã qua sử dụng, có số IMEI1 357265094328232 và số IMEI2 357265094073622 thu giữ của Nguyễn Thị T; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus đã qua sử dụng, có số IMEI 354391063911346 thu giữ của Nguyễn Đình Q.
+ Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 xe máy nhãn hiệu ESPERO, biển kiểm soát 15AA - 291.65, số khung: RPE6CBFPENA964465 và số máy: VDEJQ139QMB2964465 mang tên Nguyễn Đình Q.
+ Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị T số tiền 1.400.000 đồng (Một triệu bốn trăm nghìn đồng) và bị cáo Nguyễn Đình Q số tiền 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng), nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
+ Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị T 01 Bằng trung học cơ sở và 01 giấy khai sinh mang tên Nguyễn Thị T.
(Theo biên bản giao nhận tài sản, vật chứng ngày 27 tháng 8 năm 2024 và Ủy nhiệm chi ngày 05 tháng 9 năm 2024 tại Kho bạc Nhà nước L2 giữa Công an quận L, thành phố Hải Phòng và Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng).
- Về vấn đề khác: Bị cáo Nguyễn Thị T phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) để sung ngân sách nhà nước.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Thị T, Nguyễn Đình Q mỗi người phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án đựợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi thành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Đức Hoàng |
Bản án số 194/2024/HS-ST ngày 17/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 194/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Thảo và đồng phạm
