| Mẫu số 52-DS | |
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 194/2023/HNGĐ-ST Ngày: 20-12-2023 V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Bé Thu
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Thanh Tân và bà Đặng Thị Mỹ Hường.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Ngọc Dung, là Thư ký Tòa án, của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân thành phố Long Xuyên tham gia phiên toà: Bà Tạ Kim Oanh – Kiểm sát viên của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
Trong ngày 20 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 625/2023/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 551/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 06 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Quách Thị N, sinh năm 1988. Địa chỉ: Tổ B, ấp M, xã M, thành phô L, tỉnh An Giang.
Nơi ở hiện nay: Số D, khóm A, thị trấn A, huyện A, tỉnh An Giang.
Bị đơn: Ông Lê Văn K, sinh năm 1985. Địa chỉ: Tổ B, ấp M, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang.
Tại phiên tòa ngày 20 tháng 12 năm 2023 nguyên đơn bà N có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn ông K vắng mặt không lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Căn cứ đơn khởi kiện nộp cho Tòa án ngày 14/8/2023 nguyên đơn bà Quách Thị N thể hiện nội dung và yêu cầu khởi kiện như sau:
Bà và ông K tự tìm hiểu, sau đó cả hai tổ chức đám cưới và thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã M, thành phố L, tỉnh An Giang vào ngày 13/8/2012.
Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì đến tháng 10/2019 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, không tìm được tiếng nói chung trong gia đình. Sau đó, ông K làm ăn thua lỗ tự động cắt liên lạc với vợ con từ khoảng tháng 2/2020 cho đến nay. Bà không biết ông K làm gì, ở đâu, cũng không liên hệ được, không về thăm vợ con. Hiện tại bà do thời gian ly thân đã lâu, tình cảm không còn nên bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- - Về hôn nhân: Ly hôn với ông Lê Văn K;
- - Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Như Ý, sinh ngày 13/02/2013. Con hiện đang sống chung với bà nên khi ly hôn bà yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con.
- - Về tài sản chung, nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn ông Lê Văn K vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.
Tại phiên tòa ngày 20 tháng 12 năm 2023: Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn vắng mặt không lý do.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- - Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng Dân sự; bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
- - Về việc giải quyết vụ án:
- + Về hôn nhân: Đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà N với ông K.
- + Về con chung: Lê Như Ý, sinh ngày 13/02/2013 giao cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng khi ly hôn. Về cấp dưỡng nuôi con do bà N không yêu cầu nên không xem xét.
- + Về tài sản chung, nợ chung: Không có, nên không xem xét giải quyết.
- + Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà N phải nộp theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà N khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn với ông K. Ông K có nơi cư trú tại thành phố L, tỉnh An Giang. Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý là đúng thẩm quyền.
[2] Về thủ tục tố tụng: Bà N vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; ông K được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự: Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bà N, ông K.
[3] Về nội dung vụ án:
[3.1] Về hôn nhân: Bà N và ông K tiến đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và có thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã M, thành phố L, tỉnh An Giang vào ngày 13/8/2012. Sau khi kết hôn cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên bà N yêu cầu ly hôn với ông K. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, không tìm được tiếng nói chung trong gia đình. Sau đó, ông K làm ăn thua lỗ tự động cắt liên lạc với vợ con từ khoảng tháng 2/2020 cho đến nay. Vợ chồng cũng ly thân từ thời điểm cho đến nay. Hiện tại do tình cảm không còn nên bà N yêu cầu được ly hôn với ông K. Hội đồng xét xử nhận thấy: Vợ chồng phải có nghĩa vụ yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Tuy nhiên, trong cuộc hôn nhân giữa bà N và ông K ông, bà lại không thực hiện các nghĩa vụ này. Quá trình giải quyết vụ án, ông K không có văn bản trình bày ý kiến gửi Tòa án, không tham dự các buổi hòa giải, không tham dự phiên tòa, không đưa ra được giải pháp hàn gắn hôn nhân giữa ông, bà. Do đó, Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét yêu cầu của ông K. Tại phiên tòa hôm nay, cả bà N và ông K đều vắng mặt nên Hội đồng xét xử cũng không thể động viên hàn gắn cuộc hôn nhân của ông, bà. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà N với ông K.
[3.2] Về con chung: bà N và ông K có một con chung tên Lê Như Ý, sinh ngày 13/02/2013. Hiện con chung đang sống chung với bà N. Khi ly hôn, bà N yêu cầu được nuôi con. Căn cứ biên bản ghi ý kiến của cháu Ý ngày 02/11/2023 thể hiện hai cháu có nguyện vọng được sống chung với mẹ. Trong vụ án này, ông K cũng không có yêu cầu được nuôi con, hay thể hiện ý kiến tranh chấp việc nuôi con với bà N. Do đó, căn cứ quyền lợi mọi mặt của con chung Hội đồng xét xử quyết định giao con chung cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng khi bà N và ông K ly hôn.
Bà N phải tạo điều kiện cho ông K trong việc trông nom, chăm sóc và giáo dục con chung. Việc nuôi con chung không cố định.
Đối với việc cấp dưỡng nuôi con: Bà N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3.3] Về tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3.4] Về nợ chung trong thời kỳ hôn nhân: Bà N trình bày không có tuy nhiên sau khi bản án có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh có nợ chung trong thời kỳ hôn nhân thì bà N và ông K phải liên đới trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án khác.
[3.5] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà N phải nộp theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, 186, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, 238, Điều 271, 273, 278 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- - Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- - Điểm a Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Quách Thị N với ông Lê Văn K.
- Về con chung: Lê Như Ý, sinh ngày 13/02/2013 giao cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng khi ly hôn.
Bà N phải tạo điều kiện cho ông K trong việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung. Việc nuôi con chung không cố định.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.
Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về nợ chung trong thời kỳ hôn nhân: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà N phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002390 ngày 06 tháng 10 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Bà N đã nộp đủ.
- Về quyền kháng cáo: Bà Quách Thị N, ông Lê Văn K được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thị Bé Thu |
Bản án số 194/2023/HNGĐ-ST ngày 20/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 194/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/12/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn
