TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 194/2024/HSST Ngày: 13/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN - TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Ngọc Lan
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Đình Thọ.
- Bà Nguyễn Thị Vân
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Trâm là Thư ký Tòa án nhân dân TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn tham gia phiên tòa: Ông Phan Tiến Lực là Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 164/2024/HSST ngày 16 tháng 7 năm 2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 188/2024/HSST/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 154/2024/HSST-QĐ ngày 20/8/2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Văn T; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 18/4/2003, tại: huyện P, tỉnh Bình Định; Nơi ĐKHKTT: Thôn H, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định; Nơi cư trú: Tổ G, khu phố G, phường B, thành phố Q, tỉnh Bình Định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc:Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông: Nguyễn Văn V; sinh năm: 1981 và bà Nguyễn Thị Kim L, sinh năm: 1983. Em ruột: 01 người; Vợ, con: Chưa; Tiền sự, tiền án: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/11/2023 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh B..
2. Họ và tên: Trần Hữu C; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 01/10/2003, tại: huyện P, tỉnh Bình Định; Nơi ĐKHKTT: Thôn H, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định; Nơi cư trú: Tổ G, khu phố G, phường B, thành phố Q, tỉnh Bình Định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông: Trần Văn L1 (đã chết) và bà Trần Thị H, sinh năm: 1963; Anh chị em ruột: Không; Vợ, con: Chưa; Tiền sự, tiền án: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/11/2023 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh B.
3. Họ và tên: Thái Đình N; Giới tính: Nam; sinh ngày: 28/3/2003, tại: huyện P, tỉnh Bình Định; Nơi ĐKHKTT: thôn H, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định; Nơi cư trú: Tổ G, khu phố G, phường B, thành phố Q, tỉnh Bình Định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Con ông: Thái Đình L2, sinh năm: 1973 và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm: 1974; Anh chị em ruột: 01 người; Vợ, con: Chưa; Tiền sự, tiền án: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/11/2023 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh B.
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Chị Nguyễn Thị Khánh L3, sinh năm: 2001; trú tại: T,, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định (vắng mặt).
- - Anh Lê Viết Trọng N1, sinh năm: 1990; trụ tại: Tổ A, khu phố D, phường L, thành phố Q, tỉnh Bình Định. (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 16 giờ 00 phút ngày 23/11/2023, Đồn Biên phòng cửa khẩu cảng Q phối hợp cùng Phòng phòng chống ma túy và tội phạm - Bộ đội Biên phòng tỉnh B tuần tra, khi đi đến đoạn trước quán cà phê Minh T1 đường Đ thuộc tổ C, khu phố A, phường N, TP . phát hiện Nguyễn Văn T có biểu hiện nghi vấn nên kiểm tra. Qua kiểm tra Tính tự nguyện giao nộp 04 viên nén và 01 gói nilon bên trong chứa các hạt tinh thể nghi là ma túy, T khai nhận 04 viên nén là ma túy kẹo và 1 gói nilon là ma túy khay. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Văn T, niêm phong vật chứng, đưa về cơ quan làm việc. Qua đấu tranh mở rộng, T còn khai nhận tham gia bán ma túy cùng với Trần Hữu C và Thái Đình N.
Đồn Biên phòng cửa khẩu cảng Q tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn T, Trần Hữu C tại tổ G, KP G, phường B, TP Q phát hiện thu giữ 69 viên nén nghi là ma túy và đĩa có chứa một ít chất bột, T và C khai nhận 69 viên nén cả hai cất giữ là ma túy kẹo của 01 người tên “Bảo Win” đưa cho T và C để bán, chất bột trên đĩa là ma túy khay của T, C và N đã sử dụng còn lại. Ngoài ra còn tạm giữ: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro, 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS, 01 thẻ card sim Mobifone, 01 cân tiểu ly điện tử.
Quá trình điều tra xác định: Nguyễn Văn T, Trần Hữu C cùng thuê phòng trọ ở chung tại tổ G, KP G, phường B, TP Q. C quen với một người tên “Bảo Win” (chưa xác định được lai lịch) qua ứng dụng mạng xã hội Facebook và T2, “Bảo Win” có đặt vấn đề với C là đi bán ma túy cho “Bảo Win”, mỗi lần bán được hết số ma túy “Bảo Win” đưa thì sẽ trả công cho C 10.000.000 đồng. C rủ T cùng đi bán với C thì T đồng ý. C và T cùng thống nhất mỗi lần bán hết nhận được 10.000.000 đồng thì C được chia 7.000.000 đồng, T được chia 3.000.000 đồng. C và T đã nhận ma túy của “Bảo Win” tổng cộng 03 lần. Cụ thể:
- - Lần 1: Khoảng 19 giờ, không nhớ ngày, vào đầu tháng 11/2023, “Bảo Win” liên hệ và hẹn với C đến đoạn gần Cây xăng B, đường T, P. N, TP . nhận ma túy. C đến gốc cây gần đó nhận 01 hộp giấy bên trong có 100 viên ma túy kẹo và 01 gói ma túy khay rồi đem về phòng trọ cất giấu để bán.
- - Lần 2: Khoảng 19 giờ, không nhớ ngày vào tháng 11/2023, cách đợt thứ nhất khoảng 01 tuần, “Bảo Win” liên hệ và hẹn với C đến đoạn gần Cây xăng B, đường T, P. N, TP . nhận ma túy. C đến gốc cây gần đó nhận 01 hộp giấy bên trong có 150 viên ma túy kẹo và 01 gói ma túy khay rồi đem về phòng trọ cất giấu để bán.
- - Lần 3: Khoảng 17 giờ, không nhớ ngày vào tháng 11/2023, cách ngày bị bắt khoảng 10 ngày, “Bảo Win” liên hệ và hẹn với C đến đoạn đường T, P. N, TP . nhận ma túy. C bảo T đi nhận ma túy. Khi T đến đường T thì có người hướng dẫn Tính đến đoạn gần ngã ba H-V, TP .. Tính đến nơi thì gặp một người nam (không rõ lai lịch) đưa 01 hộp giấy bên trong có 300 viên ma túy kẹo và 02 gói ma túy khay. Tính đem ma túy về đưa cho C cất giấu tại phòng trọ để bán.
Sau mỗi lần nhận ma túy của “Bảo Win”, C và T đã bán nhiều lần ma túy theo hướng dẫn của “Bảo Win” với cách thức: “Bảo Win” sẽ nhắn tin cho C nói địa điểm, cách thức liên lạc với người mua để C đến điểm hẹn giao ma túy cho người mua, tiền bán ma túy sẽ do “Bảo Win” và người mua tự thỏa thuận và thanh toán tiền. Từ đầu tháng 11/2023 đến ngày 20/11/2023, C và T đã bán nhiều lần cho Nguyễn Thị Khánh L3 và bán cho nhiều người không rõ lai khác, cụ thể:
- - Lần 1: Ngày 04/11/2023, Nguyễn Thị Khánh L3 (tên gọi khác là Bảo N2) liên lạc với Bảo W hỏi mua một hộp năm ma túy khay và 05 viên ma túy kẹo với giá 6.000.000 đồng, “Bảo Win” nói lại cho C biết rồi C mang ma túy đi giao cho L3 tại trước quán K2, phường L, TP Q. L3 đem ma túy về sử dụng một mình hết.
- - Lần 2: Ngày 10/11/2023, Nguyễn Thị Khánh L3 liên lạc với “Bảo Win” hỏi mua một hộp năm ma túy khay và 05 viên ma túy kẹo với giá 6.000.000 đồng, “Bảo Win” nói lại cho C biết rồi C mang ma túy đi giao cho L3 tại trước quán K2, phường L, TP Q. L3 đem ma túy về sử dụng một mình hết.
- - Lần 3: Khoảng 20 giờ 30 phút, vào một ngày không rõ, giữa tháng 11/2023, “Bảo Win” liên lạc với C nhờ đi giao 30 viên ma túy thuốc lắc và một hộp năm ma túy khay cho người nam tên V1 (không rõ lai lịch) ở đường X, TP Q. C nói lại để T đem ma túy đi giao, tiền mua ma túy V1 chuyển khoản cho “Bảo Win”.
- - Lần 4: Ngày 16/11/2023, Nguyễn Thị Khánh L3 liên lạc với Bảo W hỏi mua một hộp năm ma túy khay và 05 viên ma túy kẹo với giá 6.000.000₫ (Sáu triệu đồng), “Bảo Win” nói lại cho C biết rồi C mang ma túy đi giao cho L3 tại trước quán K2, phường L, TP Q. L3 đem ma túy về sử dụng một mình hết. Cả ba lần mua ma túy, L3 chuyển tiền vào tài khoản của “Bảo Win”.
- - Lần 5: Khoảng 09 giờ ngày 20/11/2023, T và C đang ở phòng trọ thì “Win” (không rõ lai lịch) nhắn tin với T nói T đi giao ma túy gồm nửa hộp năm ma túy khay cho một người ở phòng 7777 quán karaoke N3, tiền bán ma túy “Win” tự nhận, số ma túy bán lấy của “Bảo Win” thì “Win” tự thỏa thuận với “Bảo Win”. T nói lại cho C biết rồi lấy 01 nửa hộp năm ma túy khay bỏ vào hộp giấy rồi đưa cho N đem đi giao. N đến phòng 7777 quán karaoke N3 đưa cho một người nữ (không rõ lai lịch) rồi đi về.
Ngoài ra, C còn trực tiếp đem ma tuý đi bán cho người tên K và V2 (không rõ lai lịch), số tiền bán được C chuyển lại cho “Bảo Win”. “Bảo Win” đã trả tiền công giao ma tuý cho C 01 lần với số tiền 10.000.000 đồng. Có được tiền, C lấy 7.000.000 đồng và chia cho Tính 3.000.000 đồng. Số tiền có được, C và T đã tiêu xài hết.
Trong quá trình điều tra còn xác định: Thái Đình N là bạn của C và T, N thuê trọ cùng địa chỉ tổ G, KP G, phường B, TP . nhưng ở khác phòng. N biết T và C đang bán ma túy nên xin tham gia bán ma túy cùng nhưng C không đồng ý nên N rủ T tự mua ma túy về bán thì T đồng ý, N và C thống nhất N bỏ tiền ra trước mua ma túy, T liên hệ người bán và người mua để bán ma túy, bán hết ma túy thì tiền gốc trả lại cho N, tiền lời chia đôi. Ngày 17/11/2023, T liên lạc với người nam tên “Win” (chưa rõ lai lịch) để mua ma túy gồm 01 gói ma túy khay giá 9.100.000 đồng và 10 viên ma túy kẹo giá 2.500.000 đồng, tổng số tiền mua ma túy là 11.600.000 đồng. Tính đưa trước cho “Win” số tiền 8.600.000 đồng, nợ “Win” 3.000.000 đồng sẽ trả sau nhưng “Win” không đồng ý. Tính biết C có quen biết “Win” và thường hay nhắn tin với “Win” nên T kể cho C nghe việc T và N mua ma túy khay và kẹo về bán lại và nhờ C liên lạc với “Win” để “Win” đồng ý bán ma túy cho T và cho T nợ 3.000.000 đồng. C đồng ý giúp T và nhắn tin nói chuyện với “Win” thì “Win” đồng ý bán cho T.
Chiều ngày 17/11/2023, T và N đến chung cư T, lên tầng 16, không nhớ rõ số phòng gặp một người phụ nữ (không rõ lai lịch), T nhận 01 hộp mười ma túy khay, còn lại 10 viên ma túy kẹo “Win” liên hệ T bảo T về lấy của C. Sau khi mua được ma túy khay, T và N đi đến một tiệm điện thoại (không nhớ rõ địa chỉ) để nhờ nhân viên chuyển tiền vào một số tài khoản của Ngân hàng V3, tên tài khoản là Ho Quoc T3 do “W” cung cấp để trả tiền mua ma túy cho “Win”. N tự bỏ số tiền 8.600.000 đồng ra trước để chuyển tiền mua ma túy, còn nợ 3.000.000 đồng. Tính về nói với C là lấy 10 viên ma túy kẹo trong số ma túy kẹo của C nhận từ “Bảo Win” rồi đem ma túy khay vừa mua được và 10 viên ma túy kẹo qua phòng N cất giữ. Tối ngày 17/11/2023, T sang phòng trọ của N chơi, N rủ T lấy một ma tuý khay và 01 viên ma tuý kẹo mới mua được ra sử dụng. N nhắn tin rủ C qua phòng N cùng sử dụng ma tuý nhưng C lười không đi. Thấy vậy nên N đưa một ít ma tuý khay và 01 viên ma tuý kẹo cho T đem về phòng của T và C trước lát sau N sẽ qua. T đem ma tuý về phòng của T và C rồi lấy đĩa ra bỏ ma tuý khay vào rồi dùng thẻ sim để cà mịn ma tuý khay. N đi qua phòng của T và C cùng C, T sử dụng số ma tuý khay và 01 viên ma tuý kẹo, vừa sử dụng ma tuý vừa mở nhạc nghe đến 23 giờ 30 phút cùng ngày thì nghỉ. Một số ít ma tuý khay vẫn còn bám dính trên đĩa và bị Đồn biên phòng cửa khẩu cảng Q thu giữ. Qua xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể, Nguyễn Văn T, Trần Hữu C, Thái Đình N đều dương tính với ma túy loại Ketamine, MDMA.
Sau khi T và N mua ma túy của “Win” thì đã bán tổng cộng 03 lần, cụ thể như sau:
- - Lần 1: Tối ngày 19/11/2023, Nguyễn Ngọc T4 mời T, C và N đến dự sinh nhật của T4 ở phòng V, quán K2, phường L, TP Q. Đồng thời, T4 liên hệ với T đặt mua 01 hộp năm ma túy khay giá 5.000.000 đồng và 06 viên ma túy kẹo với giá 1.800.000 đồng, tổng số tiền là 6.800.000 đồng, hẹn trả tiền sau. Tính nói lại việc T4 mua ma tuý cho C, N biết rồi cả ba cùng đi đến phòng Vip 10, quán K2, Tính giao ma túy cho T4. Sau đó, T, C, N vào dự sinh nhật của T4, tại đây cả 03 đều sử dụng ma túy do T4 đưa đến khoảng 23 giờ thì ra về. Tuy nhiên, T4 khai nhận mua ma túy của T nhưng không sử dụng tại phòng Vip 10, quán K2, không rủ T, C, N sử dụng ma túy, T4 mang ma túy về nhà sử dụng nhiều lần hết, T4 khai thấy N, T, C tự mang ma túy đến sử dụng tại phòng Vip 10.
- - Lần 2: Khoảng 15 giờ ngày 22/11/2023, Lê Viết Trọng N1 liên lạc với T hỏi mua 03 viên ma túy kẹo với giá 300.000 đồng/viên và nửa hộp năm ma túy khay giá 1.500.000 đồng, tổng số tiền là 2.400.000 đồng, hẹn giao tại gần quán cà phê Minh T1, đường Đ, TP Q, T bỏ ma túy vào hộp giấy rồi đi đến chỗ hẹn giao cho N1, T nhận tiền 2.400.000₫ Sau khi mua được ma túy, N1 đem về sử dụng một mình hết. Tính thu lời tổng cộng 350.000 đồng, có được tiền T đã tiêu xài hết.
- - Lần 3: Khoảng 15 giờ ngày 23/11/2023, Lê Viết Trọng N1 liên lạc với T hỏi mua ma tuý để bán lại. Để tạo mối quan hệ mua bán ma tuý sau này, T lấy giá rẻ cho N1, T bán 04 viên ma túy kẹo với tổng giá tiền 700.000 đồng và nửa hộp năm ma túy khay giá 1.500.000 đồng, hẹn giao tại gần quán cà phê Minh T1, đường Đ, TP .. Tính lấy 01 gói ma túy khay còn lại của T và N và tự ý lấy của C 04 viên ma túy kẹo để đi bán (vì T đã hết ma tuý kẹo). Khoảng 16 giờ ngày 23/11/2023, T đang đứng trước quán cà phê Minh T1 để chuẩn bị giao ma túy cho N1 thì bị Cơ quan Biên phòng phát hiện bắt giữ như nêu trên.
Ngày 26/11/2023, Phòng K3 - Công an tỉnh B ban hành bản Kết luận giám định số 510/KL-KTHS kết luận:
- - 04 viên nén màu xanh hình con bướm đựng bên trong 01 gói nilon gửi giám định đều là ma túy, có tổng khối lượng 1,5589 gam là loại MDMA;
- - Các hạt tinh thể màu trắng đựng bên trong 01 bì nilon hàn kín gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,3858 gam là loại Ketamine;
- - 69 viên nén màu xanh hình con bướm đựng bên trong 01 gói nilon gửi giám định đều là ma túy, có tổng khối lượng 26,8692 gam là loại MDMA;
- - Chất bột màu trắng ghi thu bên trong đĩa sứ được đựng trong 01 túi nilon hàn kín là ma túy, có khối lượng 0,2664 gam là loại Ketamine.
MDMA nằm trong danh mục chất ma túy và tiền chất có số TT là 11, danh mục I, Ketamine nằm trong danh mục chất ma túy và tiền chất có TT là 40, danh mục III, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Về vật chứng: Cơ quan CSĐT Công an thành phố Q đã thu giữ:
- - 01 Bì thư dán kín niêm phong 03 dấu tròn “Phòng K3 - Công an tỉnh B”, có 01 chữ ký của Thân Trọng T5, Nguyễn Đăng Tấn L4, Lê Quốc K1 (tất cả đều 01 chữ ký), bên ngoài bì thư ghi: “Hoàn lại đối tượng giám định: Vỏ, bao bì đựng mẫu vật; 1,1633 gam mẫu A1; 1,0361 gam mẫu A2; 26,4187 gam mẫu A3; 0,1226 gam mẫu A4 còn lại sau giám định”;
- - 01 điện thoại hiệu Iphone 11 pro màu đen, có số I 353234100103330, không kiểm tra tình trạng bên trong;
- - 01 điện thoại hiệu Iphone 12 pro màu xanh, có số Imei 354009841736302, có gắn 01 sim số 0364781490, không kiểm tra tình trạng bên trong;
- - 01 điện thoại hiệu Iphone Xs màu trắng, có số Imei 357234093514960, có gắn 01 sim số 0702526071, không kiểm tra tình trạng bên trong;
- - 01 địa sứ có kích thước 21 cm;
- - 01 thẻ card sim Mobifone;
- - 01 cân tiểu ly điện tử hiệu Pocket Scale (còn sử dụng).
Tại bản cáo trạng số 171/CT - VKSQN ngày 11 tháng 7 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn truy tố bị cáo Nguyễn Văn T và Trần Hữu C đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên” và “có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm h đến điểm o khoản này” theo các điểm b, p Khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” với tình tiết “đối với 02 người trở lên” quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của Thái Đình N đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” với tình tiết “đối với 02 người trở lên” theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Nguyễn Văn T, Trần Hữu C và Thái Đình N thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Nguyễn Văn T, Trần Hữu C và Thái Đình N theo Cáo trạng và đề nghị:
+ Áp dụng: Điểm b, p khoản 2 Điều 251 về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và điểm b khoản 2 Điều 255 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” đối với các bị cáo Nguyễn Văn T và Trần Hữu C. Điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 8 năm đến 9 năm về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; từ 7 năm đến 7 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo Trần Hữu C từ 9 năm đến 10 năm về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; từ 7 năm đến 7 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý".
+ Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 251 về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” đối với bị cáo Thái Đình N. Xử phạt bị cáo Thái Đình Nhân t 7 năm đến 8 năm về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; từ 7 năm đến 7 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
- Xử lý vật chứng:
+ Tịch thu tiêu hủy:
- - 01 điện thoại hiệu Iphone 11 pro màu đen, có số I 353234100103330, không kiểm tra tình trạng bên trong;
- - 01 điện thoại hiệu Iphone 12 pro màu xanh, có số Imei 354009841736302, có gắn 01 sim số 0364781490, không kiểm tra tình trạng bên trong;
- - 01 điện thoại hiệu Iphone Xs màu trắng, có số Imei 357234093514960, có gắn 01 sim số 0702526071, không kiểm tra tình trạng bên trong;
- - 01 địa sứ có kích thước 21 cm;
- - 01 thẻ card sim Mobifone;
- - 01 cân tiểu ly điện tử hiệu Pocket Scale (còn sử dụng).
- 01 Bì thư dán kín niêm phong 03 dấu tròn “Phòng K3 - Công an tỉnh B, có 01 chữ ký của Thân Trọng T5, Nguyễn Đăng Tấn L4, Lê Quốc K1 (tất cả đều 01 chữ ký), bên ngoài bì thư ghi: “Hoàn lại đối tượng giám định: Vỏ, bao bì đựng mẫu vật; 1,1633 gam mẫu A1; 1,0361 gam mẫu A2; 26,4187 gam mẫu A3; 0,1226 gam mẫu A4 còn lại sau giám định”.
+ Tịch thu sung công quỹ Nhà nước của bị cáo Trần Hữu C 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng) và Truy thu của bị cáo Nguyễn Văn T 5.400.000 đồng sung vào công quỹ nhà nước.
- Các bị cáo tự bào chữa: Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không bào chữa.
- Bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo rất hối hận, xin Tòa xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà hôm nay là phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:
Các bị cáo Nguyễn Văn T, Trần Hữu C và Thái Đình N là những người có đầy đủ sức khoẻ, năng lực để nhận thức và điều khiển hành vi của mình nên phải biết rõ ma túy là chất gây nghiện, có tác hại rất lớn đối với xã hội, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người nên Nhà nước độc quyền quản lý, mọi việc cất giữ, mua bán, sử dụng chất này phải tuân theo quy định đặc biệt của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Nhưng với ý thức xem thường pháp luật, Nguyễn Văn T và Trần Hữu C có hành vi tàng trữ trái phép 28,4281 gam ma túy loại MDMA nhằm mục đích để bán theo hướng dẫn của người tên “Bảo Win” (chưa rõ lai lịch). Đồng thời, trong tháng 11/2023, T và C đã nhiều lần nhận ma tuý của “Bảo Win” và đã bán nhiều lần cho các đối tượng (không rõ lai lịch), 03 lần bán ma túy MDMA và ma túy Ketamine cho Nguyễn Thị Khánh L3.
Ngày 17/11/2023, Nguyễn Văn T và Thái Đình N thống nhất mua ma tuý loại MDMA và ma tuý loại Ketamine của người tên “Win” (chưa rõ lai lịch) để bán lại kiếm lời. Do “Win” không đồng ý bán nợ nên T nhờ Trần Hữu C liên hệ với “Win” mua giúp cho T. C đồng ý và đã giúp T mua 01 hộp mười ma tuý loại Ketamine và 10 viên ma tuý loại MDMA với tổng cộng số tiền 11.600.000 đồng. Tính và N đã bán ma túy do C giúp mua được cho Nguyễn Ngọc T4 01 lần vào ngày 19/11/2023; bán ma túy cho Lê Viết Trọng N1 02 lần vào ngày 22/11/2023 và ngày 23/11/2023. Vào ngày 23/11/2023, T chưa kịp bán cho N1 thì bị phát hiện và tạm giữ 1,3858 gam là loại Ketamine.
Sau khi bán ma tuý, Trần Hữu C đã thu lợi bất chính số tiền 7.000.000 đồng, Nguyễn Văn T đã thu lợi bất chính tổng cộng số tiền 5.400.000 đồng.
Ngoài ra, vào tối ngày 17/11/2023, Nguyễn Văn T và Thái Đình N cùng thống nhất lấy một ít ma tuý khay và 01 viên ma tuý kẹo đã mua của “Win” trước đó đem qua phòng trọ của T và Trần Hữu C ở tổ G, KP G, phường B, TP Q để T, N và C cùng sử dụng. Tại phòng trọ của T và C, cả 03 đã sử dụng hết 01 viên ma tuý kẹo và khay, còn để lại 0,2664 gam ma tuý khay bám dính trên đĩa.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm đến an toàn, trật tự xã hội, sức khỏe và sự phát triển lành mạnh của con người, do đó phải bị xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự nhằm ren đe, cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội.
Xét vai trò từng bị cáo đối với tội “Mua bán trái phép chất ma túy” thì thấy:
- - Bị cáo Trần Hữu C là người trực tiếp liên lạc, giao dịch với “Bảo Win” để nhận ma túy từ “Bảo Win”, bán lại theo sự hướng dẫn của “Bảo Win” và nhận tiền công khi bán kết số lượng ma túy mà “Bảo Win” giao. Theo đó C là người trực tiếp nhận ma túy từ “Bảo Win” hai lần với tổng số ma túy kẹo là 250 viên. C là người trực tiếp nhiều lần đi giao ma túy, cụ thể: Ngày 04/11/2023 C giao một hộp năm ma túy khay và 05 viên ma túy kẹo cho Nguyễn Thị Khánh L3; Ngày 10/11/2023 C tiếp tục giao cho Nguyễn Thị Khánh L3 một hộp năm ma túy khay và 05 viên ma túy kẹo; Ngày 16/11/2023 C giao một hộp năm ma túy khay và 05 viên ma túy kẹo cho Nguyễn Thị Khánh L3. Tất cả những giao dịch này đều do Nguyễn Thị Khánh L3 liên lạc với “Bảo Win” và “Bảo Win” yêu cầu C thực hiện việc giao ma túy cho L3. Ngoài ra, C còn trực tiếp đem ma tuý đi bán cho người tên K và V2 (không rõ lai lịch), số tiền bán được C chuyển lại cho “Bảo Win”. “Bảo Win” đã trả tiền công giao ma tuý cho C 01 lần với số tiền 10.000.000 đồng. Có được tiền, C lấy 7.000.000 đồng và chia cho Tính 3.000.000 đồng. Số tiền có được, C và T đã tiêu xài hết.
- Mặc khác cũng thông qua “Bảo Win” C yêu cầu T đi giao ma túy cho V1 (không rõ lai lịch) 30 viên ma túy thuốc lắc và một hộp năm ma túy khay.
- Do đó, hành vi của bị cáo cần xử lý nghiêm khắc hơn, mức hình phạt phải cao hơn so với bị cáo T và bị cáo N.
- - Bị cáo Nguyễn Văn T tuy là người được C rủ đi bán ma túy chung nhưng xét về tính chất, mức độ vi phạm cũng ngang bằng như bị cáo C. Do đó, hành vi của bị cáo cũng cần xử lý nghiêm khắc, mức hình phạt cũng phải tương xứng với hành vi của bị cáo mới có tính chất răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung cho xã hội.
- - Đối với bị cáo Thái Đình N: Mặc dù biết bị cáo T và bị cáo C bán ma túy nhưng bị cáo cũng đề nghị được tham gia cùng nhưng chưa được sự đồng ý của bị cáo C thì giữa bị cáo và bị cáo T tự mua ma túy để bán. Do đó, hành vi của bị cáo cũng cần xử lý nghiêm khắc mới có tính chất răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung cho xã hội.
Như vậy Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn truy tố bị cáo Nguyễn Văn T và Trần Hữu C đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên” và “có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm h đến điểm o khoản này” theo các điểm b, p Khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.
Hành vi của Thái Đình N đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.
Về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”: Vào tối ngày 17/11/2023, Nguyễn Văn T và Thái Đình N cùng thống nhất lấy một ít ma tuý khay và 01 viên ma tuý kẹo đã mua của “Win” trước đó đem qua phòng trọ của T và Trần Hữu C ở tổ G, KP G, phường B, TP Q để T, N và C cùng sử dụng. Tại phòng trọ của T và C, cả 03 đã sử dụng hết 01 viên ma tuý kẹo và khay, còn để lại 0,2664 gam ma tuý khay bám dính trên đĩa. Như vậy các bị cáo đều có hành vi tổ chức, sử dụng trái phép chất ma túy cho hai người trở lên.
Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn truy tố các bị cáo Nguyễn Văn T, Trần Hữu C và Thái Đình N về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” với tình tiết “đối với 02 người trở lên” theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.
Hành vi do các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng đến sức khỏe và sự phát triển của con người, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương. Tuy nhiên HĐXX cũng xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt để các bị cáo an tâm cải tạo, để sớm tái hóa nhập cộng đồng.
[4] Xét về nhân thân; tình tiết tặng nặng; giảm nhẹ của các bị cáo thì thấy:
4.1 Về nhân thân: Các bị cáo Nguyễn Văn T, Trần Hữu C và Thái Đình N đều có nhân thân tốt.
4.2 Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
4.3 Về tình tiết giảm nhẹ:
- Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Xử lý vật chứng và truy thu:
+ Tịch thu tiêu hủy:
- - 01 điện thoại hiệu Iphone 11 pro màu đen, có số I 353234100103330, không kiểm tra tình trạng bên trong;
- - 01 điện thoại hiệu Iphone 12 pro màu xanh, có số Imei 354009841736302, có gắn 01 sim số 0364781490, không kiểm tra tình trạng bên trong;
- - 01 điện thoại hiệu Iphone Xs màu trắng, có số Imei 357234093514960, có gắn 01 sim số 0702526071, không kiểm tra tình trạng bên trong;
- - 01 địa sứ có kích thước 21 cm;
- - 01 thẻ card sim Mobifone;
- - 01 cân tiểu ly điện tử hiệu Pocket Scale (còn sử dụng).
- 01 Bì thư dán kín niêm phong 03 dấu tròn “Phòng K3 - Công an tỉnh B”, có 01 chữ ký của Thân Trọng T5, Nguyễn Đăng Tấn L4, Lê Quốc K1 (tất cả đều 01 chữ ký), bên ngoài bì thư ghi: “Hoàn lại đối tượng giám định: Vỏ, bao bì đựng mẫu vật; 1,1633 gam mẫu A1; 1,0361 gam mẫu A2; 26,4187 gam mẫu A3; 0,1226 gam mẫu A4 còn lại sau giám định”.
(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 06/8/2024)
+ Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: Của bị cáo Trần Hữu C 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng) và Truy thu của bị cáo Nguyễn Văn T 5.400.000 đồng sung vào công quỹ nhà nước.
[7] Về vấn đề khác:
- - Về nguồn gốc ma túy, Nguyễn Văn T và Trần Hữu C khai nhận của người nam tên “Bảo Win” và “Win”, hiện Cơ quan CSĐT Công an T không xác định được lai lịch của hai người này do đó chưa có căn cứ để xử lý.
- - Đối với người nữ bán ma túy cho Nguyễn Văn T, Thái Đình N và những người mua ma túy của “Bảo Win” và “Win” không rõ lai lịch, không có cách nào để liên lạc, vì vậy Cơ quan CSĐT Công an T không có căn cứ xác minh lai lịch những người này để xử lý.
- - Đối với hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy xảy ra ngày 19/11/2023 tại karaoke NewLife, đường N, TP Q, qua điều tra Nguyễn Ngọc T4 không thừa nhận hành vi phạm tội, sau đó bỏ trốn. Cơ quan điều tra sẽ tách vụ án hình sự, tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ, xử lý sau.
- - Đối với Lê Viết Trọng N1 có hành vi mua ma tuý của Nguyễn Văn T, Thái Đình N; Nguyễn Thị Khánh L3 có hành vi mua ma túy của “Bảo Win” do Trần Văn C1 giao rồi đem về sử dụng. Cơ quan CSĐT Công an T đã chuyển hồ sơ cho Công an T để xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với N1 và L3 là có căn cứ.
- - Đối với Lê Minh T6 là chủ nhà trọ địa chỉ tổ G, KP G, phường B, TP Q không biết Nguyễn Văn T, Trần Hữu C, Thái Đình N cất giấu ma tuý để bán trái phép, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà trọ nên không phạm tội.
[8] Về án phí:
Các bị cáo bị kết án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại các Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a, c khoản 1 Điều 23, Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
[9] Các đề nghị của đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân thành phố Quy Nhơn là phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b, p khoản 2 Điều 251; điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự (Áp dụng cho bị cáo Nguyễn Văn T và Trần Hữu C);
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự (Áp dụng cho bị cáo Thái Đình N);
Căn cứ Điều 47, 48, 58 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106; Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 -12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T; Trần Hữu C và Thái Đình N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức, sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt:
- Xử phạt bị cáo Trần Hữu C 09 (chín) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 07 (bảy) năm từ về tội “Tổ chức, sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo C phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 16 (mười sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 23/11/2023.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 07 (bảy) năm từ về tội “Tổ chức, sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 15 (mười lăm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 23/11/2023.
- Xử phạt bị cáo Thái Đình N 07 (bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 07 (bảy) năm từ về tội “Tổ chức, sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 14 (mười bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 23/11/2023.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS
+ Tịch thu tiêu hủy:
- - 01 điện thoại hiệu Iphone 11 pro màu đen, có số I 353234100103330, không kiểm tra tình trạng bên trong;
- - 01 điện thoại hiệu Iphone 12 pro màu xanh, có số Imei 354009841736302, có gắn 01 sim số 0364781490, không kiểm tra tình trạng bên trong;
- - 01 điện thoại hiệu Iphone Xs màu trắng, có số Imei 357234093514960, có gắn 01 sim số 0702526071, không kiểm tra tình trạng bên trong;
- - 01 địa sứ có kích thước 21 cm;
- - 01 thẻ card sim Mobifone;
- - 01 cân tiểu ly điện tử hiệu Pocket Scale (còn sử dụng).
- 01 Bì thư dán kín niêm phong 03 dấu tròn “Phòng K3 - Công an tỉnh B”, có 01 chữ ký của Thân Trọng T5, Nguyễn Đăng Tấn L4, Lê Quốc K1 (tất cả đều 01 chữ ký), bên ngoài bì thư ghi: “Hoàn lại đối tượng giám định: Vỏ, bao bì đựng mẫu vật; 1,1633 gam mẫu A1; 1,0361 gam mẫu A2; 26,4187 gam mẫu A3; 0,1226 gam mẫu A4 còn lại sau giám định”.
(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 06 tháng 8 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự TP. Quy Nhơn).
- Về truy thu sung công quỹ nhà nước: Truy thu của bị cáo Trần Hữu C 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng) sung vào công quỹ nhà nước. Truy thu của bị cáo Nguyễn Văn T 5.400.000 đồng sung vào công quỹ nhà nước.
- Về án phí HSST:
- Buộc các bị cáo Nguyễn Văn T, Trần Hữu C và Thái Đình N mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo và những người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Về quyền, nghĩa vụ thi hành án:
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Huỳnh Thị Ngọc Lan |
THÀNH VIÊN HĐ XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | ||
| Huỳnh Thị Ngọc Lan |
Bản án số 194/2024/HSST ngày 13/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 194/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TỘI MUA, BÁN TỔ CHỨC SỬ DỤNG CHẤT MA TÚY
