Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PLEIKU

TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 194/2023/HSST

Ngày: 06/12/2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thanh Hà.
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    • 1. Ông Ngô Xuân Dệt.
    • 2. Bà Doãn Thị Lệ.

Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Lệ Quyên - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Nguyễn Thanh An - Kiểm sát viên.

Trong ngày 06 tháng 12 năm 2023 tại Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 183/2023/TLST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2023, đối với bị cáo:

Thái H1; giới tính: nam; sinh ngày: 04/01/1995 tại Gia Lai. Nơi cư trú: Tổ G, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: lao động tự do; Số CCCD: [...]; Nơi cấp: Cục C1 về trật tự xã hội; Cha: Thái H, sinh năm 1964; Mẹ: Trần Thị C, sinh năm 1964; cha mẹ bị cáo hiện trú tại: Tổ G, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Bị cáo có 05 anh em ruột (lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất sinh năm 1999), bị cáo là con thứ 4 trong gia đình. Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 25/7/2023 đến ngày 03/8/2023, sau đó bị áp dụng biện pháp tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P. Có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Ông Nguyễn Hồng K, sinh năm: 1981
  • Địa chỉ: Hẻm D đường P, tổ G, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

*Người chứng kiến: Ông Đỗ Hữu L; sinh năm 1963.

Địa chỉ: Tổ F, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thái H1 sử dụng chất ma túy từ khoảng tháng 5/2023, qua các mối quan hệ ngoài xã hội, Hổ có số điện thoại của đối tượng H2 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) là người bán ma túy. Khoảng 21 giờ ngày 24/7/2023, H1 gọi điện thoại cho H2 hỏi mua 900.000 đồng ma túy đá để sử dụng thì H2 đồng ý. H1 và H2 thỏa thuận: Hổ để 900.000 đồng vào gói thuốc lá hiệu Eagle đặt ở đầu hẻm D đường P, Tổ G, phường H, thành phố P để H2 đến lấy, rồi H2 giấu ma túy vào gói thuốc hiệu Eagle rồi để lại tại vị trí đó. Sau khi đã trao đổi, thỏa thuận với nhau xong, H1 đi bộ mang gói thuốc lá hiệu Eagle bên trong có 900.000 đồng đến để tại đầu hẻm D đường P rồi đi về. Một lúc sau, H1 quay lại lấy vỏ bao thuốc lá kiểm tra thấy bên trong có 03 gói ma túy đá, nên giấu vào túi quần rồi đi về nhà của ông Nguyễn Hồng K (là người quen của H1) ở hẻm D đường P, Tổ G, phường H, thành phố P, để ngủ. Đến 00 giờ 30 phút ngày 25/7/2023, lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy - Công an thành phố P tiến hành kiểm tra tại nhà của ông K thì phát hiện, bắt quả tang H1 đang tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trong túi quần bên phải Hổ đang mặc 03 gói nilon bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng (được niêm phong theo quy định); ngoài ra, Cơ quan điều tra còn thu giữ của Hổ 01 chiếc điện thoại di động hiệu Sam Sung kèm sim số (mặt sim có dãy số 89840 48000 33265 9836).

Tại bản Kết luận giám định số 683/KL-KTHS ngày 02/8/2023 của phòng K1 - Công an tỉnh G, kết luận: “Toàn bộ chất màu trắng, dạng tinh thể trong 03 gói nilon trong bì công văn niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,36 gam".

Đối với chiếc điện thoại di động hiệu Sam Sung kèm sim số là của bị cáo H1 và bị cáo đã sử dụng chiếc điện thoại này để liên lạc với đối tượng H2 mua ma túy.

Vật chứng của vụ án, gồm:

  • + Chất ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định trong bì công văn ghi số 683/PC09 ngày 02/8/2023, có dấu niêm phong của phòng K1 - Công an tỉnh G;
  • + 01 chiếc điện thoại hiệu Sam Sung kèm sim số.

Đối với đối tượng tên H2 mà bị cáo Thái H1 khai là người đã bán ma túy cho H1 vào ngày 24/7/2023: Do bị cáo không biết nhân thân, lai lịch của H2; Cơ quan điều tra đã tiến hành mở danh bạ, nhật ký cuộc gọi, tin nhắn trong chiếc điện thoại đã thu giữ của Thái H1 nhưng do sau khi liên lạc với H2 mua ma túy xong, Thái H1 đã xóa nên không xác định được số điện thoại của H2 và thông tin liên quan đến việc mua bán ma túy. Do đó, chưa có căn cứ điều tra, xử lý. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào xác định được sẽ xem xét và xử lý sau.

Đối với ông Nguyễn Hồng K là chủ căn nhà tại hẻm D đường P, tổ G, phường H, thành phố P: do Ông K đi làm ăn xa nên cho H1 ở để trông nhà giùm. Việc bị cáo H1 cất giấu ma túy tại nhà thì ông K không biết, nên không có căn cứ để xử lý.

Tại Bản cáo trạng số: 202/CT-VKS ngày 06/11/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Thái H1 về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Thái H1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù.

Về vật chứng của vụ án:

  • - Đối với 01 điện thoại di động hiệu Sam Sung kèm sim số (mặt sim có dãy số 89840 48000 33265 9836) của bị cáo Thái H1. Đây là phương tiện phạm tội nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
  • - Đối với 01 bì công văn ghi số 683/PC09 ngày 02/8/2023, có dấu niêm phong của Phòng K1 - Công an tỉnh G, là ma tuý nên tịch thu tiêu huỷ.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có tài sản gì nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về án phí: bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận có hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” như cáo trạng đã nêu, nhận thấy hành vi đó của mình là sai trái, vi phạm pháp luật; bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt đối với mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố P, tỉnh Gia Lai; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo và người chứng kiến trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo phạm tội như sau: vào khoảng 21 giờ ngày 24/7/2023, bị cáo H1 gọi điện thoại cho đối tượng tên H2 ( không rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua 900.000 đồng ma túy đá để sử dụng thì H2 đồng ý. H1 và H2 thỏa thuận: Hổ để 900.000 đồng vào gói thuốc lá hiệu Eagle đặt ở đầu hẻm D đường P, Tổ G, phường H, thành phố P để H2 đến lấy, rồi H2 giấu ma túy vào gói thuốc hiệu Eagle rồi để lại tại vị trí đó. Sau khi đã trao đổi, thỏa thuận với nhau xong, H1 đi bộ mang gói thuốc lá hiệu Eagle bên trong có 900.000 đồng đến để tại đầu hẻm D đường P rồi đi về. Một lúc sau, H1 quay lại lấy vỏ bao thuốc lá kiểm tra thấy bên trong có 03 gói ma túy đá, nên giấu vào túi quần rồi đi về nhà của ông Nguyễn Hồng K (là người quen của H1) ở hẻm D đường P, Tổ G, phường H, thành phố P, để ngủ. Đến 00 giờ 30 phút ngày 25/7/2023, lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy - Công an thành phố P tiến hành kiểm tra tại nhà của ông K thì phát hiện, bắt quả tang, thu giữ trong túi quần bên phải của bị cáo H1 đang mặc 03 gói nilon bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng. Qua kết luận: “Toàn bộ chất màu trắng, dạng tinh thể trong 03 gói nilon trong bì công văn niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,36 gam".

[3] Hành vi tàng trữ 0,36 gam ma túy loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng, do bị cáo Thái H1 thực hiện như trên là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự trị an xã hội, đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017, đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku đã truy tố.

Bị cáo là người có đủ năng lực để nhận thức được tác hại của ma túy đối với sức khoẻ con người và sự phát triển lành mạnh của nòi giống, việc sử dụng ma tuý là nguyên nhân gián tiếp làm phát sinh các loại tội phạm và các tệ nạn xã hội khác nhưng vì có lối sống không lành mạnh, không chịu tu dưỡng, rèn luyen bản thân mà bị cáo đã phạm tội. Do vậy, cần thiết phải xử phạt bị cáo một mức án thật nghiêm khắc, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ: bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi tội của mình nên Hội đồng xét xử sẽ áp dụng khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[5] Về tình tiết tăng nặng: không có.

[6] Về vật chứng vụ án:

  • Đối với 01 điện thoại di động hiệu Sam Sung kèm sim số, mặt sau có dãy số 89840 48000 33265 9836 (điện thoại cũ, đã qua sử dụng) của bị cáo Thái H1. Đây là phương tiện phạm tội nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
  • Đối với 01 bì công văn dán kín ghi số 683/PC09 ngày 02/8/2023, có dấu niêm phong của Phòng K1 - Công an tỉnh G (có chữ ký họ và tên của Phạm Thế D, Hoàng Ngọc B, Nguyễn Minh T) là ma tuý nên tịch thu tiêu huỷ.

[7] Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung do bị cáo không có tài sản gì.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Về tội danh và hình phạt

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; tuyên bố bị cáo Thái H1 phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”;

Xử phạt bị cáo Thái H1 01 năm 06 tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/7/2023.

Về xử lý vật chứng vụ án:

Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

  • - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Sam Sung kèm sim số, mặt sau có dãy số 89840 48000 33265 9836 (điện thoại cũ, đã qua sử dụng) của bị cáo Thái H1.
  • - Tịch thu tiêu huỷ 01 bì công văn ghi số 683/PC09 ngày 02/8/2023, có dấu niêm phong của Phòng K1 - Công an tỉnh G (có chữ ký họ và tên của Phạm Thế D, Hoàng Ngọc B, Nguyễn Minh T).

( Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/11/2023 giữa Công an thành phố P và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Pleiku).

Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo Thái H1 phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo:

Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ hoặc bản án được niêm yết công khai.

Về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án:

Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Gia Lai;
  • - VKSND TP. Pleiku;
  • - Công an TP. Pleiku;
  • - Chi cục THADS TP. Pleiku;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Đoàn Thị Thanh Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 194/2023/HSST ngày 06/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 194/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Thái Hổ phạm tội; " Tàng trữ trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger