|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 194/2025/HS-ST Ngày 25 - 6 - 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Linh Thu Hồng
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Điệp
Ông Hoài Đức Huệ
- Thư ký phiên tòa: Ông Hồng Quốc Văn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 183/2025/TLST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 181/2025/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 6 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 11/2025/HSST-QĐ ngày 13 tháng 6 năm 2025, đối với các bị cáo:
Trần Văn Đ, sinh ngày 11 tháng 10 năm 1988 tại Kiên Giang; Căn cước công dân số: [...]; Nơi đăng ký thường trú: Ấp H, xã V, huyện U, tỉnh Kiên Giang. Nơi sinh sống: Ấp Bà T, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 02/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn N và bà Lương Thị L. Bị cáo có vợ tên Phạm Thị Thùy T1 và có 01 con sinh năm 2019.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/12/2024 đến ngày 24/12/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã P, huyện N - Có mặt.
Trần Minh N1, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1982 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Căn cước công dân số: [...]; Nơi đăng ký thường trú: Ấp V, xã V, huyện C, tỉnh Kiên Giang. Nơi sinh sống: Ấp Bà T, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 04/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Vĩnh S (đã chết) và bà Trần Thị Mỹ D. Bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Cúc H, sinh năm 1980 (đã ly hôn năm 2017) và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2004, con nhỏ nhất sinh năm 2010.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/12/2024 đến ngày 24/12/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã P, huyện N - Có mặt.
Nguyễn Thanh V, sinh ngày 27 tháng 4 năm 1994 tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Căn cước công dân số: [...]; Nơi đăng ký thường trú: Ấp E, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai. Nơi sinh sống: Ấp E, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn K và bà Đỗ Thị T2. Bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án: Ngày 01/8/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai xử phạt 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng) về tội “Đánh bạc” tại Bản án số 116/2023/HSST. Bị cáo đã nộp 25.000.000 đồng và đóng án phí 200.000 đồng vào ngày 25/12/2024.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/12/2024 đến 25/12/2024 chuyển tạm giam. Đến ngày 07/02/2025, được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã L, huyện N - Có mặt.
Nguyễn Văn Chí T3, sinh ngày 10 tháng 8 năm 2000 tại thành phố Cần Thơ; Căn cước công dân số: [...]; Nơi đăng ký thường trú: Khu vực L, phường T, Quận T, thành phố Cần Thơ. Nơi sinh sống: Ấp B, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T4 và bà Nguyễn Thị Út N2. Bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/12/2024 đến ngày 24/12/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã L, huyện N - Có mặt.
Dương Hải A, sinh ngày 22 tháng 02 năm 1992 tại Bình Thuận; Căn cước công dân số: [...]; Nơi đăng ký thường trú: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị. Nơi sinh sống: Ấp C, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Dương Đ1 (đã chết tháng 3/2025) và bà Lê Thị T5. Bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/12/2024 đến ngày 24/12/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã L, huyện N - Có mặt.
Huỳnh Văn T6, sinh ngày 22 tháng 6 năm 1991 tại Đồng Nai; Căn cước công dân số: [...]; Nơi đăng ký thường trú: Ấp E, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai. Nơi sinh sống: Ấp E, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Huỳnh Văn T7 và bà Trần Thị H1. Bị cáo có vợ tên Dương Thị Kim V1 và 02 người con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2018.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/12/2024 đến ngày 24/12/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã L, huyện N - Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 15/12/2024, tại khu vườn tràm thuộc ấp B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai, Trần Văn Đ, Trần Minh N1, Trần Hữu V2 đã tổ chức 03 trận đá gà cho người khác đánh bạc thắng thua bằng tiền. Cách thức đánh bạc: Người chơi chọn cánh gà rồi hùn tiền đặt cược theo chủ gà gọi là đá xổ, khi 02 con gà đá với nhau, con gà nào bỏ chạy hay nằm tại chỗ hoặc chết thì những người đặt cược con gà đó sẽ thua, người đặt cược con gà còn lại sẽ thắng. V2 làm trọng tài bắt cặp các cặp gà cho 02 bên cánh gà cá cược với nhau, thu tiền cá cược của các con bạc, bên thua trả tiền cho bên thắng và thu tiền xâu. Đen cung cấp băng keo, N1 cung cấp cựa gà. Hành vi cụ thể như sau:
Trận thứ nhất: Diễn ra lúc 09 giờ 30 phút ngày 15/12/2024, V2 bắt cặp và làm trọng tài trận đá gà giữa gà lai trọng lượng 1,5kg của Nguyễn Thanh V với gà chuối, trọng lượng 1,5kg của Cù L1 (không rõ lai lịch), số tiền cá cược đá xổ mỗi bên là 5.000.000 đồng. Trong đó: Những người hùn tiền đặt cược đá xổ theo gà của V gồm: Vũ góp 1.000.000 đồng, Nguyễn Văn Chí T3 góp 1.000.000 đồng và 03 người (chưa rõ lai lịch) góp 3.000.000 đồng, Huỳnh Văn T6 giúp Vũ băng cựa và thả gà.
Cánh gà của Cù L1 do Cù L1 đứng ra gom tiền đặt cược và trực tiếp thả gà. Kết quả gà của Cù L1 thắng, V2 thu 5.000.000 đồng của nhóm V giao cho nhóm Cù L1 4.700.000 đồng, còn lại thu xâu 300.000 đồng. V2 trả cho Đ tiền mua băng keo 50.000 đồng và chia cho Đ, N1 mỗi người 50.000 đồng, công Việt 150.000 đồng.
Như vậy, tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc của Đ, N1, V2, V, T6, T3 trong trận gà nêu trên là 10.000.000 đồng.
Trận thứ hai: Diễn ra lúc 10 giờ cùng ngày, V2 bắt cặp và làm trọng tài trận đá gà giữa gà đá trọng lượng 1,3kg của Dương Hải A với gà chuối, trọng lượng 1,3kg của Cù L1, số tiền cá cược đá xổ mỗi bên là 3.000.000 đồng. Trong đó, những người hùn tiền đặt cược đá xổ theo gà của Hải A gồm: Hải Anh góp 2.000.000 đồng, trực tiếp băng cựa, thả gà và một người (chưa rõ lai lịch) góp 1.000.000 đồng.
Cánh gà của Cù Lũ do Cù L1 đứng ra gom tiền và trực tiếp thả gà. Kết quả gà của Cù L1 thắng, V2 thu 2.700.000 đồng của nhóm H2 giao cho nhóm Cù L1 2.500.000 đồng và thu xâu 200.000 đồng. V2 chia cho Đ, N1 mỗi người 50.000 đồng, còn V2 100.000 đồng.
Như vậy, tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc của V2, Đ, N, Hải A trong trận gà nêu trên là 6.000.000 đồng.
Khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, Đ điện thoại cho Trần Minh T8 mang gà đến. Sau đó, V2 làm trọng tài trận đá gà giữa gà điểu trọng lượng 2,2kg của Đen với gà bướm, trọng lượng 2,2kg của T8, hai bên thỏa thuận cá cược đá xổ mỗi bên là 4.000.000 đồng. Trong đó, những người hùn tiền đặt cược đá xổ theo gà của Đ gồm: Đen góp 1.000.000 đồng, trực tiếp băng cựa, thả gà và một số người (chưa rõ lai lịch) góp 3.000.000 đồng.
Những người hùn tiền đặt cược đá xổ theo gà của T8 gồm: Tân góp 500.000 đồng, trực tiếp băng cựa, Lê Hữu Q góp 500.000 đồng, Lý Quốc T9 góp 500.000 đồng. T8 hỏi những người có mặt có ai tham gia không thì không có ai vào. Do chưa đủ tiền đặt cược nên trận gà chưa diễn ra.
Đến 10 giờ 40 phút cùng ngày, khi trận đá gà chưa diễn ra thì Cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang. Riêng Trần Hữu V2 chạy thoát.
Vật chứng thu giữ gồm:
- 02 (hai) con gà đá sau đó đã chết và đã tiêu hủy;
- 01 (một) cân kim loại màu xanh lá loại 0.5kg;
- 02 (hai) cuộn băng keo dùng để băng cựa vào chân gà và 03 (ba) cặp cựa gà;
- 100.000đ (một trăm ngàn đồng) thu giữ của bị cáo N1 (do N1 thu tiền xâu mà có);
- 150.000đ (một trăm năm mươi ngàn đồng) thu giữ của bị cáo Đ (do Đ thu tiền xâu mà có);
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno 6Z màu đen của bị cáo Dương Hải A.
Tại Cáo trạng số 186/CT-VKSNT ngày 22 tháng 5 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch đã truy tố các bị cáo Trần Văn Đ, Trần Minh N1, Nguyễn Thanh V, Nguyễn Văn Chí T3, Dương Hải A và Huỳnh Văn T6 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 35, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Trần Văn Đ và Trần Minh N1.
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Thanh V.
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với các bị cáo Nguyễn Văn Chí T3, Dương Hải A và Huỳnh Văn T6.
Tuyên bố các bị cáo Trần Văn Đ, Nguyễn Minh N3, Nguyễn Thanh V, Nguyễn Văn Chí T3, Dương Hải A và Huỳnh Văn T6 phạm tội “Đánh bạc”.
Về hình phạt:
Đề nghị xử phạt các bị cáo Trần Văn Đ từ 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) đến 60.000.000đ (sáu mươi triệu đồng); Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh N3 từ 45.000.000đ (bốn mươi lăm triệu đồng) đến 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng); Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh V từ 08 (tám) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù giam; Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Chí T3 và bị cáo Dương Hải A từ 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng) đến 35.000.000đ (ba mươi lăm triệu đồng); Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn T6 từ 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) đến 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng).
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
- Đề nghị tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 (một) cân kim loại màu xanh lá loại 0.5kg; Số tiền 100.000đ (một trăm ngàn đồng) thu giữ của N3 (do N3 thu tiền xâu mà có) và 150.000đ (một trăm năm mươi ngàn đồng) thu giữ của Đ (do Đ thu tiền xâu mà có); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno 6Z màu đen;
- Đề nghị tịch thu tiêu hủy 02 (hai) cuộn băng keo dùng để băng cựa vào chân gà và 03 (ba) cặp cựa gà.
- 02 (hai) con gà đá sau đó đã chết và tiêu hủy nên không xem xét.
Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội. Các bị cáo thống nhất về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với các bị cáo. Các bị cáo không có ý kiến hay tranh luận gì khác.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo rất ăn năn hối lỗi về hành vi phạm tội, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, các tài liệu, chứng cứ được thu thập đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi cũng như quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật.
[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không có sự mâu thuẫn; phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án nên đã đủ cơ sở xác định: Vào ngày 15/12/2024, tại khu vườn tràm thuộc ấp B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai, Trần Văn Đ, Trần Minh N1, Trần Hữu V2 đã có hành vi tổ chức đánh bạc bằng hình thức đá gà thắng thua bằng tiền với 03 trận, cụ thể như sau:
Trận thứ nhất: Nguyễn Thanh V, Nguyễn Văn Chí T3, Huỳnh Văn T6 đánh bạc và một số người chưa rõ lai lịch, đánh bạc với nhau với số tiền dùng vào việc đánh bạc 10.000.000 đồng, trong đó: Đ, N1 và V2 thu lợi 300.000 đồng.
Trận thứ hai: Dương Hải A và một số người chưa rõ lai lịch đánh bạc với nhau, với số tiền dùng vào việc đánh bạc 6.000.000 đồng, trong đó: Đ, N1 và V2 thu lợi 200.000 đồng.
Trận thứ ba: Trần Văn Đ, Trần Minh T8, Lê Hữu Q, Lý Quốc T9 rủ nhau đá gà nhưng chưa thống nhất được số tiền đặt cược thì bị phát hiện bắt quả tang. Riêng Trần Hữu V2 chạy thoát.
Vì vậy, có đủ chứng cứ xác định hành vi của các bị cáo Trần Văn Đ, Trần Minh N1, Nguyễn Thanh V, Nguyễn Văn Chí T3, Dương Hải A và Huỳnh Văn T6 đã cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch truy tố các bị cáo theo tội danh và khoản, Điều nêu trên là có căn cứ đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Các bị cáo là người đã trưởng thành đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền là vi phạm pháp luật nhưng ham lợi và xem thường pháp luật nên các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm trật tự công cộng, góp phần làm gia tăng tệ nạn xã hội, ảnh hưởng xấu đến nếp sống văn hóa của nhân dân. Đây là vụ án có đồng phạm nhưng là đồng phạm giản đơn, vai trò của từng bị cáo như sau: Bị cáo Trần Văn Đ và bị cáo Trần Minh N1 có hành vi tổ chức đá gà, là người rủ rê các bị cáo khác tham gia, bị cáo Đ cung cấp băng keo, bị cáo N1 cung cấp cựa gà, vì vậy hai bị cáo có vai trò chính. Ngoài ra, trong vụ án này bị cáo Trần Văn Đ đã tổ chức 03 trận đá gà, tuy nhiên do trận thứ ba chưa thống nhất được số tiền đặt cược nên chưa diễn ra thì bị bắt quả tang. Bị cáo Nguyễn Thanh V đã từng bị Tòa án xét xử về tội đánh bạc, chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội và trực tiếp đặt cược số tiền 1.000.000 đồng. Bị cáo Huỳnh Văn T6 tuy không trực tiếp đặt cược bằng tiền nhưng có hành vi giúp Nguyễn Thanh V băng cựa và thả gà. Bị cáo Nguyễn Văn Chí T3 sử dụng số tiền 1.000.000 đồng để tham gia đặt cược. Bị cáo Dương Hải A là chủ gà của trận cá cược thứ hai, trực tiếp băng cựa, thả gà và sử dụng số tiền 2.000.000 đồng tham gia đặt cược. Vì vậy, cần căn cứ vào vai trò và số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc để cân nhắc mức hình phạt cho tương xứng với tính chất mức độ từng bị cáo.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[4.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Văn Đ và bị cáo Trần Minh N1 phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo Nguyễn Thanh V thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Nguyễn Văn Chí T3, Huỳnh Văn T6 và Dương Hải A phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của các bị cáo, các bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, số tiền sử dụng vào việc đánh bạc và thu lợi bất chính không lớn, nên cần căn cứ Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt tiền đối với các bị cáo Trần Văn Đ, Trần Minh N1, Nguyễn Văn Chí T3, Dương Hải A và Huỳnh Văn T6. Áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo Nguyễn Thanh V, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục răn đe và phòng ngừa chung.
[6] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 (một) cân kim loại màu xanh lá loại 0,5kg; Số tiền 100.000đ (một trăm ngàn đồng) thu giữ của bị cáo N1 (do N1 thu tiền xâu mà có) và 150.000đ (một trăm năm mươi ngàn đồng) thu giữ của bị cáo Đ (do Đ thu tiền xâu mà có); 01 (một) điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu Oppo Reno 6Z 5G, kiểu máy CPH2237 của Dương Hải A sử dụng vào việc phạm tội. Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) cuộn băng keo dùng để băng cựa vào chân gà và 03 (ba) cặp cựa gà; 02 (hai) con gà đá đã chết và tiêu hủy nên không xem xét.
[7] Về các vấn đề khác:
[7.1] Đối với Trần Hữu V2 sau khi phạm tội đã bỏ trốn đến nay chưa xác định được ở đâu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án đối với V2 và ra quyết định truy nã.
[7.2] Đối với người đàn ông có tên Cù L1 và một số đối tượng chưa rõ lai lịch đã tham gia đánh bạc, Cơ quan Cảnh sát điều tra sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.
[7.3] Đối với Phan Đình T10, Dương Hải A khai T10 có hùn 1.000.000 đồng đặt cược cùng với A, quá trình làm việc T10 không thừa nhận và hiện không có mặt tại địa phương, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra tách ra tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.
[7.4] Đối với Trần Minh T8, Lê Hữu Q, Phạm Hoài T11, Lý Quốc T9 rủ nhau góp tiền tham gia đánh bạc trận đá gà thứ ba. Tuy nhiên, do các bên chưa thống nhất được số tiền đặt cược trận đá gà chưa diễn ra nên không có căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự, Công an huyện N đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định.
[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[9] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về các vấn đề trong vụ án là phù hợp nên ghi nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố các bị cáo Trần Văn Đ, Trần Minh N1, Nguyễn Thanh V, Nguyễn Văn Chí T3, Dương Hải A và Huỳnh Văn T6 phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 35, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Trần Văn Đ 60.000.000đ (sáu mươi triệu đồng) nộp vào ngân sách Nhà nước.
Xử phạt bị cáo Trần Minh N1 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) nộp vào ngân sách Nhà nước.
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh V 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày vào cơ sở giam giữ chấp hành án, được trừ vào thời gian tạm giữ từ ngày 16/12/2024 đến ngày 07/02/2025.
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Dương Hải A 35.000.000đ (ba mươi lăm triệu đồng) nộp vào ngân sách Nhà nước).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Chí T3 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng) nộp vào Ngân sách Nhà nước.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn T6 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) nộp vào ngân sách Nhà nước.
2. Về xử lý vật chứng:
- Tuyên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 (một) cân kim loại màu xanh lá loại 0,5kg; Số tiền 250.000đ (hai trăm năm mươi ngàn đồng) và 01 (một) điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu Oppo Reno 6Z 5G, kiểu máy CPH2237.
- Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) cuộn băng keo và 03 (ba) cặp cựa gà.
Vật chứng nêu trên hiện đang tạm giữ tại Chi Cục thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch theo Quyết định chuyển vật chứng số 137/VKS-NT ngày 02/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch và Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 12/6/2025 tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch và Biên lai thu tiền số 0004579 ngày 12 tháng 6 năm 2025 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch.
3. Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Trần Văn Đ, Trần Minh N1, Nguyễn Thanh V, Nguyễn Văn Chí T3, Dương Hải A và Huỳnh Văn T6, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ Luật tố tụng hình sự;
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Linh Thu Hồng |
9
Bản án số 194/2025/HS-ST ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI về đánh bạc
- Số bản án: 194/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn Đen + ĐP
