Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 194/2025/HS-ST

Ngày: 18/11/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 -THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngân.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trần Ngọc Phương;
  2. Bà Lê Thị Nguyệt.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nghĩa - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 16 -Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 16 -Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hùng, Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 11 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 16 -Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 179/2025/HS-ST ngày 03 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 228/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Công Đ, sinh năm 1994 tại tỉnh Thanh Hoá; thường trú: Thôn P, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa (nay là xã M, tỉnh Thanh Hóa); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Công N (đã chết) và bà Hoàng Thị C, sinh năm 1968; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/4/2025. Có mặt.

- Bị hại: Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1969; địa chỉ: 4, khu phố H, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Ông Đinh Văn T - Luật sư của Công ty L, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1992; địa chỉ: D, KDC Việt - S, phường A, Thành phố Hồ Chí Minh. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyễn Công Đ quen biết ông Nguyễn Văn V từ năm 2016. Khoảng đầu tháng 4/2024, Đ biết ông V có ý định mua đất nên Đ nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của ông V. Đ lên mạng xã hội tìm mẫu giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chỉnh sửa hình ảnh và in ra Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (bản đen trắng) số CT562088, số vào sổ cấp GCN: CS07306 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho Nguyễn Công Đ ngày 11/9/2023 đối với quyền sử dụng đất thuộc thửa số 421, tờ bản đồ số 7, tọa lạc tại xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương (nay là xã M, Thành phố Hồ Chí Minh). Mặc dù Đ không phải chủ sử dụng đất nhưng Đ nói với ông V đây là đất của Đ và chào bán thửa đất này với giá 250.000.000 đồng. Mặt khác để ông V tin tưởng, Đ dẫn ông V đến vị trí thửa đất đồng thời đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CT562088 bản đen trắng do Đ chỉnh sửa và in ra cho ông V xem, ông V tin tưởng và đồng ý mua. Ngày 10/4/2024, tại địa chỉ: 3, tổ F, khu phố H, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh), Đ và ông V lập Hợp đồng đặt cọc. Theo nội dung hợp đồng, Được cam kết tài sản là quyền sử dụng đất trên thuộc quyền sở hữu của mình, ông V đặt cọc cho Đ số tiền 110.000.000 đồng để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất này. Hai bên ký tên, lăn tay, hẹn thời hạn ra công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là ngày 20/5/2024. Ông V đã giao cho Đ số tiền 110.00.000 đồng.

Cùng thời điểm này, ông Nguyễn Văn T1 nhờ Đ chào bán thửa đất số 192, tờ bản đồ số 28, tại xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương (nay là xã D, Thành phố Hồ Chí Minh) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DG801455 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho ông T1 ngày 05/8/2022, giá bán ông T1 đưa ra là 1.300.000.000 đồng. Do Đ báo có khách nên ông T1 ký Hợp đồng ủy quyền cho Đ đại diện ông T1 thực hiện các thủ tục đo đạc, trích lục, kiểm tra hiện trạng, xác định ranh giới, đăng ký biến động, xác nhận tình trạng bất động sản...đối với thửa đất trên theo Hợp đồng ủy quyền được công chứng số 0164, quyển số 03/2024 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 04/03/2024 tại Văn phòng C1, thời gian ủy quyền là 03 tháng. Đồng thời ông T1 giao bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DG801455 cho Đ giữ. Đ nói với ông V rằng Đ góp tiền mua chung và có quyền sử dụng chung với ông T1 thửa đất số 192, tờ bản đồ số 28 và báo giá chuyển nhượng thửa đất là 350.000.000 đồng, mục đích báo giá thấp hơn giá bán ông T1 đưa ra, đồng thời dẫn ông V tới xem thửa đất và đưa bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DG801455 mang tên ông Nguyễn Văn T1 cho ông V xem. Ông V tin tưởng nên đồng ý nhận chuyển nhượng thửa đất 192, tờ bản đồ số 28 với giá 350.000.000 đồng. Ngày 11/5/2024, tại địa chỉ: 3, tổ F, khu phố H, phường T, thành phố T, Đ và ông V lập Hợp đồng đặt cọc thửa đất, ông V giao cho Đ tiền cọc 100.000.000 đồng, hai bên ký tên và lăn tay trên Hợp đồng đặt cọc, thời hạn ký hợp đồng công chứng là ngày 11/6/2024. Ngày 25/5/2024 Đ tiếp tục nhận tiền cọc lần 2 với số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) của ông V. Như vậy, Đ đã nhận của ông V tổng cộng 150.000.000 đồng để chuyển nhượng thửa đất số 192, tờ bản đồ số 28. Sau đó Đ nói với ông T1 về việc khách không đồng ý mua, ông T1 yêu cầu Đ trả lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng Được không trả.

Đến thời điểm công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo thoả thuận thì Được không thực hiện được việc công chứng sang tên đất. Do sợ hành vi phạm tội bị phát hiện nên vào ngày 10/7/2024 và ngày 12/7/2024, sau khi bị ông V đòi lại tiền cọc thì Đ viết giấy bồi thường tiền cọc cho ông V với tổng số tiền 570.000.000 đồng, hạn chót thực hiện vào ngày 25/7/2024 nhưng Đ vẫn không thực hiện. Ông V trình báo vụ việc tại cơ quan Công an. Sau đó Đ trả cho ông V số tiền 50.000.000 đồng.

Vật chứng thu giữ: 01 hợp đồng đặt cọc ngày 10/4/2024 (liên 2); 01 hợp đồng đặt cọc ngày 11/5/2024 (liên 2); 01 giấy xác nhận đền cọc ngày 10/7/2024 (bản chính); 01 giấy xác nhận đền cọc ngày 12/7/2024 (bản chính); 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CT562088 mang tên Nguyễn Công Đ (bản đen trắng).

Qua xác minh tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện D, tỉnh Bình Dương (nay là Chi nhánh Văn phòng Đ1, Thành phố Hồ Chí Minh) xác định thửa đất số 421, tờ bản đồ số 7 tại xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương do bà Phạm Ngọc N1, sinh năm 1987, nơi thường trú: khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) là chủ sử dụng và bà N1 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DC 277886, cấp ngày 18/11/2021.

Căn cứ Kết luận giám định số 906/KL-KTHS(TL-ĐV) ngày 28 tháng 02 năm 2025 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Chữ ký, chữ viết họ tên và 01 dấu vân tay mang tên "Nguyễn Công Đ" trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu từ Al đến A4) so với chữ ký, chữ viết họ tên và dấu vân tay ngón trỏ phải của Nguyễn Công Đ trên các tài liệu mẫu (ký hiệu từ M1 đến M5) do cùng một người ký, viết và in ra.

Tại Cáo trạng số 146/CT-VKS-KV16 ngày 01 tháng 10 năm 2025, Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 16 -Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Nguyễn Công Đ về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 16 -Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Công Đ từ 08 năm đến 09 năm tù.

Xử lý vật chứng:

Đối với 01 hợp đồng đặt cọc ngày 10/4/2024; 01 hợp đồng đặt cọc ngày 11/5/2024; 01 giấy xác nhận đền cọc ngày 10/7/2024; 01 giấy xác nhận đền cọc ngày 12/7/2024 và 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CT562088 mang tên Nguyễn Công Đ là chứng cứ của vụ án nên cần tiếp tục lưu trữ tại hồ sơ.

Về trách nhiệm dân sự: Tổng số tiền cọc bị cáo nhận của bị hại là 260.000.000 đồng, đã trả 50.000.000 đồng. Tại phiên toà bị hại yêu cầu bị cáo trả số tiền 300.000.000 đồng, gồm 210.000.000 đồng tiền cọc, 90.000.000 đồng bồi thường thiệt hại. Bị cáo thống nhất bồi thường cho bị hại số tiền 300.000.000 đồng nên ghi nhận.

Đối với hành vi tự chỉnh sửa hình ảnh và in Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CT562088 cấp ngày 11/9/2023 tên Nguyễn Công Đ (bản trắng đen), quá trình điều tra xác định đây là thủ đoạn bị cáo Đ dùng để thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, chưa có căn cứ để xử lý bị cáo Đ về tội Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức hoặc tội Sử dụng con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức theo quy định tại Điều 341 Bộ luật Hình sự.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại trình bày: Thống nhất luận tội của Kiểm sát viên về tội danh, hình phạt, xử lý vật chứng. Bị cáo dùng nhiều thủ đoạn để lừa đảo bị hại, đồng thời quá trình sau khi bị khởi tố, tạm giam bị cáo không tiếp tục tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc.

Trước khi Hội đồng xét xử nghị án bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện Kiểm sát về điều luật áp dụng, khung hình phạt và trách nhiệm dân sự. Bị cáo nói lời sau cùng xin lỗi bị hại, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về tố tụng:
    1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh B (nay là Thành phố Hồ Chí Minh), Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 16- Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
    2. Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là ông Nguyễn Văn T1, tuy nhiên ông T1 đã có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Tòa án xét xử vắng mặt ông T1 theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  2. Căn cứ vào lời khai của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, Kết luận giám định số 906/KL-KTHS(TL-ĐV) ngày 28 tháng 02 năm 2025 của Phòng K Công an tỉnh B và những chứng cứ, tài liệu được thu thập trong hồ sơ vụ án, xác định:

    Nguyễn Công Đ đã hai lần dùng thủ đoạn gian dối: Cung cấp thông tin gian dối rằng Đ là chủ sử dụng của thửa đất số 421, tờ bản đồ số 7, tọa lạc tại xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương (nay là xã M, Thành phố Hồ Chí Minh) trong khi thửa đất này do bà Nguyễn Ngọc N2 là chủ sử dụng và tự chỉnh sửa hình ảnh, in Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CT562088, số vào sổ cấp GCN: CS 07306 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp ngày 11/9/2023 cho Nguyễn Công Đ (bản trắng đen); Cung cấp thông tin gian dối về việc Đ góp tiền mua chung và được sử dụng chung với ông Nguyễn Văn T1 thửa đất số 192, tờ bản đồ số 28, tại xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương (nay là xã D, Thành phố Hồ Chí Minh), đưa ra mức giá chuyển nhượng đất thấp hơn giá ông T1 đưa ra để ông V tin tưởng đồng ý nhận chuyển nhượng đất, ký kết hợp đồng đặt cọc 02 thửa đất này với Được, sau đó nhận tiền cọc của ông V vào các ngày 10/4/2024, 11/5/2024, 25/5/2024, chiếm đoạt tổng số tiền là 260.000.000 đồng. Hành vi của Nguyễn Công Đ đã cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Do đó, Cáo trạng số 146/CT-VKS-KV16 ngày 01 tháng 10 năm 2025 của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 16 Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo cũng như bản luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

  3. Tội phạm do bị cáo thực hiện thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo không tiếp tục vi phạm nữa, cũng như răn đe phòng ngừa tội phạm chung.
  4. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
  5. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
  6. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 hợp đồng đặt cọc ngày 10/4/2024 (liên 2), 01 hợp đồng đặt cọc ngày 11/5/2024 (liên 2), 01 giấy xác nhận đền cọc ngày 10/7/2024 (bản chính), 01 giấy xác nhận đền cọc ngày 12/7/2024 (bản chính), 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CT562088 mang tên Nguyễn Công Đ (bản đen trắng) là chứng cứ nên tiếp tục lưu tại hồ sơ vụ án.
  7. Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên toà bị hại yêu cầu bị cáo trả số tiền 300.000.000 đồng, gồm 210.000.000 đồng tiền cọc, 90.000.000 đồng tiền bồi thường thiệt hại. Bị cáo thống nhất trả cho bị hại số tiền 300.000.000 đồng nên ghi nhận.

    Ngoài ra sau khi ký hợp đồng đặt cọc ông Nguyễn Văn V có bỏ ra số tiền 25.000.000 đồng để đổ đá làm đường, xây móng xung quanh thửa đất số 192, tờ bản đồ số 28. Ông Nguyễn Văn T1 đã trả cho ông V 20.000.000 đồng và nhận lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông T1 không có yêu cầu gì đối với số tiền chi phí này nên không xem xét.

  8. Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 16 -Thành phố Hồ Chí Minh đưa ra tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tội danh, mức hình phạt đối với bị cáo cũng như việc xử lý vật chứng là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử do vậy được chấp nhận.
  9. Quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại là có căn cứ xem xét.
  10. Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a,c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Công Đ phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

    Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 174, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Công Đ 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 16/4/2025.

  2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và các Điều 584, 589 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

    Buộc bị cáo Nguyễn Công Đ trả cho bị hại Nguyễn Văn V số tiền 300.000.000 (ba trăm triệu) đồng.

    Kể từ ngày người được yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành án thì phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

  3. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23, khoản 4 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

    Bị cáo Nguyễn Công Đ phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - VKSND khu vực 16 – TP.HCM (01);
  • - Phân trại tạm giam Lái Thiêu (03);
  • - Phòng THADS khu vực 16 (01);
  • - TAND Thành phố Hồ Chí Minh (01);
  • - VKSND Thành phố Hồ Chí Minh (01);
  • - Người tham gia tố tụng (03);
  • - Sở tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh (01);
  • - UBND bị cáo thường trú (01);
  • - Bị cáo (01);
  • - Công an Thành phố Hồ Chí Minh (01);
  • - Lưu: VT, HSVA (02).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Ngân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 194/2025/HS-ST ngày 18/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự - lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 194/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Công Đ phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger