|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 194/2025/HS-ST Ngày: 08/4/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Nguyễn Thị Chi.
- Ông Cao Quốc Hưng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Nhật – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh L - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 94/2025/HSST ngày 19 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 126/2025/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 2370/2025/QĐST-HS ngày 25 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Minh L1, sinh ngày 23/3/1992 tại tỉnh Tây Ninh; Nơi thường trú: Khu phố G, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Công nhân; Cha: Nguyễn Minh K (chết); Mẹ: Trịnh Thị X (chết); Bị cáo là con thứ hai trong gia đình có 04 anh em; Vợ: Nguyễn Thị Ngọc O, sinh năm 1997; Con: Có 01 con sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 27/7/2024 (có mặt).
- Bị hại: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1987;
Địa chỉ: A Đường số A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Phạm Bính K1, sinh năm 1976 – Luật sư thuộc Văn phòng L2, Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 04/11/2022, chị Nguyễn Thị N đến phòng trọ số 01 địa chỉ số F Đường E, Khu phố B, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh gặp Nguyễn Minh L1 (sinh năm 1992) giải quyết chuyện tình cảm. Trong lúc nói chuyện, N và L1 có xảy ra xô xát, giằng co qua lại, chị N dùng miệng cắn vào cổ tay của L1. Do bực tức và bị đau nên L1 dùng tay phải đánh 01 (một) cái trúng vào mắt phải của chị N, chị N vẫn tiếp tục giữ tay Lưu K2 buông ra nên L1 dùng hai tay đẩy chị N ra làm chị N ngã vào cánh cửa sắt phòng trọ. L1 gọi điện thoại báo cho Công an phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh đến giải quyết vụ việc. Sau đó, Lưu cùng Công an Phường đưa chị N đi khám tại Bệnh viện H, thành phố T. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, Lưu về lại phòng trọ nghỉ ngơi. Một lúc sau, chị N quay lại phòng trọ của L1 và cả hai tiếp tục xảy ra mâu thuẫn nên L1 lấy ba lô bỏ đi ra khỏi phòng trọ. Lúc này, chị N đuổi theo kéo ba lô của Lưu lại và cả hai tiếp tục xảy ra xô xát, giằng co. L1 dùng tay đẩy chị N ra làm chị N va vào cột điện trước cổng của dãy phòng trọ. Lúc này, có một người thanh niên (không rõ lai lịch) đến can ngăn sự việc.
Ngày 15/12/2022, chị N đến công an phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh trình báo sự việc và có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với hành vi của L1.
Quá trình điều tra, Nguyễn Minh L1 chỉ thừa nhận hành vi dùng tay tát vào mặt chị N chứ không phải đấm vào mắt phải của chị N.
Kết luận giám định pháp y về thương tích số 134/TgT.23 ngày 13/3/2023 của Trung tâm pháp y Sở y tế Thành phố H đối với Nguyễn Thị N:
“1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- Chấn thương vùng mắt phải gây sưng bầm mô mềm quanh mắt, giảm thị lực mắt phải dần theo thời gian do tổn thương thần kinh thị và tổn thương võng mạc đã được điều trị, hiện:
+ Không dấu vết thương tích vùng mắt phải.
+ Tổn thương thần kinh thị sau chấn thương. Thị lực mắt phải sáng tối âm tính. Có tỉ lệ 41% (Bốn mươi mốt phần trăm).
Chấn thương do vật tày tác động gây ra.
Đa chấn thương phần mềm đã được điều trị, hiện không còn sưng vùng vai trái, cổ tay phải, tình trạng ổn định. Thông tư 22/2019/TT-BYT không qui định về sung mô mềm. Nghĩ nhiều do vật tày tác động gây ra.
2. Theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỉ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định tâm thần:
- Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 41%
3. Kết luận khác: Không”
Kết luận giám định pháp y về thương tích (giám định bổ sung) số 134/TgT.23 ngày 29/5/2023 của Trung tâm pháp y Sở y tế Thành phố H về cơ chế hình thành vết thương trên mắt của Nguyễn Thị N, kết luận: Hành vi dùng tay phải tát từ hướng phải qua trái vào mặt N như ảnh 7 trong Bản thực nghiệm điều tra do cơ quan cung cấp không phù hợp để gây ra thương tích vùng mắt phải của đương sự N trong Bản kết luận số 134/TgT.23. Hành vi dùng tay phải đấm vào mắt phải như Cơ quan mô tả phù hợp để gây ra thương tích vùng mắt phải của N.
Ngày 09/8/2023, Trung tâm pháp y Sở y tế Thành phố H có Công văn số 13-GT/TgT.23 về việc giải thích pháp y đương sự Nguyễn Thị N: Theo Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 134/TgT.23, Trung tâm Pháp y Thành phố H giám định dựa trên các tài liệu Cơ quan điều tra cung cấp, không có cơ sở trả lời thời gian xảy ra thương tích.
Ngày 30/10/2023, Trung tâm pháp y Sở y tế Thành phố H có Công văn số 134-GT2/TgT.23 về việc giải thích kết quả pháp y của Nguyễn Thị N: Với những chấn thương như Hồ sơ tài liệu Cơ quan điều tra cung cấp thì phù hợp gây ra những thương tích đã nêu trong Bản kết luận.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thị N đã được gia đình bị cáo Nguyễn Minh L1 bồi thường số tiền 100.000.000 (một trăm triệu) đồng, không có yêu cầu gì khác và đã làm đơn bãi nại, không yêu cầu xử lý hình sự đối với Nguyễn Minh L1.
Tại Cáo trạng số 114/CT-VKSTPTĐ ngày 17/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh L1 về tội: “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu ý kiến giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Minh L1 về tội “Cố ý gây thương tích” và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Minh L1 từ 02 (hai) năm 6 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” nhưng cho hưởng án treo.
Bị cáo Nguyễn Minh L1 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, đồng ý với lời luận tội của Kiểm sát viên và mong hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình phạt.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Minh L1 – Luật sư Phạm Bính K1 trình bày: Thống nhất với quan điểm của Viện kiểm sát truy tố về tội danh, tình tiết định khung hình phạt và tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo L1. Ngoài ra, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ bị cáo L1 phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra và bị cáo là lao động chính trong gia đình quy định tại điểm e khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Hành vi của bị cáo L1 có thể áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo, do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với bị cáo L1.
Bị cáo Nguyễn Minh L1 nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật. xin Hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm trở về hòa nhập với cộng đồng và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Bị hại vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét việc bị hại vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử chấp nhận xét xử vắng mặt bị hại và người làm chứng.
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung:
[1]. Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Minh L1 phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập được, có căn cứ xác định:
Vào khoảng 07 giờ 00 phút ngày 04/11/2022, tại phòng trọ số A địa chỉ số F Đường E, Khu phố B, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Minh L1 đã thực hiện hành vi dùng tay đấm 01 (một) cái trúng vào mắt phải của chị Nguyễn Thị N gây thương tích 41% (bốn mươi mốt phần trăm).
Hành vi của Nguyễn Minh L1 đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo Nguyễn Minh L1 về tội danh nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2]. Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Minh Lưu K2 có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo Nguyễn Minh L1 thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải; bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại, bị cáo phạm tội lần đầu và bị hại có đơn bãi nại không yêu cầu xử lý trách nhiệm hình sự. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra các bị cáo phải chịu.
Đối với đề nghị của người bào chữa về việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ bị cáo L1 phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra và bị cáo là lao động chính trong gia đình quy định tại điểm e khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xét thấy, tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa bị cáo L1 thừa nhận do mâu thuẫn trong chuyện tình cảm nên đã gây thương tích cho chị Nguyễn Thị N, chị N không có hành vi trái pháp luật đối với L1 và bị cáo Nguyễn Minh Lưu K2 cung cấp được xác nhận của chính quyền địa phương về việc bị cáo là lao động chính trong gia đình. Do đó không có căn cứ áp dụng tình tiết giảm nhẹ bị cáo phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra và bị cáo là lao động chính trong gia đình quy định tại điểm e khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[3]. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hình phạt đối với bị cáo:
Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền được bảo vệ về sức khỏe của công dân mà còn xâm phạm trật tự công cộng, gây mất trị an xã hội. Bị cáo có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng. Do đó, cần xét xử bị cáo mức án nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo nhằm giáo dục các bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung. Bị cáo Nguyễn Minh L1 đã bị tạm giam gần 09 tháng, trong thời gian tạm giam bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình, biết sửa đổi, cải tạo thành người có ích cho xã hội, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại, bị cáo phạm tội lần đầu và bị hại có đơn bãi nại, không yêu cầu xử lý hình sự, giá trị tài sản chiếm đoạt không quá lớn; bị cáo Nguyễn Minh L1 có nơi cư trú ổn định (Theo xác nhận ngày 26/3/2025 của Công an thị trấn T, tỉnh Tây Ninh). Hội đồng xét xử xét thấy việc tiếp tục giam bị cáo Nguyễn Minh L1 là không cần thiết, xem xét cho bị cáo hình phạt tù nhưng được hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục đối với bị cáo và phù hợp với quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), đồng thời xem xét trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội khác.
[4]. Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại chị Nguyễn Thị N đã được gia đình bị cáo Nguyễn Minh L1 bồi thường số tiền 100.000.000 (một trăm triệu) đồng, không có yêu cầu gì khác. Hội đồng xét xử ghi nhận.
[5]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
[6]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Căn cứ Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh L1 phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
- Về hình phạt: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Khoản 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh L1 02 (hai) năm 6 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (08/4/2025).
Giao bị cáo Nguyễn Minh L1 cho Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, bị cáo Nguyễn Minh L1 được hưởng án treo mà cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Nguyễn Minh L1 phải chấp hành hình phạt tù của bản án.
Căn cứ Khoản 4 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Trả tự do cho bị cáo Nguyễn Minh L1 tại phiên tòa, nếu bị cáo Lưu K2 bị tạm giam về một tội khác.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Nguyễn Minh L1 phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
(Đã giải thích về chế định án treo cho bị cáo Nguyễn Minh L1).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Thu |
Bản án số 194/2025/HS-ST ngày 08/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 194/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích
