Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẦN VĂN THỜI

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 194/2025/DS-ST

Ngày 29 - 5 - 2025

V/v Tranh chấp hụi

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

***

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Trương Huỳnh Hải.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lưu Xông Pha.

Ông Nguyễn Công Trường.

- Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Thêu - Thư ký Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời tham gia phiên tòa:

Bà Phạm Huỳnh Trang – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 823/2024/TLST-DS ngày 04/10/2024 về việc “Tranh chấp hụi”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 131/2025/QĐXXST-DS ngày 04/4/2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Lê Huỳnh N, sinh năm 1988.

    Địa chỉ: Ấp C, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau.

    Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Triệu Thị N1, sinh năm 1984 – Là người đại diện theo uỷ quyền (Hợp đồng uỷ quyền ngày 23/9/2024).

    Địa chỉ: Ấp R, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau.

  2. Bị đơn: Bà Văn Thị T, sinh năm 1974.

    Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1973.

    Cùng địa chỉ: Ấp L, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Bà N1 có mặt. Bà T và ông C vắng mặt không rõ lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 17/9/2024 của nguyên đơn và lời trình bày của người đại diện của nguyên đơn có tại hồ sơ và tại phiên toà, thể hiện: Vào ngày 20/5/2018 âm lịch vợ chồng bị đơn mở 01 dây hụi, loại 6.000.000 đồng, 01 tháng khui 01 lần, hụi gồm có 50 chưng, nguyên đơn tham gia chơi 02 chưng (Dây hụi có thoả thuận chủ hụi được hưởng hoa hồng (cò) số tiền 3.000.000 đồng đối với mỗi kỳ khui hụi). Quá trình khui hụi nguyên đơn đã hốt 01 chưng hụi, đã nhận tiền hụi giao không đầy đủ, sau đó cấn trừ tiền hụi chết lắp đuôi đến mãn hụi lại đầy đủ cho bị đơn (nhưng có gì chứng minh); còn 01 chưng hụi sống nguyên đơn đóng được 46 lần bỏ hụi được hốt, nhưng vợ chồng bị đơn không tính hụi và cũng không giao tiền hụi, tổng số tiền vốn và lời theo thoả thuận của nguyên đơn đóng được lãnh là 276.000.000 đồng. Sau khi đình hụi thì vợ chồng bị đơn chỉ trả được cho nguyên đơn số tiền 10.000.000 đồng.

Nay yêu cầu Toà án buộc vợ chồng bị đơn có trách nhiệm liên đới trả số tiền hụi của chưng hụi sống 263.000.000 đồng (đã tự nguyện trừ cò 3.000.000 đồng). Đối với chưng hụi chết đề nghị không yêu cầu xem xét trong vụ án này.

- Theo 02 văn bản ghi ý kiến ngày 18/10/2024 của bị đơn có tại hồ sơ, thể hiện: Bà T xác định nội dung đơn khởi kiện của nguyên đơn là chưa đúng thực tế. Bà T thừa nhận vào ngày 20/5/2018 âm lịch bà T có làm chủ dây hụi, loại 6.000.000 đồng, hụi gồm có 50 chưng, mỗi tháng khui 01 lần, nguyên đơn tham gia chơi 02 chưng. Quá trình khui hụi nguyên đơn đã hốt 01 chưng vào kỳ thứ 25 được số tiền 213.000.000 đồng, sau khi hốt chưng hụi này thì nguyên đơn chỉ đóng được 01 kỳ hụi chết, còn lại 24 kỳ hụi chết 144.000.000 đồng nguyên đơn không đóng; còn 01 chưng hụi sống thì nguyên đơn đóng được 26 kỳ bằng 156.000.000 đồng. Sau khi đối trừ thì bà T chỉ còn nợ nguyên đơn 12.000.000 đồng (khoản tiền này bà T xác định đã trả 10.000.000 đồng, còn lại 2.000.000 đồng bà T xin bớt và được nguyên đơn thống nhất).

Đối với ông C xác định việc chơi hụi giữa nguyên đơn với bà T thì ông C không biết, bà T làm hụi không có sử dụng tiền vào mục đích chi xài chung, nên ông C không liên gì trong vụ án.

Nay bà Tiên đề N2 Toà án bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Tại phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát viên phát biểu:

Ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tiến hành và thực hiện đúng theo quy định. Đối với bị đơn vắng mặt tại phiên toà không có lý do là đã không chấp hành đúng nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn có trách nhiệm liên đới trả số tiền 263.000.000 đồng. Án phí buộc bị đơn phải chịu theo quy định.

Từ những nội dung vụ án thể hiện;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Về thủ tục: Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa không rõ lý do, nên căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
  2. [2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán tiền hụi và bị đơn có nơi cư trú tại huyện T, tỉnh Cà Mau nên Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết vụ án dân sự “Tranh chấp hụi” là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS.
  3. [3] Về nội dung tranh chấp và xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ý kiến của bị đơn: Các đương sự đều thống nhất với nhau về thời gian khui hụi, loại hụi, tổng số chưng hụi của dây hụi và số chưng hụi nguyên đơn tham gia. Nhưng các đương sự không thống nhất với nhau số tiền hụi sống và số tiền hụi chết đối với 02 chưng hụi của nguyên đơn tham gia, nên phát sinh tranh chấp. Hội đồng xét xử xét thấy:
    1. [3.1] Quá trình giải quyết vụ án Toà án có thu thập được tài liệu, chứng cứ là “Biên bản lấy lời khai của ông Đ (Bút lục số 43) và biên bản mở USB do nguyên đơn cung cấp (Bút lục số 56)” và các tài liệu, chứng cứ này đã được Toà án thông báo và giao cho bên phía bị đơn biết và tiếp cận, nhưng sau khi biết và tiếp cận tài liệu, chứng cứ thì cho đến nay không có bất kỳ ý kiến hay văn bản phản đối của phía bị đơn. Nên các tài liệu, chứng cứ này được xem là tài liệu, chứng hợp pháp để làm căn cứ xem xét vụ án.
    2. [3.2] Qua xem xét các tài liệu, chứng cứ (Bút lục 56) thì chứng minh được bà T có thừa có nợ tiền hụi của nguyên đơn và hứa sau khi chuyển nhượng được đất thì sẽ trả; Kết hợp tài liệu, chứng cứ (Bút lục 43, 56) thì xác định được thực tế nguyên đơn đã đóng được hụi sống cho bị đơn 46 kỳ và bỏ hụi hốt thì cho đến nay bị đơn chỉ trả được số tiền 10.000.000 đồng và việc giao dịch hụi thì bị đơn ông C có biết (ông C là người trực tiếp trả tiền hụi cho ông Đ và nguyên đơn mỗi người 10.000.000 đồng).
    3. [3.3] Hụi giữa các bên thoả thuận là hụi có lãi và chủ hụi được hưởng hoa hồng (cò) trên kỳ khui hụi. Như vậy, số tiền hụi nguyên đơn đóng được hưởng là 46 kỳ X 6.000.000 đồng = 276.000.000 đồng – 10.000.000 đồng (đã trả) – 3.000.000 đồng (tiền hoa hồng (cò) thì còn lại là 263.000.000 đồng.
    4. [3.4] Bị đơn không cung cấp được bất kỳ tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh đã trả xong toàn bộ hay một phần nghĩa vụ theo yêu cầu của nguyên đơn và nghĩa vụ của bị đơn phát sinh từ giao dịch của vợ chồng cùng xác lập, nên cần buộc bị đơn phải có trách nhiệm liên đới trả cho nguyên đơn số tiền 263.000.000 đồng là đúng theo quy định tại Điều 471 Bộ luật dân sự (BLDS); Điều 23 Nghị định số: 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường (Nghị định số: 19);
    5. [3.5] Đối với chưng hụi chết nguyên đơn cho rằng đã thực hiện xong toàn bộ nghĩa vụ hụi với vợ chồng bị đơn, còn đối với bà T thì cho rằng nguyên đơn còn nợ lại 24 kỳ hụi chết 144.000.000 đồng. Xét thấy theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đã được thụ lý thì không có yêu cầu xem xét đối với chưng hụi này, đồng thời quá trình giải quyết vụ án bị đơn không có yêu cầu phản tố để yêu cầu nguyên đơn trả số tiền hụi chết, nếu xem xét trong vụ án này thì sẽ vượt quá phạm vi yêu cầu của các bên đương sự theo quy định tại Điều 5 BLTTDS, nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để xem xét. Do đó, trường hợp các bên có yêu cầu đối với chưng hụi chết thì sẽ được xem xét giải quyết bằng vụ án khác.

    Từ những lập luận, phân tích, đánh giá chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

  4. [4] Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm có giá ngạch đối với tổng số tiền theo yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận theo quy định tại Điều 147 BLTTDS; điểm b khoản 1 và khoản 3 Điều 24, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án (Nghị quyết số: 326). Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, nên không phải chịu án phí, số tiền tạm ứng án phí nguyên đơn đã dự nộp trước được hoàn lại toàn bộ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 5, Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 BLTTDS; Điều 471 BLDS; Điều 23 Nghị định số: 19; điểm b khoản 1 và khoản 3 Điều 24, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326.

  1. Tuyên xử:
    • - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Huỳnh N.
    • - Buộc bà Văn Thị T và ông Nguyễn Văn C có trách nhiệm liên đới trả cho bà Lê Huỳnh N tổng số tiền hụi 263.000.000 đồng.
    • Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ trả khoản tiền nói trên, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự đối với khoản tiền nói trên tương ứng với thời gian chậm trả.
  2. Án phí sơ thẩm dân sự có giá ngạch:
    • - Bà Lê Huỳnh N đã dự nộp tiền tạm ứng án phí trước với số tiền là 6.650.000 đồng theo biên lai thu số: 0005641 ngày 04/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau được hoàn lại toàn bộ.
    • - Buộc bà Văn Thị T và ông Nguyễn Văn C phải nộp án phí 13.150.000 đồng (chưa nộp).
  3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong hạn luật định 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Cà Mau (gửi mail);
  • - VKSND huyện Trần Văn Thời;
  • - Chi cục THADS huyện Trần Văn Thời;
  • - Đương sự, NTGTT khác;
  • - Lưu HSVA, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trương Huỳnh Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 194/2025/DS-ST ngày 29/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hụi

  • Số bản án: 194/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hụi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu, buộc thanh toán nợ hụi
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger