|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 194/2024/HSST Ngày 21/10/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Phương Thanh.
Thẩm phán: Bà Lê Thị Dung
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Mai Thị Viện
Ông Bùi Thế Huệ
Ông Nguyễn Quốc Nông
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khánh- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Thanh Thắm - Kiểm sát viên
Ngày 21 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hóa đưa ra xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 176/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 200/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Nhật M; giới tính: Nam;Tên gọi khác: không. Sinh ngày: 24/6/2008 tại: xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. CCCD số [...], cấp ngày 15/5/2023, nơi cấp: Cục CSQLHC về TTXH; Nơi thường trú trước khi bị bắt: thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 9/12. Con ông: Nguyễn Văn T, sinh năm 1987;Con bà: Lê Thị T1, sinh năm 1988; Gia đình có 2 anh em, M là con đầu.Vợ, con: chưa.
Nhân thân: Rạng sáng ngày 10/5/2024 có hành vi Gây rối trật tự công cộng tại quận H, thành phố Hà Nội, do chưa đủ 16 tuổi nên Công an quận H ra đề nghị UBND xã T, huyện T áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường. Tiền án, tiền sự: Không.
Nguyễn Nhật M bị bắt theo Lệnh bắt bị can để tạm giam kể từ ngày 18/6/2024. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. (Có mặt);
2. Hoàng Trọng H; Giới tính: Nam;Tên gọi khác: không. Sinh ngày: 05/01/2007 tại: xã T, huyện T. CCCD số: [...], cấp ngày 19/5/2023, nơi cấp: C06- Bộ C2. Nơi thường trú trước khi bị bắt: thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Quốc
tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.Trình độ học vấn: 9/12.Con ông: Hoàng Trọng C, sinh năm 1980.Con bà: Nguyễn Thị L, sinh năm 1984. Vợ, con: Chưa. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo H bị tạm giữ kể từ 12 giờ 50 phút ngày 26/3/2024. Tạm giam từ ngày 04/4/2024. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. (Có mặt)
3. Nguyễn Trần Đ; giới tính: Nam,Tên gọi khác: không. Sinh ngày: 28/02/2007 tại: phường H, thành phố T. CCCD số: [...]; cấp ngày 06/6/2023, nơi cấp: C06- Bộ C2; Nơi thường trú trước khi bị bắt: thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 9/12.Con ông: Nguyễn Anh H1 (đã chết)và bà: Trần Thị K, sinh năm 1985. Gia đình có 2 anh em, Đ là con thứ đầu.Vợ, con: Chưa. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo Đ bị tạm giữ từ 12g50p ngày 26/3/2024.Tạm giam từ ngày 04/4/2024. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. (Có mặt);
2. Những người tham gia tố tụng khác:
2.1. Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Nhật M: Bà Lê Thu H2, Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. Địa chỉ: C đại lộ L, phường Đ, Thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. (Có mặt);
2.2. Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Nhật M:Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1987, là bố đẻ;Địa chỉ: thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. (Có mặt) và Bà Lê Thị T1, sinh năm 1988, là mẹ đẻĐịa chỉ: thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. (Có mặt)
2.3. Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Trọng H, Nguyễn Trần Đ:Bà Hoàng Thị T2, Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. (Có mặt); Địa chỉ: C đại lộ L, phường Đ, Thành phố T.
2.4. Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Hoàng Trọng H: Ông Hoàng Trọng C1, sinh năm 1980; bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1984; là bố mẹ đẻ. Cùng địa chỉ: thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. (Có mặt);
2.5. Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Trần Đ:Bà Trần Thị K, sinh năm 1985, là mẹ đẻ; Địa chỉ: Tiểu khu Đ, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; (Có mặt);
2.6. Bị hại: Anh Ngô Ngọc D, sinh năm 2008; Trú tại: thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. (Có mặt)
Người đại diện hợp pháp cho bị hại: Ông Ngô Văn L1, sinh năm 1973; Bà Lê Thị H3, sinh năm 1975, là bố mẹ đẻ; Cùng địa chỉ: thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. (Có mặt);
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Bà Nguyễn Thị N, Trợ giúp viên pháp lý,Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T.
Địa chỉ: C đại lộ L, phường Đ, Thành phố T.(Có mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN
3
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 25/3/2024, Nguyễn Trần Đ, sinh ngày 28/02/2007 ở thôn T, xã T, huyện T đang ở nhà Lê Vạn T3, sinh năm 2003, ở xã H, huyện H. Lúc này, Đ gọi cho Hoàng Trọng H, sinh ngày 05/01/2007 ở thôn T, xã T, huyện T để rủ H đến nhà của T3 chơi. Khoảng 30 phút sau, H điều khiển xe mô tô biển số 36C2 - 332.50, loại xe Wave anpha màu tím than đi đến. Khi cả ba đang ở nhà T3 nói chuyện thì Nguyễn Nhật M, sinh ngày 24/6/2008 ở thôn P, xã T, huyện T rủ cả nhóm đến nhà M chơi. Đ, H, T3 đồng ý và điều khiển xe mô tô từ xã H, huyện H đến nhà M. Khi đến xã T, M dẫn nhóm đến khu vực đất trống trước cổng nhà M nói chuyện.
Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, cả nhóm Đ, H, T3, M nhìn thấy Ngô Ngọc D, sinh ngày 28/11/2008 (15 tuổi 03 tháng 26 ngày) ở thôn T, xã T, huyện T điều khiển xe mô tô Vision chưa gắn biển kiểm soát chở theo Vũ Minh H4, sinh ngày 11/09/2007, ở thôn T, xã T, huyện T đi qua. Lúc này, M nhận ra D và nói lại cho cả nhóm biết M có mâu thuẫn với D trước đó, thì Đ nói “ lùa đánh đánh chết mẹ nó đi”. M chạy vào nhà lấy ra một thanh kiếm (dài 90cm, cán kiếm màu đen được làm bằng gỗ dài 26cm, lưỡi kiếm bằng kim loại màu sáng trắng dài 64cm, đầu nhọn, phần rộng nhất 03cm) để chờ D đưa H4 về nhà, rồi sẽ điều khiển xe quay lại.
Khoảng 05 phút sau, D điều khiển xe mô tô một mình quay lại, khi D đi qua nhóm của M thì H nói “thằng đi vision kìa”. Ngay lập tức, H điều khiển xe mô tô BKS 36C2 - 332.50 chở M ngồi giữa cầm theo kiếm, Đ ngồi phía sau đuổi theo D. Quá trình lùa đuổi, các đối tượng không đội mũ bảo hiểm, bấm còi inh ỏi, phóng nhanh, vượt ẩu, khi đến đoạn đường Q thuộc địa phận thôn M, xã T, huyện T, quãng đường lùa đuổi được khoảng 1km thì đuổi kịp D. H điều khiển xe ép sát vào gần xe D. Lúc này, M rút kiếm ra khỏi vỏ bọc, vung kiếm chém về phía D, do D điều khiển xe đi trước nên nhát kiếm này không trúng người D mà trúng vào phần đuôi xe mô tô. H tiếp tục điều khiển xe lại gần, áp sát D, M tiếp tục vung kiếm chém vào vùng cổ của D, vừa chém vừa chửi “đ... con mẹ mày”. Phát hiện bị chém thì D vòng xe quay lại bỏ chạy theo hướng về nhà H4 ở thôn T, xã T, huyện T. Thấy vậy, M nói “ lùa nó” thì H tiếp tục vòng xe quay lại để đuổi theo D thêm 500m nhưng không đuổi kịp.
Sau đó, nhóm H, M, Đ đi về khu vực trước cổng nhà M đứng chờ D quay lại. Khoảng 10 phút sau, khi không thấy D quay lại, cả nhóm giải tán, Đ - T3 về nhà ông bà ngoại Đông ở thôn T, xã T, huyện T, còn H thì về nhà ở thôn T, xã T, huyện T. T4 kiếm M cầm chém D thì M đưa Đ cất giữ. D được bố mẹ của H4 đưa đi cấp cứu, điều trị.
Hậu quả: Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể lập hồi 10h00 phút ngày 26/3/2024 tại Bệnh viện Đ1, thành phố T: Ngô Ngọc D bị 01 vết thương hở, bờ mép sắc gọn vùng cổ chẩm trái, kích thước (10x02) cm.
Khám nghiệm hiện trường:Hiện trường nơi xảy ra vụ án kéo dài từ số nhà E, đường T đến đoạn đường trước số nhà A, Quốc lộ D thuộc địa phận xã T, huyện T với
4
khoảng cách là 1000m. Vị trí nơi bắt đầu lùa đuổi tại trước số nhà E, đường T, thôn P, xã T, huyện T, kí hiệu là (1). Ngôi nhà phía Đông Bắc giáp ruộng, phía Tây Nam giáp đường Trạm Bơm, phía Tây Bắc giáp số nhà E, phía Đông Nam giáp số nhà E. Quá trình lùa đuổi từ số nhà E, đường T đi ra ngã ba Bưu điện xã T về hướng Cầu K. Nơi xảy ra việc Nguyễn Nhật M sử dụng kiếm chém thương tích Ngô Ngọc D là tại đoạn đường trước số nhà A, Quốc lộ D, thôn M, xã T, huyện T, kí hiệu là (2). Ngôi nhà phía T giáp ruộng, phía Đông Nam giáp Quốc lộ D, phía Đông Bắc giáp số nhà A, phía Tây Nam tiếp giáp là đất trống. Sau khi Nguyễn Nhật M dùng kiếm chém Ngô Ngọc D, các đối tượng tiếp tục quay lại, lùa đuổi theo bị hại D đến Bưu điện xã T, kí hiệu vị trí số (3) thì thôi lùa đuổi.
Các kết luận giám định:
Kết luận giám định pháp y thương tích số 409/KLYYCT-PYTH ngày 09/4/2024 của Trung tâm P, xác định: Phần trăm tỷ lệ tổn thương cơ thể của Ngô Ngọc D tại thời điểm giám định là 03%.
Kết luận giám định bổ sung tổn thương trên cơ thể người sống số 552/ KLYYCT-PYTH ngày 06/6/2024 của Trung tâm P kết luận: Vết thương hở bờ mép sắc gọn vùng cổ chẩm trái do tác động của ngoại lực, được tạo nên bởi vật có cạnh sắc. Với thương tích của Ngô Ngọc D đã được giám định để kết luận tổn thương cơ thể, nếu không được xử lý y tế kịp thời thì có thể gây ảnh hưởng đến tính mạng của D.
Kết luận giám định AND số 1572/KL-KTHS ngày 17/4/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: Trên kiếm gửi giám định có tế bào của Ngô Ngọc D.
Quá trình xác định, khám nghiệm hiện trường, Cơ quan CSĐT đã tiến hành rà soát, trích xuất, thu giữ video từ camera an ninh của các hộ dân trên tuyến đường xảy ra vụ việc. Kết luận giám định kỹ thuật số và điện tử số 2302/KL-KTHS ngày 18/6/2024 của phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: Không phát hiện thấy dấu vết chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong các video gửi giám định. Trích xuất một số hình ảnh trong các tệp video gửi giám định về quá trình diễn ra vụ việc - thể hiện trong phụ lục ảnh kèm theo kết luận giám định.
Vật chứng thu giữ:
01 kiếm tự chế, dài 90cm, cán kiếm màu đen được làm bằng gỗ dài 26cm, lưỡi kiếm bằng kim loại màu sáng trắng dài 64cm, đầu nhọn, phần rộng nhất 03cm do Đ tự nguyện giao nộp cho Cơ quan CSĐT. Đây là kiếm của Nguyễn Nhật M sử dụng để chém Ngô Ngọc D (vật chứng của vụ án).
01 xe mô tô biển số 36C2 - 332.50, loại xe Wave anpha, màu tím than. Đây là phương tiện Hoàng Trọng H điều khiển chở theo Nguyễn Nhật M, Nguyễn Trần Đông L2 đuổi gây thương tích cho Ngô Ngọc D. Chủ phương tiện là chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1984, trú tại thôn T, xã T, huyện T (mẹ đẻ của Hoàng Trọng H).
5
01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, số IMEi: 35 309810 2283898, điện thoại đã qua sử dụng của Nguyễn Trần Đ.
01 điện thoại Iphone XS Max, màu gold, Số máy: MT5M2LL/A; số IMEI: 357275096162661, điện thoại đã qua sử dụng của Nguyễn Nhật M. Tất cả các vật chứng này chuyển đến Cục thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa chờ xử lý.
Về dân sự:
Gia đình bị can Hoàng Trọng H bồi thường cho bị hại D số tiền 30.000.000đ đồng, gia đình bị can Nguyễn Trần Đ bồi thường cho bị hại D số tiền 30.000.000đ đồng; Gia đình Nguyễn Nhật M bồi thường cho bị hại số tiền 10.000.000 đồng. Bị hại D và gia đình đã nhận tiền, không yêu cầu bồi thường thêm và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho H, Đ.
* Bản cáo trạng số: 98/CT-VKS-P2 ngày 04 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá đã truy tố các bị cáo Hoàng Trọng H, Nguyễn Trần Đ và Nguyễn Nhật M Về tội “ Giết người” quy định tại điểm b, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự
Tại phiên tòa:
+ Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung Cáo trạng, đề nghị HĐXX: Đối với Nguyễn Nhật M: Căn cứ điểm b, n khoản 1 Điều 123; điểm s, b khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; khoản 3 Điều 57; Điều 54; Điều 58; Điều 91; khoản 2 Điều 101; khoản 3 Điều 102 BLHS tuyên phạt bị cáo: từ 30 tháng tù đến 36 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/6/2024.
+ Đối với Hoàng Trọng H, Nguyễn Trần Đ: Căn cứ điểm b, n khoản 1 Điều 123; điểm s,b khoản 1, 2 Điều 51; khoản 3 Điều 57; Điều 17; Điều 38, Điều 54, Điều 58; khoản 1 Điều 101; khoản 3 Điều 102 BLHS tuyên phạt bị cáo H, Đ từ 36 tháng tù đến 42 tháng tù; Thời hạn tù tính từ ngày 26/3/2024;
- Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận các bị cáo đã bồi thường cho bị hại D như sau: Hoàng Trọng H bồi thường 30.000.000₫ ; Nguyễn Trần Đ bồi thường 30.000.000₫ ; Nguyễn Nhật M bồi thường 10.000.000đ. Bị hại D và gia đình đã nhận tiền, không yêu cầu bồi thường thêm.
- Về xử lý vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS
Tịch thu tiêu hủy vật chứng không có giá trị sử dụng: 01 kiếm tự chế, dài 90cm, cán kiếm màu đen được làm bằng gỗ dài 26cm, lưỡi kiếm bằng kim loại màu sáng trắng dài 64cm, đầu nhọn, phần rộng nhất 03cm;
Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 xe mô tô biển số 36C2 - 332.50, loại xe Wave anpha, màu tím than. Đây là phương tiện Hoàng Trọng H điều khiển chở theo Nguyễn Nhật M, Nguyễn Trần Đông L2 đuổi gây thương tích cho Ngô Ngọc D.
Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, số IMEi: 35 309810 2283898, điện thoại đã qua sử dụng của Nguyễn Trần Đ; Trả lại 01 điện thoại Iphone XS Max, màu gold, số máy: MT5M2LL/A; số IMEI: 357275096162661, điện thoại đã qua sử dụng của Nguyễn Nhật M.
Vật chứng đang bảo quản tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa theo Biên bản giao nhận vật chứng số 210/2024/ TV - CTHADS ngày 9/9/2024.
6
- Về án phí: Áp dụng điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326 về mức thu án phí, lệ phí buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
+ Người bào chữa của bị cáo M: Đồng ý với luận tội của đại diện VKS, đề nghị HĐXX xem xét mức hình phạt phù hợp cho bị cáo vì bị cáo không được sống trong một gia đình trọn vẹn, bố mẹ ly hôn, đều đã có gia đình mới, bị cáo hiện ở với bà nội, bà nội đang bị bệnh hiểm nghèo;
+ Người bào chữa của bị cáo H, bị cáo Đ: Đồng ý với luận tội của đại diện VKS. Tuy nhiên hai bị cáo đều có hoàn cảnh gia đình khó khăn: Bị cáo Đ bố mất sớm, mẹ đi lấy chồng khác cũng hoàn cảnh khó khăn gia đình thuộc hộ cận nghèo; Bị cáo H hoàn cảnh gia đình khó khăn, mẹ đi làm công ty, bố đi làm thuê ở xa.
+ Bị hại, người đại diện hợp pháp và người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp đều đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
+ Các bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo nhận tội, ăn năn hối hận, xin lỗi bị hại và xin được giảm nhẹ hình phạt.
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
[1] Về thủ tục tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo,người đại diện hợp pháp cho bị cáo; người bào chữa cho bị cáo; Bị hại, người đại diện hợp pháp và người bảo vệ quyền lợi ích cho bị hại không khiếu nại gì về hành vi, về quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và của người tiến hành tố tụng. Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai nhận:
Khoảng 22 giờ ngày 25/3/2024, khi Nguyễn Trần Đ, Hoàng Trọng H, Nguyễn Nhật M đang đứng nói chuyện trước cửa nhà M ở thôn P, xã T, huyện T thì thấy cháu Ngô Ngọc D đi qua, M đã có lời nói vu vơ về việc cháu D trước đây có mâu thuẫn với mình nên dẫn đến việcĐông nói “lùa đánh chết mẹ nó đi”. M chạy vào bên trong nhà lấy 01 thanh kiếm dài 90cm. Khi thấy D điều khiển xe quay lại, thì H điều khiển xe mô tô BKS 36C2 - 332.50 chở theo M ngồi giữa cầm kiếm, Đ ngồi sau cùng, lùa đuổi theo cháu D đang điều khiển xe mô tô. Lùa được quãng đường khoảng 1km thì H đuổi kịp, áp sát vào xe D, Minh vung kiếm chém về phía D 02 nhát, một nhát trúng vào sau đuôi xe mô tô, một nhát trúng vào vùng cổ chẩm trái của D gây tổn hại 03% sức khỏe. Phát hiện bị chém, D quay xe bỏ chạy, ngay lập tức M nói “lùa nó”. H điều khiển xe quay lại tiếp tục lùa cháu D thêm 500m nữa nhưng không kịp. Sau đó, H, M, Đ đi về khu vực trước cổng nhà M, đứng chờ D quay lại. Khoảng 10 phút sau, khi không thấy D quay lại, cả nhóm giải tán.
Hành vi của các bị cáo là côn đồ, hung hãn, quyết liệt, M có hành vi dùng hung khí nguy hiểm (kiếm) tấn công vào vùng cổ chẩm trái (vùng trọng yếu trên cơ thể) của cháu D, trong khi D đang điều khiển xe mô tô tham gia giao thông là đặc biệt nguy hiểm, có thể gây nên tử vong đối với D nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện, bỏ mặc hậu quả xảy ra. Hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội "Giết người" quy định tại
7
Điều 123 BLHS với tình tiết định khung quy định tại điểm b, n khoản 1 “ Giết người dưới 16 tuổi” và "có tính chất côn đồ" nên cáo trạng truy tố các bị cáo của VKSND Tỉnh Thanh Hóa là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật;
[3] Xét tính chất của vụ án: Vụ án có tính chất đặc biệt nghiêm trọng. Các bị cáo đều độ tuổi chưa thành niên, trong đó có bị cáo chỉ dưới 16 tuổi nhưng chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt mà sẵn sàng cầm hung khí để tác động vật lý đối với với người khác. Hành vi của các bị cáo quyết liệt, hung hãn, thể hiện lối sống buông thả, không tôn trọng quy tắc xử sự chung nên cần xử nghiêm đối với các bị cáo. Vụ án còn là hồi chuông cảnh tỉnh đối với các bậc làm cha mẹ đã không quan tâm sâu sát đến con mình để hiểu cuộc sống và các mối quan hệ của con, dẫn đến không kiểm soát được thói quen, hành vi nên hậu quả đau lòng đã xảy ra, khi cùng trong lứa tuổi cắp sách đến trường nhưng có người thì phải thi hành án tù, người thì phải mang thương tích.
Vụ án có đồng phạm nhưng chỉ là đồng phạm giản đơn, trong đó bị cáo Nhật M có vai trò cao nhất rồi đến H và Đ.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi phạm tội, các bị cáo đã tác động đến gia đình bồi thường trực tiếp cho bị hại cụ thể: gia đình bị cáo Hoàng Trọng H bồi thường 30.000.000đ, gia đình bị cáo Nguyễn Trần Đ bồi thường 30.000.000₫ Gia đình bị cáo Nguyễn Nhật M bồi thường 10.000.000đ. Bị hại và gia đình bị hại D đã nhận tiền, không yêu cầu bồi thường thêm nên ghi nhận về trách nhiệm dân sự đã xong nên HĐXX không xem xét.
[5] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ của bị cáo:
Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không chịu các tình tiết tăng nặng;
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, phạm tội xong đầu thú; đã tác động đến gia đình thực hiện trách nhiệm dân sự đầy đủ với bị hại và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt.Ngoài ra: Bị cáo Đ, bị cáo H đều có ông bà nội, ngoại có công trong kháng chiến; gia đình bị cáo Đ, H có đóng góp tiền cho Mặt trận tổ quốc Việt Nam và Quỹ Chữ Thập đỏ Việt Nam để khắc phục thiệt hại do bão YAGI. Bị cáo Đ thuộc hộ cận nghèo.
Nên các bị cáo đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, b khoản 1, 2 Điều 51 BLHS.
[6] Về điều luật áp dụng và hình phạt dành cho các bị cáo:
Trong vụ án này các bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội đều là người chưa đủ 18 tuổi nên cần áp dụng các quy định tại chương XII của Bộ luật hình sự về: "Những quy định đối với người chưa thành niên phạm tội” để xét xử đối với các bị cáo. Cụ thể: Bị cáo Nguyễn Nhật M khi phạm tội mới 15 tuổi 9 tháng 01 ngày thuộc trường hợp người phạm tội từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi nên cần áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 101 của BLHS; Đối với bị cáo Hoàng Trọng H khi phạm tội mới 17 tuổi 2 tháng 20 ngày; Nguyễn Trần Đ 17 tuổi 0 tháng 26 ngày thuộc trường hợp
8
người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội nên cần căn cứ các quy định tại khoản 1 Điều 101 của Bộ luật hình sự để xét xử đối với các bị cáo.
Các bị cáo phạm tội chưa đạt, đều có hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS nên được áp dụng khoản 3 Điều 57, Điều 54 BLHS để xem xét cho bị cáo;
Việc xử lý người dưới 18 tuổi chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ để sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội nên chấp nhận đề nghị của đại diện VKS ND Tỉnh T về hình phạt dành cho các bị cáo. Trong đó bị cáo Nhật M có vai trò đầu nhưng là người dưới 16 tuổi nên hình phạt thấp hơn bị cáo H và Đ.
[7] Các tình tiết khác có liên quan trong vụ án:
Đối với Lê Vạn T3: Khi các đối tượng H, Đ, M lên xe mô tô để đuổi theo D thì Tấn định đi theo nhưng do xe không đủ chỗ nên T3 ở lại. Tại các thời điểm trước và trong khi các đối tượng H, Đ, M đi xe mô tô, lùa đuổi và dùng kiếm chém thương tích cho D thì Lê Vạn T3 không có lời nói, hành động thể hiện việc tham gia bàn bạc hay giúp sức cho việc lùa đuổi chém D. Do đó, hành vi của T3 không đồng phạm với H, Đ, M về tội “Giết người” quy định tại khoản 1 Điều 123 BLHS.
Ngày 25/3/2024, H điều khiển xe mô tô chở theo M, Đ nhưng H không có Giấy phép lái xe mô tô, cả ba đều không đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông; Ngô Ngọc D điều khiển xe mô tô không có Giấy phép lái xe mô tô, không đội mũ bảo hiểm. Việc H, D điều khiển xe mô tô tham gia giao thông không có giấy phép, không đội mũ bảo hiểm thì chủ sở hữu phương tiện là chị Nguyễn Thị L (mẹ của H), anh Ngô Văn L1 (bố của D) không biết, không giao xe mô tô cho H, D. Tuy nhiên, việc chị L, anh L1 để H, D tự ý lấy xe mô tô điều khiển tham gia giao thông đã vi phạm quy định tại điểm d khoản 17 Điều 2 Nghị định 123/2021/NĐ-CP Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T chuyển tài liệu liên quan đến Công an huyện T để xem xét, xử phạt hành chính đối với H, D, chị L, anh L1.
[8] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:Tịch thu tiêu hủy vật chứng không có giá trị sử dụng: 01 kiếm tự chế, dài 90cm, cán kiếm màu đen được làm bằng gỗ dài 26cm, lưỡi kiếm bằng kim loại màu sáng trắng dài 64cm, đầu nhọn, phần rộng nhất 03cm;
Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 xe mô tô biển số 36C2 - 332.50, loại xe Wave anpha, màu tím than. Đây là phương tiện Hoàng Trọng H điều khiển chở theo Nguyễn Nhật M, Nguyễn Trần Đông L2 đuổi gây thương tích cho Ngô Ngọc D.
Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, số IMEI: 35 309810 2283898, điện thoại đã qua sử dụng của Nguyễn Trần Đ. Trả lại 01 điện thoại Iphone XS Max, màu gold, số máy: MT5M2LL/A; số IMEI: 357275096162661, điện thoại đã qua sử dụng của Nguyễn Nhật M.
Các vật chứng trên hiện đang bảo quản tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa theo Biên bản giao nhận vật chứng số 210/2024/ TV - CTHADS ngày 9/9/2024.
9
Các vật chứng trên hiện đang bảo quản tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa theo Biên bản giao nhận vật chứng số 210/2024/ TV - CTHADS ngày 9/9/2024.
[9] Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 21, điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Trần Đ thuộc hộ nghèo nên được miễn án phí; Buộc bị cáo Nguyễn Nhật M, Hoàng Trọng H mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: Điều 123 Bộ luật hình sự: Tuyên bố:
Các bị cáo Nguyễn Nhật M, Hoàng Trọng H, Nguyễn Trần Đ phạm tội “ Giết người”.
2. Áp dụng:
+ Điểm b, n khoản 1 Điều 123; điểm s,b khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; khoản 3 Điều 57; Điều 54; Điều 58; Điều 91; khoản 2 Điều 101; khoản 3 Điều 102 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Nhật M 30 (ba mươi) tháng tù . Thời hạn tù tính từ ngày 18/6/2024.
+ Điểm b, n khoản 1 Điều 123; điểm s,b khoản 1, 2 Điều 51; khoản 3 Điều 57; Điều 17; Điều 38, Điều 54, Điều 58; khoản 1 Điều 101; khoản 3 Điều 102 BLHS xử phạt bị cáo Hoàng Trọng H, Nguyễn Trần Đ mỗi bị cáo 36 (ba mươi sáu) tháng tù; Thời hạn tù tính từ ngày 26/3/2024;
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
+Tịch thu tiêu hủy vật chứng không có giá trị sử dụng: 01 kiếm tự chế, dài 90cm, cán kiếm màu đen được làm bằng gỗ dài 26cm, lưỡi kiếm bằng kim loại màu sáng trắng dài 64cm, đầu nhọn, phần rộng nhất 03cm;
+Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 xe mô tô biển số 36C2 - 332.50, loại xe Wave anpha, màu tím than. Đây là phương tiện Hoàng Trọng H điều khiển chở theo Nguyễn Nhật M, Nguyễn Trần Đông L2 đuổi gây thương tích cho Ngô Ngọc D.
+Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, số IMEI: 35 309810 2283898, điện thoại đã qua sử dụng của Nguyễn Trần Đ.Trả lại 01 điện thoại Iphone XS Max, màu gold, số máy: MT5M2LL/A; số IMEI: 357275096162661, điện thoại đã qua sử dụng của Nguyễn Nhật M.
Các vật chứng trên hiện đang được tạm giữ tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa theo Biên bản giao nhận vật chứng số 210/2024/TV - CTHADS ngày 9/9/2024.
10
4. Về trách nhiệm dân sự:
Công nhận các bên đã thực hiện xong việc bồi thường số tiền 70.000.000đ(bảy mươi triệu đồng) cho bị hại cụ thể: gia đình bị cáo Hoàng Trọng H bồi thường 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng), gia đình bị cáo Nguyễn Trần Đ bồi thường 30.000.000đ(ba mươi triệu đồng); Gia đình bị cáo Nguyễn Nhật M bồi thường 10.000.000 (mười triệu đồng).
5. Về án phí:
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 21, điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Trần Đ thuộc hộ nghèo nên được miễn án phí; Buộc bị cáo Nguyễn Nhật M, Hoàng Trọng H mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
6. Quyền kháng cáo:
Căn cứ Điều 331 BLTTHS: Bị cáo Nguyễn Nhật M, Hoàng Trọng H, Nguyễn Trần Đ và người bào chữa, người đại diện hợp pháp được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ tuyên án; Bị hại Ngô Ngọc D và người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Phương Thanh |
Bản án số 194/2024/HSST ngày 21/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về hình sự sơ thẩm (tội giết người)
- Số bản án: 194/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Giết người)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Nhật M, Hoàng Trọng H, Nguyễn Trần Đ phạm tội “ Giết người”.
