Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BA ĐÌNH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 194/2024/HS-ST

Ngày: 24/10/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Nam Hải.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phùng Ngọc Toàn
Ông Trần Đức Lưu

- Thư ký phiên toà: Bà Đồng Minh Hoàn - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

- Đại diện VKSND quận Ba Đình, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị T - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 10 năm 2024, tại điểm cầu T – tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hà Nội và điểm cầu thành phần tại trại giam S Công an thành phố H, xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 190/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 427 /2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo: Nguyễn Anh D, sinh năm 2002.

Nơi thường trú: tổ I, phường T, quận H, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D1 và bà Vũ Hải D2; tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/6/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H. Có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19h10' ngày 02/6/2024, tại đầu ngõ A Đ, phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội, tổ công tác Công an phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội phát hiện, kiểm tra và bắt quả tang Nguyễn Anh D điều khiển xe máy Honda Blade, màu đen, biển kiểm soát: 29D1 - 85755 có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ tại túi quần phía trước bên trái của D một túi nilon màu trắng chứa thảo mộc khô. Tại chỗ, D khai nhận đây là ma túy loại Cần sa mang đi bán cho người mua ma túy. Tổ công tác Công an phường Đ đưa đối tượng cùng tang vật và phương tiện về Công an phường Đ để điều tra, làm rõ.

Quá trình điều tra xác định: Do không có công việc ổn định nên D đi bán ma túy để kiếm lời. Khoảng 13h15' ngày 02/6/2024, khi D đang ở nhà thì có người đàn ông tên T1 sử dụng tài khoản Zalo “Nguyễn T1” nhắn tin vào tài khoản Zalo của D tên là “Nguyễn Anh D” hỏi mua 2 gam ma túy loại Cần sa. D đồng ý bán cho T1 với giá 900.000 đồng cùng với 100.000 đồng tiền công mang ma túy. T1 hẹn D giao dịch tại địa chỉ ngõ A Đ, quận B, thành phố Hà Nội. D yêu cầu T1 chuyển khoản trước 500.000 đồng. 17h40' cùng ngày thì tài khoản số 03101011700325, mở tại ngân hàng M của D nhận được tiền chuyển khoản của T1 từ tài khoản số 11820033333, mở tại ngân hàng TMCP T2, chủ tài khoản BUI DUC CANH. Sau đó, D điều khiển xe máy Honda Blade, biển kiểm soát: 29D1 - 85755 đi đến khu vực đầu ngõ B Đ để tìm mua ma túy Cần sa. Tại đây, D gặp một nam thanh niên không quen biết và hỏi mua của anh ta 450.000 đồng ma túy Cần sa. Nam thanh niên đồng ý, cầm tiền của D và bảo D đứng chờ rồi đi bộ vào trong ngõ B Đ. Khoảng 20' sau nam thanh niên quay lại đưa cho D 1 túi nilon có chứa ma túy Cần sa. D cầm ma túy cất vào túi quần phía trước bên trái rồi điều khiển xe máy đi tới ngõ A Đ với ý định bán ma túy cho T1 và nhận nốt số tiền 500.000 đồng. Khi đến ngõ A Đ, D định gọi Zalo cho T1 thì bị tổ công tác Công an phường Đ kiểm tra, thu giữ túi nilon chứa ma túy T1 định bán.

Ngoài hành vi Mua bán trái phép chất ma túy cho “Nguyễn T1” ở trên, quá trình điều tra xác định khoảng 15h12' ngày 30/5/2024, Nguyễn Anh D có hành vi bán trái phép 1 lọ ma túy tinh dầu Cần sa thể tích 5ml cho người sử dụng tài khoản Zalo “B” với giá 500.000 đồng. B đã chuyển khoản số tiền 500.000 đồng từ tài khoản số 2879999456789, mở tại ngân hàng M1, chủ tài khoản VU DUC BINH đến tài khoản số 03101011700325, mở tại ngân hàng M của D. Cùng ngày, D có hành vi bán 1 gói ma túy loại Tobaco với giá 50.000 đồng cho “Nguyễn T1” tại ngõ A Đ. Tài liệu thu thập được phù hợp với lời khai nhận tội của Nguyễn Anh D.

Vật chứng của vụ án:

Thu giữ của Nguyễn Anh D:

  • - 01 (một) túi nilon màu trắng bên trong có chứa thảo mộc khô;
  • - 01(Một) điện thoại di động SAMSUNG A12 mầu trắng, số IMEI 1: 35119629632132221, số IMEI 2: 351533 6332133223, số SIM: 0507018022.
  • - 01 xe máy nhãn hiệu Honda Blade màu đen, biển kiểm soát: 29D1-85755.

Tại bản Kết luận giám định số 4133 ngày 12/6/2024 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận: Thảo mộc khô bên trong 01 túi nilon là Cần sa, khối lượng 1,862 gam.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Blade màu đen, biển kiểm soát: 29D1-85755, quá trình xác minh đã xác định là tài sản hợp pháp của chị Vũ Hải D2 (sinh năm: 1978; nơi ở: tổ I phường T, quận H, thành phố Hà Nội) đã cho D mượn xe và chị D2 không biết việc D dùng xe máy để đi bán ma túy. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe máy trên cho chị D2. Chị D2 đã nhận lại xe và không có ý kiến gì khác.

* Kết quả xác minh đối với tài khoản số 11820033333, mở tại ngân hàng TMCP T2, chủ tài khoản BUI DỤC CANH mà đối tượng “Nguyễn T1” sử dụng để chuyển khoản mua ma túy của Nguyễn Anh D như sau: Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhân thân, lai lịch, triệu tập lấy lời khai đối với Bùi Đức C. Ngày 25/8/2024, tại cơ quan điều tra C khai nhận trước đây do thiếu tiền tiêu xài nên C đã nhắn tin cho một tài khoản Facebook và cung cấp thông tin cá nhân để người đó mở tài khoản tại ngân hàng TMCP T2 để nhận số tiền 1.000.000 đồng. C không biết người sử dụng tài khoản, C cũng không sử dụng số tài khoản trên và chưa bao giờ gặp Nguyễn Anh D. Vì vậy đối với đối tượng mua ma túy “Nguyễn T1”, Cơ quan điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ để xử lý.

* Đối với đối tượng mua ma túy tên “B”, Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, xác minh nhân thân, lai lịch và triệu tập lấy lời khai đối với Vũ Đức B. Ngày 28/8/2024, tại cơ quan điều tra B khai nhận ngày 30/5/2024 có thực hiện chuyển tiền từ tài khoản số 2879999456789 tại ngân hàng M2 mang tên Vũ Đức B sang tài khoản số 03101011700325 tại ngân hàng M của D để mua 1 lọ ma túy tinh dầu Cần sa của D. Sau khi mua B đã sử dụng hết số ma túy này. Cơ quan điều tra đã tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy trong nước tiểu đối với B, kết quả âm tính. Vì vậy chưa đủ căn cứ để xử lý đối với Vũ Đức B.

* Đối với bán ma túy cho Nguyễn Anh D, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ để xử lý.

Với nội dung trên bản cáo trạng số 191/CT-VKSBĐ ngày 09/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Nguyễn Anh Duy về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như bản cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: điểm b khoản 2,khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1,2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm tù.

Về vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu tiêu hủy 1,862 gam cần sa.
  • - Tịch thu xung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung A12 màu trắng đã qua sử dụng.
  • - Truy thu của bị cáo số tiền 600.000 đồng để tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

- Không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo, do bị cáo là đối tượng nghiện không có nghề nghiệp ổn định.

Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung truy tố của cáo trạng và không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận B, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận B, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung vụ án:

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Trong khoảng thời gian từ ngày 30/5/2024 đến ngày 02/6/2024, bị cáo đã có ba lần thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy. Lần thứ nhất là ngày 30/5/2024, bị cáo có hành vi bán trái phép một lọ ma túy tinh dầu Cần sa thể tích 5ml cho đối tượng Vũ Đức B lấy 500.000 đồng. Lần thứ hai là ngày 30/5/2024, bị cáo có hành vi bán trái phép một gói ma túy loại Tobaco cho đối tượng dùng tài khoản Zalo “Nguyễn T1” lấy 50.000 đồng.

Khoảng 19h10' ngày 2/6/2024, tại đầu ngõ A Đ, phường Đ, quận B, Hà Nội, bị cáo đã có hành vi bán trái phép chất ma túy loại Cần sa, khối lượng 1,862 gam, với giá 900.000 đồng (đã chuyển khoản trước 500.000 đồng) và 100.000 đồng tiền công chuyển ma tuý cho đối tượng dùng tài khoản Zalo tên “Nguyễn T1” thì bị tổ công tác Công an phường Đ, B phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Anh D có đủ dấu hiệu cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, tội danh và khung hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

[3]. Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, bị cáo có đủ nhận thức để biết rằng các loại ma túy là chất gây nghiện được nhà nước thống nhất quản lý, nghiêm cấm mọi hành vi phạm tội liên quan đến ma túy nhưng vì hám lời bị cáo vẫn cố ý mua bán trái phép chất ma túy. Mặt khác hành vi phạm tội của bị cáo còn gây mất trật tự trị an tại địa phương và là một trong những nguyên nhân dẫn đến tội phạm và các tệ nạn xã hội khác.

[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, thấy rằng:

Bị cáo Nguyễn Anh D khi phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo sớm trở thành người công dân có ích cho xã hội.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian như vậy mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.

[5] Xử lý vật chứng:

- Toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong bao niêm phong, hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình là vật cấm tàng trữ, cấm lưu hành vì vậy cần áp dụng khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma này.

- Đối với 01(Một) điện thoại di động SAMSUNG A12 mầu trắng, số IMEI 1: 35119629632132221, số IMEI 2: 351533 6332133223 thu giữ của bị cáo là chiếc điện thoại bị cáo sử dụng để liên lạc mua bán trái phép chất ma tuý, vì vậy căn cứ khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu, nộp ngân sách nhà nước chiếc điện thoại này.

Toàn bộ vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

Đối với số tiền 550.000 đồng bị cáo thu lợi bất chính từ việc bán ma tuý ngày 30/5/2025 và số tiền 50.000 đồng bị cáo thu lời bất chính từ việc bán ma tuý ngày 02/6/2024, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự truy thu số tiền 600.000 đồng của bị cáo để tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự,

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 46, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, b khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Anh D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý".

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Anh D 07 năm 06 tháng (Bẩy năm,sáu tháng ) tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 03/6/2024.

- Về xử lý vật chứng:

  • + Tịch thu tiêu huỷ: 01 (Một) bao niêm phong bên trong chứa 1,862 gam ma tuý cần sa đã qua giám định,bên ngoài có chữ ký của giám định viên và bị cáo Nguyễn Anh D.
  • + Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01(Một) điện thoại di động SAMSUNG A12 mầu trắng, số IMEI 1: 35119629632132221, số IMEI 2: 351533 6332133223.

Toàn bộ vật chứng nêu trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, theo biên bản giao nhận vật chứng số 15 ngày 23/10/2024 giữa Công an quận B với Chi Cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

  • + Truy thu của bị cáo số tiền 600.000 đồng để tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hà Nội;
  • - VKSND TP Hà Nội;
  • - VKSND quận Ba Đình;
  • - Công an quận Ba Đình;
  • - Chi cục THADS quận Ba Đình;
  • - Trại tạm giam số I – Công an TP Hà Nội.
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Nam Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 194/2024/HS-ST ngày 24/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 194/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Anh D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger