|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 194/2024/HS-ST Ngày 29/10/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Xuân Xế, ông Nghiêm Đình Chế .
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Hạ Gia Thuận - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 186/2024/TLST-HS ngày 07/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 188/QĐXXST-HS ngày 17/10/2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Văn Đ – sinh năm 1995; Nơi cư trú: Thôn M, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1968; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Hoàng Thị Ánh H, sinh năm 1996, con: có 01 con sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không.
- Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/7/2024 đến ngày 15/7/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).
2. Họ và tên: Lưu Văn B – sinh năm 1991; Nơi cư trú: thôn C, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lưu Văn C, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1970; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Cấn Thị Hương L, sinh năm 1998, con: 02 con, con lớn sinh năm 2021, con nhỏ sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: Không.
- Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/7/2024 đến ngày 15/7/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).
1
3. Họ và tên: Hoàng Công D – sinh năm 2000; Nơi cư trú: Thôn M, xã M, huyện H, tỉnh Bắc Giang; Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Công K, sinh năm 1976 và bà Lê Thị T1, sinh năm 1977; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
- Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/8/2024 đến ngày 20/8/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Quá trình điều tra vụ án “Đánh bạc” xảy ra ngày 13/6/2024 tại quán B1 thuộc khu đô thị M, thị trấn C, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, Nghiêm Đình N, sinh năm 1986, trú tại: thôn N, thị trấn C, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh đã trình bày về việc: Chiều ngày 17/6/2024, tại quán B1, N có nghe thấy thanh niên tên là Đ và thanh niên tên Bản rủ nhau đánh bi-a được thua bằng tiền.
Sau đó, Nguyễn Văn Đ, Lưu Văn B và Hoàng Công D đến Công an đầu thú khai nhận như sau:
Khoảng 13 giờ ngày 17/6/2024, Nguyễn Văn Đ đến quán B1 ở khu đô thị M, thị trấn C, huyện Y để chơi bi-a. Tại đây, Đ gặp Lưu Văn B và cả hai rủ nhau đánh bi-a được thua bằng tiền. Đ gọi điện thoại cho Hoàng Công D rủ D chung tiền để đánh độ bi-a với B, D đồng ý. Tại quán B1, Đ và Bản thống nhất cá cược 5.000.000 đồng một game, hình thức chơi cá cược: Đánh 10 bị (từ bị số 6 đến bi số 15), ai được 53 điểm trước thì thắng một ván. Một game chơi nhiều ván, ai chạm 7 trước thì thắng một game (tức ai thắng 7 ván trước thì thắng game đó). Người thắng cược sẽ thanh toán tiền bàn, tiền nước. D đồng ý góp 3.000.000 đồng với Đ để đánh cá độ bi-a với B.
Sau đó, Đ và Bản đánh bi-a ở bàn số 02 của quán. Đoàn và B chơi nhiều game nhưng đều hòa nhau. Khi Đ và Bản đánh được khoảng 7-8 game thì Đ thắng một game và được số tiền 5.000.000 đồng. Đ và B lại tiếp tục rủ nhau đánh thêm một game với số tiền cá cược là 7.000.000 đồng. Lúc này D vẫn chung cá cược với Đ số tiền 3.000.000 đồng. Kết quả Đ thắng Bản được tổng số tiền 12.000.000 đồng. Do Bản không mang tiền theo nên B đã gọi điện thoại cho anh Phạm Văn G chuyển khoản trả tiền cho Đ. Sau khi nhận được số tiền 12.000.000 đồng, Đ đã chuyển khoản số tiền 6.500.000 đến tài khoản của D (D được 6.000.000 đồng, trừ 500.000 đồng tiền bàn, 1.000.000 đồng tiền Đoàn nợ D trước đó).
Tại bản Cáo trạng số: 182/CT-VKSYP, ngày 02/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn Đ, Lưu Văn B, Hoàng Công D về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
2
Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Các bị cáo đều thừa nhận Cáo trạng truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội. Các bị cáo đều nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, khoan hồng giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh căn cứ, phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
* Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn Đ, Lưu Văn B, Hoàng Công D phạm tội “Đánh bạc”.
* Về điều luật áp dụng: Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự:
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ từ 10 tháng tù đến 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 20 tháng đến 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Phạt bổ sung bị cáo Đ từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng sung Ngân sách Nhà nước.
Giao bị cáo Nguyễn Văn Đ cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Xử phạt bị cáo Lưu Văn B từ 10 tháng tù đến 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 20 tháng đến 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Phạt bổ sung bị cáo B từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng sung Ngân sách Nhà nước.
Giao bị cáo Lưu Văn B cho Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Xử phạt bị cáo Hoàng Công D từ 08 tháng tù đến 10 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 16 tháng đến 20 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Phạt bổ sung bị cáo D từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng sung Ngân sách Nhà nước.
Giao bị cáo Hoàng Công D cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện H, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
*Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
-Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone X màu trắng, không lắp sim, số Imei: 3548789015165 của Đoàn; 01 điện thoại di động Iphone Xsmax màu đen, không lắp sim, số Imei: 357277092828170 của D.
3
- Truy thu sung Ngân sách Nhà nước: Số tiền 6.500.000 đồng thu lời bất chính của bị cáo Đ, số tiền 5.500.000 đồng thu lời bất chính của bị cáo D.
Lưu theo hồ sơ 03 đĩa ghi âm hỏi cung của các bị cáo.
Sau khi nghe Kiểm sát viên phát biểu luận tội, các bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
Tại phần nói lời sau cùng, các bị cáo đề nghị giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
1. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng: Đã thực hiện theo quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vậy, các hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
2. Về nội dụng: Tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn nhận hành vi phạm tội, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng từ 13 giờ đến 17 giờ ngày 17/6/2024, tại quán B1 thuộc khu đô thị M, thị trấn C, huyện Y, Nguyễn Văn Đ và Lưu Văn B có hành vi đánh bạc bằng hình thức chơi bi-a được thua bằng tiền, tổng số tiền đánh bạc là 12.000.000 đồng. Hoàng Công D biết Đ và B đánh bi-a được thua bằng tiền nhưng vẫn tham gia góp số tiền 6.000.000 đồng với Đ để cá cược. Sau đó, Đ và B đánh nhiều game, kết quả Đ thắng 02 game được số tiền 12.000.000 đồng.
Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Ngoài ra tội phạm đánh bạc còn là nguyên nhân của nhiều loại tội phạm khác như trộm cắp tài sản, cướp tài sản. Do vậy cần xét xử nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
2. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
4
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo đã khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân, các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội các bị cáo đã đến Công an đầu thú. Vì vậy các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Hội đồng xét xử xét thấy: Đây là vụ án có tình chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo phạm tội không có sự bàn bạc, phân công nhiệm vụ cụ thể, các bị cáo là người có nhân thân tốt, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên có đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự, do vậy không cần thiết phải buộc bị các bị cáo phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần cho các bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ điều kiện để giáo dục các bị cáo trở thành người lương thiện và có ích cho xã hội.
Ngoài hình phạt chính, cần áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Đối với số tiền các bị cáo D, Đ thu lời bất chính từ việc tổ chức đánh bạc cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.
- Đối với 01 điện thoại di động Iphone X màu trắng, không lắp sim, số Imei: 3548789015165 của Đoàn; 01 điện thoại di động Iphone Xsmax màu đen, không lắp sim, số Imei: 357277092828170 của D là vật liên quan đến tội phạm nên cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.
5. Những vấn đề khác:
Đối với anh Dương Văn M là người đứng tên trong giấy chứng nhận đăng ký chủ hộ kinh doanh quán B1 và Nghiêm Đình N là người quản lý quán, anh M, anh N không biết Đ và B đánh bi-a được thua bằng tiền tại quán nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý anh M, anh N là phù hợp.
Đối với anh Phạm Văn G là người được Bản nhờ chuyển khoản tiền thua cá độ cho Đ. Bản không nói cho anh G biết là Bản nhờ chuyển tiền đánh độ bi-a nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý anh G là phù hợp.
Đối với bàn bi-a, 02 chiếc gậy chọc bi-a bằng gỗ và 16 viên bi-a bằng đá là công cụ được Đ và B sử dụng để đánh bạc. Quá trình điều tra xác định: Bàn bi-a đã bị mòn nỉ, gẫy chân nên N đã vứt bỏ, còn 02 chiếc gậy và 16 viên bi-a sau khi dọn bàn đã để lẫn cùng số gậy và các viên bi-a khác trong quán. Vì vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ để thu giữ, xử lý số đồ vật nêu trên là phù hợp.
6. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
5
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn Đ, Lưu Văn B, Hoàng Công D phạm tội “Đánh bạc”.
2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự:
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Phạt bổ sung bị cáo Đ 10.000.000 đồng sung Ngân sách Nhà nước.
- Xử phạt bị cáo Lưu Văn B 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Phạt bổ sung bị cáo Bản 10.000.000 đồng sung Ngân sách Nhà nước.
- Xử phạt bị cáo Hoàng Công D 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Phạt bổ sung bị cáo D 10.000.000 đồng sung Ngân sách Nhà nước.
+ Giao bị cáo Nguyễn Văn Đ cho Ủy ban nhân xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
+ Giao bị cáo Lưu Văn B cho Ủy ban nhân xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
+ Giao bị cáo Hoàng Công D cho Ủy ban nhân xã M, huyện H, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
3. Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
+ Truy thu số tiền 6.500.000 đồng của Nguyễn Văn Đ sung Ngân sách Nhà nước.
+ Truy thu số tiền 5.500.000 đồng của Hoàng Công D sung Ngân sách Nhà nước.
+ Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động Iphone X màu trắng, không lắp sim, số Imei: 3548789015165 của Đoàn; 01 điện thoại di động Iphone Xsmax màu đen, không lắp sim, số Imei: 357277092828170.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 14 tháng 10 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Phong).
Lưu theo hồ sơ 03 đĩa ghi âm hỏi cung của các bị cáo.
6
4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án:
Các bị cáo Nguyễn Văn Đ, Lưu Văn B, Hoàng Công D mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:
Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Tuấn |
7
Bản án số 194/2024/HS-ST ngày 29/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH về hình sự sơ thẩm về tội đánh bạc
- Số bản án: 194/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Đoàn và đồng bọn - Đánh bạc
