Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ MỸ THO

TỈNH TIỀN GIANG

Bản án số: 194/2024/HNGĐ-ST

Ngày 13-9-2024

V/v tranh chấp “Ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Sắc Ly.

Các Hội thẩm nhân nhân dân.

Ông Lê Văn Kiệt.

Bà Lê Thị Thu Yến.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trạng - Thư ký Tòa án của Tòa án

nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho tham gia phiên

tòa: Bà Đỗ Thị Mỹ Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 395/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn”.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 185/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Bảo T, sinh năm 2002 (xin vắng mặt).

Địa chỉ: Số E L, phường T, TP M, tỉnh Tiền Giang.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Trí H, sinh năm 1982 (vắng mặt).

Địa chỉ: Số H, ấp M, xã M, TP M, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Nguyễn Bảo T trình bày:

Chị và anh Nguyễn Chí H1 xác lập hôn nhân hợp pháp, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân phường T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn năm 2022. Sau khi kết hôn, chị và anh H1 chung sống hạnh phúc được thời gian đầu. Thời gian gần đây, vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, do anh H1 không lo làm ăn phụ giúp chị nuôi con nhỏ và trang trãi chi tiêu trong gia đình. Anh H1 thường xuyên nhậu nhẹt, say xỉn về nhà gây sự, gây mất trật tự xóm, ấp. Chị có khuyên nhiều lần nhưng anh H1 không thay đổi. Mặc dù đã nhiều lần hàn gắn hạnh phúc nhưng không được. Nhận thấy, tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên yêu cầu giải quyết:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Bảo T yêu cầu được ly hôn với chị Nguyễn Trí H.

- Về con chung: Có 01 con chung là Nguyễn Hoàng Đ, sinh ngày 15/10/2021. Chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn Nguyễn Trí H: Đã được toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo đúng quy định pháp luật, nhưng vẫn không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa:

Chị Nguyễn Bảo T xin vắng mặt. Anh Nguyễn Trí H vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký tòa án, Hội đồng xét xử và nguyên đơn từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm Hội đồng xét xử chuẩn bị nghị án đều thực hiện đúng theo trình tự do Bộ luật tố tụng quy định. Bị đơn chưa thực hiện đúng sự triệu tập của Toà án.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đại diện Viện kiểm sát cho rằng yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Bảo T là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi thẩm tra xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Thẩm quyền, quan hệ tranh chấp: Chị Nguyễn Bảo T và anh Nguyễn Trí H hôn nhân có thực hiện đăng ký kết hôn và được cấp giấy chứng nhận kết hôn. Ngày 17/7/2024 chị T khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh H, bị đơn có nơi cư trú tại thành phố M, Tiền Giang. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là tranh chấp “ly hôn”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho.

[1.2] Sự có mặt của đương sự: Bị đơn Nguyễn Trí H đã được triệu tập xét xử đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt xét xử. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và nguyên đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về chứng cứ chứng minh: Xét thấy, anh Nguyễn Trí H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng, nhưng không có ý kiến gì về các chứng cứ và yêu cầu khởi kiện của chị T. Nên căn cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 91, 92, 94 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn, các chứng cứ Tòa án thu thập và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xem xét giải quyết.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Bảo T và anh Nguyễn Chí H1 tự nguyện đi đến hôn nhân, hôn nhân có thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang, cấp giấy chứng nhận kết hôn số 70/2022 ngày 20/6/2022. Hội đồng xét xử xác định, hôn nhân giữa chị T và anh H1 là hôn nhân hợp pháp. Chị T yêu cầu ly hôn với anh H1 vì cho rằng vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh H1 thường xuyên say xỉn, không chí thú làm ăn và không gánh vác cuộc sống gia đình, chị đã cố hàn gắn tình cảm nhưng không có kết quả. Xét thấy, tại phiên tòa chị T xin vắng mặt xét xử và cũng không có văn bản thay đổi yêu cầu khởi kiện, cho thấy chị T đã kiên quyết ly hôn với anh H1. Ngoài ra, từ khi chị T khởi kiện ly hôn đến nay, phía anh H1 cũng không thể hiện thiện chí hàn gắn tình cảm với chị T, không trình bày ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của chị T. Hội đồng xét xử thấy rằng, hôn nhân giữa chị T và anh H1, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T.

[4] Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, chị T và anh H1 có 01 con chung là Nguyễn Hoàng Đ, sinh ngày 15/10/2021. Chị T yêu cầu cho chị được tiếp tục nuôi dưỡng con chung cho đến khi con trưởng thành.

Xét thấy, hiện cháu Đ đang sống cùng với chị T và đang phát triển tốt. Từ khi chị T khởi kiện đến nay, anh H1 cũng không có ý kiến trình bày về nguyện vọng muốn trực tiếp nuôi con chung. Tại biên bản xác minh ngày 09/8/2024 Ủy ban nhân dân xã M cho rằng, do anh H1 và chị T không yêu cầu chính quyền địa phương giải quyết về mâu thuẫn vợ chồng nên nay anh chị ly hôn, địa phương không biết được điều kiện nuôi con chung giữa anh chị. Hội đồng xét xử thấy rằng, cháu Đ hiện dưới 36 tháng tuổi, để đảm bảo cho sự phát triển toàn diện và ổn định của cháu, cần giao cháu Đ cho mẹ là chị T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi và lao động được. Về yêu cầu cấp dưỡng, chị T không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[5] Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[6] Về nợ chung: Không ai yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[7] Về án phí: Chị T phải chịu án phí hôn nhân gia đình.

[8] Đề nghị của Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho là có cơ sở và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 91, 92, 94, 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 131 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Xử: 1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Bảo T.

- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Bảo T được ly hôn với anh Nguyễn Trí H.

- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hoàng Đ, sinh ngày 15/10/2021 cho chị Nguyễn Bảo T trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến khi cháu Đ đủ 18 tuổi và lao động được. Anh Nguyễn Trí H không phải cấp dưỡng nuôi con, do chị T không yêu cầu cấp dưỡng.

Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con - Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí: Chị Nguyễn Bảo T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm. Chị T đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0006454 ngày 17/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho, nên xem như đã nộp xong án phí.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyễn Bảo T và anh Nguyễn Trí H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP Mỹ Tho;
  • - Chi cục THADS TP Mỹ Tho;
  • - UBND Phường Tân Long;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.08

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Phạm Thị Sắc Ly

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 194/2024/HNGĐ-ST ngày 13/09/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang về ly hôn

  • Số bản án: 194/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn giữa Nguyễn Bảo T và Nguyễn Trí H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger