Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Bản án số 194/2024/DS-PT

Ngày 12/12/2024

V/v tranh chấp Hợp đồng vay tài sản

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Vương Thảo
Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Bé
Bà Nguyễn Hữu Thị Hảo Hảo

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Ngân - Thư ký TAND TP.Đà Nẵng

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng: Ông Huỳnh Mạnh– Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 12/12/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 78/2024/TLPT-DS ngày 08/10/2024 về việc “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản”

Do bản án dân sự sơ thẩm số 76/2024/DS-ST ngày 16/8/2024 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 198/2024/QĐXXPT-DS ngày 18/11/2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Ngô Thị L, sinh năm 1969. Địa chỉ: Số A T, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng (Vắng mặt)

    Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đại T, sinh năm 1991. Địa chỉ: Tổ C, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng (Có mặt)

  2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1973. Địa chỉ: Số A P, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng (Có đơn xin xử vắng mặt).
  3. Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị T1, là bị đơn

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện gửi Tòa án, trong biên bản hòa giải và tại phiên tòa đại diện nguyên đơn trình bày:

Bà Ngô Thị L và bà Nguyễn Thị T1 có quen biết nhau từ trước. Vì là chỗ thân quen nên hai bên thường vay mượn tiền nhau để làm ăn.

Trong thời gian từ năm 2017 đến năm 2022, bà T1 có mượn tiền bà L nhiều lần với tổng số tiền 152.500.000đ, hai bên có viết các giấy mượn tiền và cam kết thời hạn trả tiền. Vào năm 2023, bà T1 đã trả được 50 triệu đồng và từ đó đến nay không trả nữa, bà L đã nhiều lần yêu cầu nhưng bà T1 không thực hiện việc trả tiền.

Nay bà L làm đơn này kính gửi đến Tòa án nhân dân quận Thanh Khê xem xét giải quyết về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” để yêu cầu bà Nguyễn Thị T1 phải có nghĩa vụ hoàn trả số tiền gốc là 102.500.000đ, không yêu cầu tính lãi.

* Trong văn bản trình bày, trong biên bản hòa giải và tại phiên tòa, bị đơn bà Nguyễn Thị T1 trình bày:

Thực tế tôi có vay tiền bà Ngô Thị L từ năm 2017 và có viết giấy mượn tiền. Tuy nhiên, chúng tôi thỏa thuận trong thời hạn 01 tháng tôi trả số tiền mượn lần trước thì mới được mượn tiền lần sau nên tất cả các khoản nợ trong các giấy mượn tiền từ năm 2017 tôi đều trả cho bà L rồi. Do tôi tin tưởng chỗ quen biết nên các lần trả tiền hai bên không viết giấy trả nợ, tôi cũng đã yêu cầu bà L trả lại các giấy mượn tiền trước đó nhưng bà L nói rằng bà cho vay rất nhiều người nên giấy vay mượn rất nhiều khó tìm. Nay bà L lấy các giấy mượn tiền đó khởi kiện đòi nợ tôi là không có căn cứ. Tôi đã trả tiền đầy đủ cho bà L nên tôi không đồng ý trả tiền theo yêu cầu khởi kiện của bà L.

Với nội dung trên, Bản án sơ thẩm đã xử và quyết định:

Căn cứ vào các Điều 463,466 và 468 BLDS chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện về việc Tranh chấp hợp đồng vay tài sản của bà Ngô Thị L đối với bà Nguyễn Thị T1 .

Xử: Buộc bà Nguyễn Thị T1 phải trả cho bà Ngô Thị L số tiền 55.000.000đ;

- Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện về việc Tranh chấp hợp đồng vay tài sản của bà Ngô Thị L đối với bà Nguyễn Thị T1 đối với số tiền 47.500.000đ.

Ngoài ra bản án còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 28 tháng 8 năm 2024, bị đơn bà Nguyễn Thị T1 kháng cáo toàn bộ bản án, bà T1 cho rằng bà đã trả hết nợ gốc cho bà L, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L.

Trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, ngày 21.11.2024 nguyên đơn bà Ngô Thị L và bị đơn bà Nguyễn Thị T1 thỏa thuận được với nhau về việc quyết vụ án, theo đó, bà Nguyễn Thị T1 có trách nhiệm trả cho bà Ngô Thị L số tiền 35.000.000đồng. Phương thức trả như sau:

  • + Lần thứ nhất: Trả 20.000.000đồng (Hai mươi triệu đồng) vào ngày 21/11/2024. Bà Ngô Thị L đã nhận;
  • + Lần thứ hai: Ngày 03/3/2025 bà T1 trả cho bà L số tiền 15.000.000đồng (Mười lăm triệu đồng) còn lại.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn có đơn xin xử vắng mặt và giữ nguyên ý kiến tại Giấy thỏa thuận ngày 21/11/2024; đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thống nhất với việc thỏa thuận.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng phát biểu ý kiến:

  • + Về thủ tục tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng tại cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm.
  • + Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 300 và khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 76/2024/DS-ST ngày 16/8/2024 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng; công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, do nội dung thỏa thuận là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Do bị đơn bà Nguyễn Thị T1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án áp dụng khoản 2 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bà T1.

[2] Về nội dung: Trước khi mở phiên tòa, các đương sự đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án. Theo đó, bà Nguyễn Thị T1 có trách nhiệm trả cho bà Ngô Thị L số tiền 35.000.000đồng, bà Nguyễn Thị T1 đã trả cho bà Ngô Thị L 20.000.000đồng (Hai mươi triệu đồng) vào ngày 21 tháng 11 năm 2024. Số tiền còn lại 15.000.000đồng (Mười lăm triệu đồng) bà Nguyễn Thị T1 trả cho bà Ngô Thị L vào ngày 03 tháng 3 năm 2025. Tại phiên tòa hôm nay, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên việc thỏa thuận.

Xét thấy, sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội, không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự khác trong vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, áp dụng Điều 300 và khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 76/2024/DS-ST ngày 16/8/2024 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng; công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như trên.

[3] Về án phí:

- Án phí dân sự sơ thẩm: Tại cấp phúc thẩm, các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, do đó, án phí dân sự sơ thẩm được xác định lại trên số tiền 15.000.000 đồng mà bà T1 phải có trách nhiệm trả tiếp cho bà L, theo đó bị đơn bà Nguyễn Thị T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 750.000đồng.

- Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị T1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm 300.000 đồng theo quy định tại khoản 5 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 300 và khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 466 và Điều 468 Bộ luật Dân sự;

Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 76/2024/DS-ST ngày 16/8/2024 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự:

  1. Bà Nguyễn Thị T1 có nghĩa vụ trả cho bà Ngô Thị L số tiền 15.000.000đồng (Mười lăm triệu đồng) vào ngày 03 tháng 3 năm 2025.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án không thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng thời gian và số tiền phải thi hành án.

  2. Về án phí:
    • Án phí dân sự sơ thẩm: 750.000đồng bà Nguyễn Thị T1 phải chịu. Hoàn trả cho bà Ngô Thị L số tiền tạm ứng án phí 2.562.500đồng theo biên lai thu số 0001278 ngày 04/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng
    • Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị T1 phải chịu 300.000đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà T1 đã nộp theo Biên lai thu số 0001467 ngày 28/8/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án.

  1. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND quận Thanh Khê;
  • - VKSND TP. Đà Nẵng;
  • - Chi cục THADS Q . Thanh Khê;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Mai Vương Thảo

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

***

TÒA ÁN NHÂN DÂN

Q. THANH KHÊ - TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Thanh Khê, ngày 16 tháng 8 năm 2024.

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi 15 giờ 10 phút, ngày 16 tháng 8 năm 2024;

Tại phòng nghị án TAND quận Thanh Khê;

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Ngọc Cường.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Thuận và bà Lê Thị Nhớ.

Tiến hành nghị án vụ án dân sự thụ lý số 175/2024/TLST-DS ngày 04 tháng 6 năm 2024 về “Tranh chấp HĐ vay tài sản” giữa:

- Nguyên đơn, Bà Ngô Thị Lan, sinh năm 1969; Trú tại: 11 Thanh Huy 2, phường Thanh Khê Đông, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Đại Thiện, sinh năm 1991. Địa chỉ: Tổ 30 phường Thạc Gián, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, có mặt

- Bị đơn, Bà Nguyễn Thị Thu, sinh năm 1973. Trú tại: 12 Phục Đán, phường Thanh Khê Đông, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, có mặt.

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật(8).

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT,

QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU

  1. Về quan hệ pháp luật: Hội đống xét xử thảo luận và thống nhất xác định đây là tranh chấp về “Tranh cấp hợp đồng vay tài sản”

    Biểu quyết: 3/3.

  2. Về nội dung: Hội đống xét xử thảo luận và quyết định:

    Căn cứ: - Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự;

    - Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

    - Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện về việc Tranh chấp hợp đồng vay tài sản của bà Ngô Thị Lan đối với bà Nguyễn Thị Thu.

Xử: Buộc bà Nguyễn Thị Thu phải trả cho bà Ngô Thị Lan số tiền 55.000.000₫;

- Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện về việc Tranh chấp hợp đồng vay tài sản của bà Ngô Thị Lan đối với bà Nguyễn Thị Thu đối với số tiền 47.500.000₫.

Biểu quyết: 3/3.

  1. Về án phí sơ thẩm các đương sự phải chịu như sau:

    Án phí dân sự sơ thẩm bà Nguyễn Thị Thu phải chịu 2.750.000đ.

    Bà Ngô Thị Lan phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 2.375.000. được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 2.562.500 đồng đã nộp theo biên lai thu số 1278 ngày 04.6.2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Bà Lan được trả lại 187.500₫

    Biểu quyết: 3/3.

  2. Quyền kháng cáo theo luật định.

Nghị án kết thúc lúc 15 giờ 20 phút, cùng ngày.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên dưới đây.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 194/2024/DS-PT ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 194/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/12/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 12/12/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 78/2024/TLPT-DS ngày 08/10/2024 về việc “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản”
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger