Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN PHONG

TỈNH BẮC NINH

Bản án số: 194/2023/HSST

Ngày 28/11/2023

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Vũ Thu Trang

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nghiêm Thị Hiền

Bà Nguyễn Thị Hà

Thư ký phiên toà: Bà Trần Việt Hằng, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Phong.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện Yên Phong tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thị Vân Anh, Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 186/2023/HSST ngày 10/11/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 181/2023/QĐXXST-HS ngày 17/11/2023, đối với bị cáo:

Lê Đình L, sinh năm 1993.

Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Thôn Phú Mẫn, thị trấn Chờ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Đình Ích, sinh năm 1969 và bà Nguyễn Thị Yến, sinh năm 1971; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; vợ: Ngô Thị Xuân, sinh năm 1995, đã ly hôn; con: chưa có.

- Tiền án: 03 tiền án

  • + Bản án số 110/2016/HSST ngày 18/11/2016 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, L bị xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 BLHS năm 1999. Bị can chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/4/2018.
  • + Bản án số 100/2019/HSST ngày 15/8/2019 của Tòa án nhân dân huyện yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, L bị xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015. Bị can chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/7/2020.
  • + Bản án số 156/2021/HSST ngày 13/7/2021 của Tòa án nhân dân thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, L bị xử phạt 32 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 2 Điều 174 BLHS năm 2015. Bị can chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/7/2023.

- Tiền sự: không.

- Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/9/2023 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt tại phiên toà.

Bị hại: Ông Mẫn Văn Cơ, sinh năm 1956. Vắng mặt

Trú tại: Mẫn Xá, Văn Môn, Yên Phong, Bắc Ninh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị Yến, sinh năm 1971. Có mặt

    Trú tại: Phú Mẫn, thị trấn Chờ, Yên Phong, Bắc Ninh.

  2. Ông Lê Đình Ích, sinh năm 1969. Có mặt

    Trú tại: Phú Mẫn, thị trấn Chờ, Yên Phong, Bắc Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do cần tiền để trả nợ và tiêu sài cá nhân nên Lê Đình L nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của người khác. Do trước đây L chấp hành án phạt tù tại trại giam Ngọc Lý-Bộ Công an và ở cùng đội, cùng buồng với Mẫn Anh Tâm (anh Tâm đang chấp hành bản án về tội “Giết người” tại Biên Hòa, Đồng Nai, mức án tù chung thân) nên L biết gia đình anh Tâm rất lo lắng và quan tâm đến việc chấp hành án của anh Tâm. Khoảng 09 giờ 00 ngày 24/9/2023, L dùng số điện thoại 0879.086.xxx gọi vào số điện thoại 0938.093.xxx của ông Mẫn Văn Cơ (là bố đẻ anh Tâm) tự xưng tên Thắng - cán bộ trinh sát Trại giam Ngọc Lý và nói anh Tâm xảy ra việc xô xát, đánh nhau ở Trại giam Ngọc Lý, mục đích để ông Cơ lo lắng và nhờ L giúp không bị kỉ luật, không ảnh hưởng đến việc chấp hành án của anh Tâm. Sau khi nghe L nói như vậy, ông Cơ lo lắng nên qua điện thoại nói nhờ anh Thắng (tức là L) giúp việc xảy ra đối với anh Tâm như trên. L nói với danh nghĩa là anh Thắng với ông Cơ: “Muốn giải quyết được thì phải có tiền”. Ông Cơ hỏi bao nhiêu tiền, L trả lời: “25.000.000 đồng”, nhưng sau đó L nói với ông Cơ là 23.000.000 đồng cũng được. Ông Cơ đồng ý. L gửi cho ông Cơ số tài khoản: 4330858781 ngân hàng BIDV tên tài khoản NGUYEN THI YEN - chủ tài khoản là bà Nguyễn Thị Yến (là mẹ đẻ L) và bảo ông Cơ chuyển số tiền trên. Sau đó, ông Cơ nhờ chị Mẫn Thanh Hiếu (là con gái ông Cơ) chuyển số tiền 23.000.000 đồng như L yêu cầu. Chị Hiếu đồng ý, nên 9 giờ 30 ngày 24/9/2023, chị Hiếu đã chuyển 23.000.000 đồng từ số tài khoản 0280103329003 ngân hàng MB tên MAN THANH HIEU của chị Hiếu vào tài khoản nêu trên cho L. Khoảng 30 phút sau, L tiếp tục gọi cho ông Cơ lấy danh nghĩa là anh Thắng - Cán bộ trinh sát Trại giam Ngọc Lý nói số tiền 23.000.000 đồng vẫn chưa đủ để giải quyết việc cho Tâm và bảo ông Cơ chuyển tiếp số tiền 7.000.000 đồng vào tài khoản của bà Yến. Ông Cơ đồng ý và nhờ bà Mẫn Thị Lý chuyển số tiền 7.000.000 đồng như L yêu cầu. Bà Lý đồng ý và chuyển số tiền 7.000.000 đồng từ số tài khoản 100883882890 ngân hàng Viettin Bank tên MAN THI LY của bà Lý vào tài khoản của bà Yến cho L. Sau 02 lần chuyển tiền nêu trên, ông Cơ đều gọi điện lại cho L hỏi đã nhận được tiền chưa đồng thời tiếp tục nhờ L lo việc liên quan đến anh Tâm. L đều trả lời đã nhận được tiền và đồng ý sẽ giúp việc liên quan đến anh Tâm như ông Cơ nhờ. Sau khi nhận được số tiền trên L mượn điện thoại của bà Yến ra cây ATM Ngân hàng BIDV huyện Yên Phong và rút số tiền 30.000.000 đồng. L trả cho người tên Hoàng Văn Tiến, làm công nhân thời vụ của Công ty Hjong - Khu công nghiệp Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh số tiền 29.500.00 đồng, còn số tiền 500.000 đồng L tiêu sài cá nhân hết.

Sau khi đã chuyển số tiền 30.000.000₫ cho L, ông Cơ gọi điện cho đồng chí Nguyễn Đăng Thông là cán bộ đang công tác tại Trại giam Ngọc Lý - Bộ Công an. (Trước đây, đồng chí Thông công tác tại đội 4, phân trại số 3, Trại giam Ngọc Lý là quản giáo quản lý anh Mẫn Anh Tâm và Lê Đình L). Quá trình nói chuyện, ông Cơ biết anh Tâm vẫn đang chấp hành tốt và không có sự việc anh Tâm xô xát đánh nhau. Lúc này, ông Cơ biết mình bị lừa chiếm đoạt số tiền 30.000.000 đồng. Ngày 29/9/2023, ông Mẫn Văn Cơ đến Công an huyện Yên Phong trình báo sự việc. Cùng ngày, Lê Đình L đến Công an huyện Yên Phong đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội của bản thân.

Vật chứng thu giữ: 01 sim điện thoại số 0879.086.xxx của Lê Đình L.

Bản Cáo trạng số: 192/CT-VKSYP ngày 09/11/2023 của VKSND huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh truy tố Lê Đình L về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại d khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo nhận tội và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố bị cáo là đúng, không oan sai.

Người bị hại là ông Mẫn Văn Cơ vắng mặt tại phiên tòa nhưng qua lời khai có trong hồ sơ thể hiện: Ông đã được gia đình bị cáo bồi thường số tiền 30.000.000 đồng, ông không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm về mặt dân sự và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Yến trình bày: Tài khoản ngân hàng số 4330858781 đứng tên Nguyễn Thị Yến tại Ngân hàng BIDV là của bà, tuy nhiên bà không biết L đã sử dụng tài khoản của bà để chiếm đoạt tài sản của ông Cơ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lê Đình Ích trình bày: Sau khi phạm tội, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho người bị hại. Nay ông không yêu cầu bị cáo phải trả bà số tiền này và xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Sau khi phân tích tính chất của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo từ 30 tháng đến 34 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/9/2023.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) sim điện thoại số 0879.086.xxx của Lê Đình L.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Bị cáo không tham gia tranh luận, đối đáp với đại diện Viện kiểm sát mà đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người liên quan tại phiên toà.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN ĐỊNH:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, xét thấy:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Công an huyện Yên Phong, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo không có khiếu nại. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng trên đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn nhận tội, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với kết quả tranh luận tại phiên tòa, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 9 giờ ngày 24/9/2023, Lê Đình L là người có 03 tiền án, đã giả mạo là cán bộ trại giam Ngọc Lý, đưa ra thông tin giả là anh Mẫn Anh Tâm - con trai ông Mẫn Văn Cơ xảy ra xô xát và đánh nhau tại trại giam Ngọc Lý, cần có tiền để không bị kỷ luật. L yêu cầu ông Cơ chuyển cho L 23.000.000 đồng. Sau khi nhận đủ số tiền trên, L tiếp tục yêu cầu ông Cơ chuyển thêm 7.000.000 đồng. Tổng số tiền L đã gian dối chiếm đoạt tiền của ông Cơ là 30.000.000 đồng. Do vậy, có đủ căn cứ xét xử bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự như Cáo trạng truy tố là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của chủ sở hữu được pháp luật bảo vệ, mà còn gây mất trật tự trị an an toàn xã hội ở địa phương, nên cần được xử lý nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra bị cáo khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã đến Công an huyện Yên Phong đầu thú, tác động đến gia đình bồi thường cho người bị hại, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có ông nội là người có công với cách mạng nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do vậy cũng xem xét giảm nhẹ một phần khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì thêm nên không xem xét giải quyết.

[5] Về vật chứng: 01 (một) chiếc sim điện thoại số 0879.086.xxx của Lê Đình L dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với chiếc điện thoại di động bị cáo sử dụng để gọi điện cho ông Cơ, bị cáo đã làm hỏng và vứt đi, vứt ở đâu bị cáo không nhớ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Phong không có căn cứ truy tìm để thu hồi.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Lê Đình L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

    Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS; xử phạt bị cáo 32 (Ba mươi hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/9/2023.

    Áp dụng Điều 329 BLTTHS, tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án (29/11/2023) theo quyết định tạm giam của HĐXX.

  2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) sim điện thoại số 0879.086.xxx của Lê Đình L.

    (Vật chứng có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Phong).

  3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

    Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

    Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh;
  • - VKS, CA, THADS huyện YP;
  • - Nhà tạm giữ CA huyện YP;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh BN;
  • - Những người tham gia TT;
  • - Lưu HS, VP;

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Vũ Thu Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 194/2023/HSST ngày 28/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (tội phạm hình sự)

  • Số bản án: 194/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Tội phạm hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger