Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI ĐÀ NẴNG

Bản án số: 194/2021/DS-PT
Ngày 27 - 10 - 2021
V/v: "tranh chấp quyền sử dụng đất"
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Xuân Thành
Các Thẩm phán: Ông Vũ Thanh Liêm
Ông Võ Ngọc Thông
  • Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Phong, Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
  • Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng: Ông Nguyễn Thế Vinh, Kiểm sát viên.

Vào ngày 27 tháng 10 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 142/2021/TLPT-DS ngày 02 tháng 3 năm 2021; về việc "V/v tranh chấp quyền sử dụng đất". Do Bản án dân sự sơ thẩm số 09/2020/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị bị kháng cáo. Giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: ông Hoàng Hữu H; địa chỉ: Thôn H, xã C, huyện C, tỉnh Quảng Trị, có mặt.

2. Bị đơn:

  • Bà Cao Thị Y; địa chỉ: Thôn H, xã C, huyện C, tỉnh Quảng Trị.
  • Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Phạm M T; địa chỉ: Quảng Trị là người đại diện theo ủy quyền (theo văn bản ủy quyền ngày 03/6/2020), vắng mặt.
  • Ông Lê Văn L; địa chỉ: xã C, huyện C, tỉnh Quảng Trị, có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • Ông Trần Đình Q; địa chỉ: Thôn H, xã C, huyện C, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
  • Người đại diện hợp pháp của bị đơn ông Trần Đình Q: Bà Hoàng Thị Ngọc D; địa chỉ: Thôn H, xã C, huyện C, tỉnh Quảng Trị là người đại diện theo ủy quyền (theo giấy ủy quyền ngày 11/3/2020), vắng mặt.

3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • Bà Hoàng Thị Ngọc D; Địa chỉ: Thôn H, xã C, huyện C, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
  • Chị Lê Thị M H; địa chỉ: Thôn Q, xã C, huyện C, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
  • Bà Lê Thị Thúy H1; địa chỉ: Thôn Q, xã C, huyện C, tỉnh Quảng Trị, có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • Ông Trần Đình C; Địa chỉ: Thôn H, xã C, huyện C, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
  • Người đại diện hợp pháp của ông Trần Đình C: Ông Phạm M T; Địa chỉ: Quảng Trị là người đại diện theo ủy quyền (theo văn bản ủy quyền ngày 03/6/2020), vắng mặt.
  • Bà Lê Thị N; địa chỉ: Thôn H, xã C, huyện C, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
  • Chị Hoàng Thị Thùy D, anh Hoàng Hữu Đ, chị Hoàng Thị L; địa chỉ: Thôn H, xã C, huyện C, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
  • Ông Phạm M T; địa chỉ: Quảng Trị, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN;

Theo Bản án sơ thẩm nội dung vụ án như sau;

Tại đơn khởi kiện của nguyên đơn ông Hoàng Hữu H trình bày: Nguồn gốc diện tích đất 1.503m2 do ông H mua của ông Lê Văn M và sử dụng từ năm 1993. Năm 1998, hộ ông H kê khai sử dụng đất. Ngày 23/7/2002 UBND huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 1.503m2 cho hộ ông H. Ngày 16/9/2014, ông H đo đạc lại đất để xây khuôn viên thì phát hiện đất bị thiếu do các hộ lấn chiếm cụ thể: hộ bà Cao Thị Y lấn chiếm diện tích 9,9m2; hộ ông L lấn chiếm diện tích 53,7m2; hộ ông Q lấn chiếm diện tích 10m2. Diện tích lấn chiếm trên các hộ đã xây dựng công trình và trồng cây cối trên đất.

Đề nghị Tòa án giải quyết buộc vợ chồng bà Cao Thị Y, ông Trần Đình C tháo dỡ tài sản trên đất trả diện tích 9,9m2; buộc vợ chồng ông Lê Văn L, chị Lê Thị M H, bà Lê Thị Thúy H1 tháo dỡ tài sản trên đất trả diện tích 53,7m2; buộc vợ chồng ông Trần Đình Q, bà Hoàng Thị Ngọc D phải di dời cây cối trên đất để trả lại diện tích đất 10m2 theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án.

Bị đơn bà Cao Thị Y trình bày: Nguồn gốc đất bà Y đang sử dụng có nguồn gốc mượn của Xí nghiệp Hồ tiêu T diện tích 238m2 (17m x 14m) để xây quán tạm. Năm 1992, bà Y xây 01 quán nhỏ bán hàng bằng gỗ lợp ngói. Sau đó bà Y xây bao che quán và lợp tôn. Bà Y không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Khi ông H được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà Y không ký hộ liền kề.

Bị đơn ông Lê Văn L và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Thúy H1 (vợ ông L) trình bày: Nguồn gốc đất ông L, bà H1, bà H đang sử dụng do có đơn xin Xí nghiệp hồ tiêu T để làm quán. Sau đó đơn bị thất lạc nên năm 2005 ông L xin xác nhận lại. Năm 1991 ông L làm quán gỗ. Năm 1993 xây lại quán, giáp diện tích đất của ông H thì ông L có xây 01 quán và 01 nhà ở. Ông L sử dụng diện tích đất này từ năm 1991. Khoảng năm 2016-2017 ông L, bà H1 xây nhà cho con gái chị Lê Thị M H ở, nhưng đây là tài sản chung của vợ chồng ông L, bà H1. Ông L, bà H1 sử dụng đất khi ông H chưa về ở. Ông H xây dựng tường rào năm 2005 và năm 2014. Ông L, bà H1 không kê khai quyền sử dụng đất và không nộp thuế sử dụng đất hàng năm. Ông L, bà H1 không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H.

Người có quyền lợi nghĩa liên quan UBND huyện C trình bày: Nguồn gốc đất của hộ ông H do nhận chuyển nhượng của ông Lê Văn M và sử dụng từ năm 1993. Quá trình sử dụng, hộ ông H kê khai sử dụng đất và có tên trong sổ mục kê năm 1998, thực hiện đầy đủ nộp thuế với Nhà nước. Năm 2002 hộ ông H được UBND huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V 720935 thửa số 17, tờ bản đồ số 20 với diện tích 1.503m2.

Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông H trên bản đồ đo đạc địa chính năm 1997. Kiểm tra hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ ông H đang lưu trữ tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C không có biên bản xác nhận ranh giới, mốc giới thửa đất. Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông H chưa đầy đủ trình tự, thủ tục.

Nguồn gốc đất của bà Cao Thị Y, ông Lê Văn L, bà Lê Thị Thúy H1, ông Trần Đình Q, bà Hoàng Thị Ngọc D đang sử dụng thửa 245, 276, 275, tờ bản đồ số 66 trước đây thuộc đất của Xí nghiệp liên hiệp hồ tiêu T quản lý (nay là Công ty CPNS T). Năm 2004, Công ty CPNS T đã bàn giao đất cho UBND xã C quản lý trong đó có các thửa 245, 276, 275, tờ bản đồ số 66 theo biên bản cuộc họp ngày 31/8/2004 giữa Công ty CPNS T với UBND xã C. Bà Y sử dụng đất từ năm 1995 được Xí nghiệp liên hiệp hồ tiêu T đồng ý cho làm ki ốt tạm thời với diện tích 17 x 14 = 238m2. Bà Y không kê khai quyền sử dụng đất và không nộp thuế sử dụng đất hàng năm, chỉ nộp thuế môn bài. Ông L, bà H1 được Xí nghiệp liên hiệp hồ tiêu T đồng ý cho sử dụng từ năm 1991 để làm quán xay xát, sửa xe với diện tích 150m2, nhưng hộ gia đình đã sửa lại diện tích 250m2. Ông L, bà H1 không kê khai quyền sử dụng đất và không nộp thuế sử dụng đất hàng năm, chỉ nộp thuế môn bài. Ông Q, bà D được Xí nghiệp liên hiệp hồ tiêu T sử dụng đất từ năm 1993 để làm quán sửa chữa điện tử. Ông Q, bà D không kê khai quyền sử dụng đất và không nộp thuế sử dụng đất hàng năm, chỉ nộp thuế môn bài. Bà Y, ông L, bà H1, ông Q, bà D đã được UBND huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở vị trí khác. Bà Y, ông L, bà H1, ông Q, bà D sử dụng diện tích đất trên để kinh doanh buôn bán nhỏ, nhưng chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao đất và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bà Y, ông L, bà H1, ông Q, bà D đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 245, 276, 275, tờ bản đồ số 66 vì nằm trong phạm vi được xác định là khu dân cư nông thôn.

Bị đơn ông Trần Đình Q, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Hoàng Thị Ngọc D trình bày: Nguồn gốc đất trên do tôi xin đất làm quán sử dụng từ năm 1995 cho đến nay. Việc ông H khởi kiện đòi lại đất, ông Q và bà D không đồng ý vì ranh giới sử dụng đất đã ổn định từ trước, có hàng rào rõ ràng. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ông Phạm M T trình bày: Ngày 14/6/2018 ông T, bà Y, ông C có thỏa thuận bằng Giấy viết tay với nội dung: Bà Y, ông C chuyển nhượng toàn bộ thửa đất, trong đó có một phần diện tích đang tranh chấp cho ông T với giá trị chuyển nhượng 450.000.000đồng. Ông T mới đặt cọc số tiền 200.000.000đồng. Hai bên chưa làm thủ tục chuyển nhượng và hiện tại bà Y, ông C vẫn đang quản lý diện tích đất trên.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị N, ông Hoàng Hữu Đ trình bày: UBND huyện C đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông H, trong đó có bà N là thành viên hộ gia đình. Bà Y đã sử dụng lấn sang diện tích đất của hộ ông H. Bà N đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông H.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308, Bộ luật Tố tụng dân sự: Không chấp nhận đơn kháng cáo của ông Lê Văn L và bà Lê Thị Thúy H1. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 09/2020/DS-ST ngày 30/9/2020, của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Hữu H.
  2. Buộc bà Cao Thị Y, ông Trần Đình C phải tháo dỡ một phần chái nhỏ được xây bao che bằng Blô, mái Brô xi măng đã bị đổ có diện tích 7,7m2 để trả cho ông Hoàng Hữu H diện tích đất 9,9m2 có vị trí: Cạnh phía Tây giáp đất hộ ông H có chiều dài: 4,49m; Cạnh phía Đông Nam có chiều dài: 4,78m; Cạnh phía Bắc giáp đất ông Q, bà D có chiều dài: 4,3m (có sơ đồ kèm theo).
  3. Buộc ông Trần Đình Q, bà Hoàng Thị Ngọc D phải di dời toàn bộ cây chuối trên đất để trả cho ông Hoàng Hữu H diện tích đất là 10m2 có vị trí: Cạnh phía Tây giáp đất hộ ông H, bà N có chiều dài: 2,27m; Cạnh phía Đông có chiều dài: 2,3m; Cạnh phía Bắc giáp đất ông L, bà H1, bà H có chiều dài: 6,19m; Cạnh phía Nam giáp đất bà Y, ông C có chiều dài 4,3m (có sơ đồ kèm theo).
  4. Buộc ông Lê Văn L, bà Lê Thị Thúy H1, bà Lê Thị M H liên đới bồi thường cho ông Hoàng Hữu H giá trị diện tích đất ở: 10,7m2 với số tiền 2.160.000đồng.
  5. Buộc ông Lê Văn L, Lê Thị Thúy H1, chị Lê Thị M H di dời toàn bộ cây cối trên đất để trả lại cho ông Hoàng Hữu H diện tích đất 43m2 có vị trí: cạnh phía Bắc có chiều dài 2.68m; cạnh phía Nam có chiều dài 6.19m; cạnh phía Đông có chiều dài 7.76m + 3.32m; cạnh phía Tây có chiều dài 0,27m + 2.22m + 5.74m (có sơ đồ kèm theo).
Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân tối cao;
- VKSND cấp cao tại Đà Nẵng;
- TAND tỉnh Quảng Trị;
- VKSND tỉnh Quảng Trị;
- Cục THADS tỉnh Quảng Trị;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA



(Đã ký)


Mai Xuân Thành
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 194/2021/DS-PT ngày 27/10/2021 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 194/2021/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/10/2021
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận đơn kháng cáo của ông Lê Văn L và bà Lê Thị Thúy H1.Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 09/2020/DS-ST ngày 30/9/2020, của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger