Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 193/2024/HSST

Ngày: 31/07/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Định.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Vân.

2. Ông Huỳnh Vĩnh Lộc.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Minh Quang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Lê Văn Chung – Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 07 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 109/2024/HSST, ngày 22 tháng 04 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 171/2024/QĐXXST-HS ngày 03/07/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 278/2024/HSST-QĐ ngày 22/7/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Huỳnh Xuân H, sinh năm 1980, giới tính: Nữ; Nơi thường trú: K, phường A, thị xã G, Tỉnh Bạc Liêu; Chỗ ở: Số D, đường P, ấp T, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hóa: 02/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Huỳnh Văn T (chết) và bà Trần Thị H1; Anh chị em ruột có 08 người (kể cả bị cáo), bị cáo có chồng tên Trương Tấn K, có 01 con, sinh năm 2001.

Tiền án, Tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại và được áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại:

Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1958.

Địa chỉ: Số B, ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Nguyễn Thị H2:

Luật sư Trịnh Văn H3 – Văn phòng L (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 23/7/2023, Huỳnh Xuân H đi cùng bà Nguyễn Thị H2 trên xe ô tô biển số 51D-631.74 từ xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh đến trước nhà không số đường T, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh để xem đất thuê mặt bằng. Khi bà H2 bước xuống xe có để lại 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro max, màu xanh; Số IMEI 351143342649269; IMEI2: 351143342715672 tại ghế ngồi phía sau xe. H nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản, nên đã lợi dụng sơ hở trong lúc mọi người không để ý, lén lút lấy chiếc điện thoại trên cất giấu vào bên trong áo, rồi giả vờ nghe điện thoại, vừa nghe vừa đi bộ đến chỗ đống cây có phủ tấm bạt tại bờ kênh, cách vị trí xe ô tô khoảng 20m để cất giấu điện thoại vừa lấy được của bà H2 tại đống cây. Sau đó, H quay trở lại xe cùng mọi người đi về nhà tại huyện H.

Khoảng 21 giờ 00 phút cùng ngày, H quay lại bờ kênh trên để lấy chiếc điện thoại di động Iphone 12 Pro max của bà H2. Ngày 24/7/2023, bà H2 phát hiện bị mất tài sản nên đến kiểm tra camera tại nhà không số đường T, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh thì phát hiện nghi vấn bà H trộm chiếc điện thoại di động Iphone 12 Pro max nên đến Công an xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh trình báo sự việc. Qua làm việc, Huỳnh Xuân H đã khai nhận hành vi trộm tài sản.

Kết luận định giá tài sản số 192/KL-HĐĐGTS ngày 22/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân huyện C kết luận: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12, Pro max, màu xanh; Số Imei 1 351143342649269; số Imei2: 351143342715672, trị giá 11.000.000đ (Mười một triệu đồng).

Tại cơ quan Cảnh sát điều tra bị cáo H đã khai nhận hành vi phạm tội nêu trên.

Tại bản cáo trạng số: 107/CT-VKS.CC ngày 17/04/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Củ Chi để xét xử bị can Huỳnh Xuân H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Xuân H thừa nhận việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi truy tố bị cáo theo Cáo trạng số: 107/CT-VKS.CC ngày 17/04/2024 nêu trên là đúng với hành vi của bị cáo gây ra, không oan sai gì cho bị cáo và tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố bị can Huỳnh Xuân H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tuy nhiên khi lượng hình phạt cho bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết sau:

Tình tiết tăng nặng: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i. s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đề nghị tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Xuân H phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Huỳnh Xuân H từ 09 (Chín) tháng đến 12 (Mười hai) tháng tù.

- Về trách nhiệm dân sự:

01 chiếc điện thoại hiệu Iphone 12 Pro max đã trả cho chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị H2, bà không có yêu cầu gì khác và xin vắng mặt nên không xét.

Bị cáo Huỳnh Xuân H không tham gia tranh luận.

Luật sư Trịnh Văn H3: Qua phần xét hỏi tại phiên tòa bị cáo H đã thành khẩn khai báo, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như bản Cáo trạng đã truy tố. Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi truy tố bị can Huỳnh Xuân H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ. Chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro max màu xanh là vật kỷ niệm của bà H2, bà H2 nói với bị cáo nếu có lấy điện thoại thì trả lại cho bà, nhưng bị cáo không thừa nhận nên bà H2 bức xúc mới đi báo Công an, về mặt quy định đề nghị xử lý bị cáo H theo pháp luật, phần dân sự bà Nguyễn Thị H2 đã nhận lại chiếc điện thoại hiệu Iphone 12 Pro max, và không có yêu cầu gì khác.

Bị cáo H và Kiểm sát viên không tranh luận bổ sung.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin được mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Xuân H đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án: Cụ thể ngày 23/7/2023, bị cáo Huỳnh Xuân H có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro max, màu xanh; Số IMEI 351143342649269; IMEI2: 351143342715672 trị giá 11.000.000 đồng của bà Nguyễn Thị H2 để trên xe ô tô biển số 51D-631.74 đang đậu trước nhà không số đường T, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Bằng những hành vi trên, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Huỳnh Xuân H phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, với phương thức lợi dụng sơ hở của người quản lý, đã chiếm đạt tài sản, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, gây mất an ninh trật tự an toàn xã hội, gây ảnh hưởng đến đời sống và sinh hoạt tại địa phương. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo nhận thức rõ việc bị cáo chiếm đoạt tài sản của người khác là sai trái, phạm pháp nhưng bị cáo vẫn ngang nhiên đi đến hành động phạm tội chỉ vì cần có tài sản để sử dụng nhằm thoả mãn động cơ tư lợi riêng của cá nhân bị cáo, do đó Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt thật nghiêm khắc đối với bị cáo, cần cách ly bị cáo một thời gian để bị cáo có thời gian cải tạo và giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt đồng thời phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên cần xem xét tính chất và mức độ nguy hiểm trong hành vi và nhân thân của bị cáo để có mức hình phạt tương xứng là phù hợp.

[4] Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ:

Tình tiết tăng nặng: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Bà Nguyễn Thị H2 đã nhận lại chiếc điện thoại hiệu Iphone 12 Pro max, bà xin vắng mặt, không có yêu cầu gì khác nên không xét.

Đối với ông Phạm Thanh T1 được bị cáo H cho mượn chiếc điện thoại hiệu Iphone 12 Pro max để sử dụng, ông T1 không biết tài sản trên do bị cáo H phạm tội mà có, Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý đối với ông T1, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi thấy xử lý trên là phù hợp, Hội đồng xét xử thấy xủ lý trên là phù hợp nên không xét.

[6] Về nghĩa vụ chịu án phí:

Căn cứ vào Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Bị cáo Huỳnh Xuân H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Xuân H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Huỳnh Xuân H 09 (Chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Buộc bị cáo Huỳnh Xuân H phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 và 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND huyện Củ Chi;
  • - Công an huyện C;
  • - Chi cục THADS huyện C;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: VP, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Quang Định

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 193/2024/HSST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 193/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Xuân H phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger