|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI TỈNH LÀO CAI Bản án số: 193/2023/HS-ST Ngày 29-12-2023 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI
Thành phần những người tiến hành tố tụng tại điểm cầu trung tâm:
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nga
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Ngân
Ông Bùi Xuân Hưởng
Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Khánh Nguyệt – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo - Kiểm sát viên.
Thành phần những người tiến hành tố tụng tại điểm cầu thành phần:
Ông Vũ Anh T - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai: Ông Hoàng Đức H - Kiểm sát viên
Ngày 29 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến với điểm cầu trung tâm là Hội trường xét xử số 1 – Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, điểm cầu thành phần là Nhà tạm giữ Công an thành phố L, vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 194/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 165/HSST-QĐ ngày 08 tháng 12 năm 2023 với bị cáo:
LÒ VĂN N; Tên gọi khác: Không - Sinh ngày: 23/8/1995 tại Lào Cai; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở trước khi bị bắt: Thôn L, xã Q, huyện B, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Giáy; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lò A X và bà Lò Thị Doãn . Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án: 01. Tại bản án số 15/2020/HS-ST ngày 24/6/2020 của Tòa án nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tổng hợp hình phạt của hai tội 01 năm 08 tháng tù.
Tiền sự: 01. Tại quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 51/2022/QĐ-TA ngày 08/7/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai với thời gian 15 tháng.
Về nhân thân: Tại quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 92/2016/QĐ-TA ngày 29/11/2016 của Tòa án nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai với thời gian 12 tháng. Tại quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 144/2018/QĐ-TA ngày 15/10/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai với thời gian 12 tháng.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/11/2023 hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L, tỉnh Lào Cai. Có mặt
Bị hại: Chị Nguyễn Hồng N
Địa chỉ: Tổ G, phường D, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 50 phút ngày 05/11/2023, Lò Văn N1 một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh biển kiểm soát: 24K4-6474 di chuyển từ quán Internet có địa chỉ tại đường T, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai để đi chơi. Khi Lò Văn N1 đi đến đường H thuộc tổ A, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai thì phát hiện trên đường H có dựng 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 17B2-468.16 ở hốc bên trái đầu xe đang để 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max màu đen (Là tài sản của chị Nguyễn Hồng N). Lò Văn N1 quan sát thấy xung quanh vắng người, không có ai trông coi tài sản nên đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại để mang đi lấy tiền tiêu xài cá nhân. Lò Văn N1 điều khiển xe tiến lại gần chiếc xe mô tô biển kiểm soát 17B2-468.16 và dùng tay phải lấy chiếc điện thoại di động. Sau khi lấy được chiếc điện thoại Lò Văn N1 điều khiển xe đi được khoảng 01 mét thì bị người dân ở khu vực xung quanh phát hiện, bắt giữ. Quá trình bắt giữ trên tay trái của Lò Văn N1 vẫn đang cầm chiếc điện thoại của chị Nguyễn Hồng N. Tại cơ quan điều tra, Lò Văn N1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Kết luận định giá tài sản tài sản số 68/KL-HĐĐG ngày 08/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố L kết luận: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE Xs Max màu đen, dung lượng 256GB, số Imei: 353107104006982, số Imei 2: 353107104189952 có giá trị là 8.500.000 đồng (Tám triệu năm trăm nghìn đồng).
Vật chứng thu giữ gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A3s màu đỏ đen, số Imei 1: 869347036121098, số Imei 2: 869347036121080.
Về trách nhiệm dân sự: Ngày 20/11/2023, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã trả lại cho bị hại chị Nguyễn Hồng N chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE Xs Max màu đen, dung lượng 256GB. Sau khi nhận lại tài sản, chị Nguyễn Hồng N không có yêu cầu bồi thường gì về dân sự.
Cáo trạng số 191/CT-VKS ngày 30/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai truy tố bị cáo Lò Văn N1 về tội "Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự .
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai giữ quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh theo bản cáo trạng đã truy tố là khoản 1 điều 173 - Bộ luật Hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm h, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 - Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Lò Văn N1 phạm tội “Trộm cắp tài sản” xử phạt bị cáo Lò Văn N1 với mức án từ 09 (Chín) tháng đến 12 (Mười hai) tháng tù giam.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo, bị hại theo quy định của pháp luật.
Quá trình điều tra và tại đơn xin xét xử vắng mặt, bị hại chị Nguyễn Hồng N không yêu cầu bị cáo bồi thường gì về trách nhiệm dân sự, về phần hình sự đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố L, tỉnh Lào Cai; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai bị hại, phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở để kết luận ngày 05/11/2023 bị cáo Lò Văn N1 đã thực hiện hành vi trộm cắp của chị Nguyễn Hồng N 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE Xs Max màu đen, dung lượng 256GB có giá trị là 8.500.000 đồng (Tám triệu năm trăm nghìn đồng). Như vậy, đã có đủ căn cứ kết luận hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo Lò Văn N1 đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội, bị cáo là người có sức khỏe, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Nhưng bị cáo thiếu ý, coi thường pháp luật và cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần được xử lý nghiêm minh trước pháp luật và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 01 tiền án tại bản án số 15/2020/HS-ST ngày 24/6/2020 của Tòa án nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tổng hợp hình phạt của hai tội là 01 năm 08 tháng tù. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt nhưng chưa được xóa án tích, do đó lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “Tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự
Tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy bị cáo sau khi phạm tội thành khẩn khai báo, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 - Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu; Tại quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 51/2022/QĐ-TA ngày 08/7/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai với thời gian 15 tháng. Ngày 19/7/2022, Lò Văn N1 chấp hành xong quyết định trên nhưng tiền sự này chưa được xóa. Tại quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 92/2016/QĐ-TA ngày 29/11/2016 của Tòa án nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai với thời gian 12 tháng; Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 144/2018/QĐ-TA ngày 15/10/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai thời gian 12 tháng. Lò Văn N1 chấp hành xong các quyết định trên và đã được xóa tiền sự
[5] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo
[6] Về trách nhiệm dân sự: Ngày 20/11/2023, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã trả lại cho bị hại chị Nguyễn Hồng N chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE Xs Max màu đen, dung lượng 256GB. Sau khi nhận lại tài sản, chị Nguyễn Hồng N không có yêu cầu bồi thường gì về dân sự.
[7] Về vật chứng vụ án: Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A3s màu đỏ đen, số Imei 1: 869347036121098, số Imei 2: 869347036121080 là tài sản của bị cáo, bị cáo không dùng để thực hiện hành vi phạm tội cần xem xét để trả lại cho bị cáo, tuy nhiên, bị cáo còn phải thi hành khoản tiền án phí hình sự sơ thẩm. Vì vậy, cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án
[8] Về các vấn đề khác: Tại các bản án và quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với bị cáo đều ghi tên là Lò Văn L nhưng trong căn cước công dân số [...] ghi tên Lò Văn N1. Vì vậy, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã trưng cầu giám định, kết luận giám định số 85/KL-GĐĐV ngày 22/11/2023 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: Dấu vết đường vân trên bản sao danh bản, chỉ bản ghi số 72, lập ngày 14/4/2020, tại PC11, họ và tên Lò Văn L, sinh năm 1995, nơi ĐKTT: Xã Q, huyện B, tỉnh Lào Cai và dấu vết đường vân trên danh bản, chỉ bản ghi số 266, lập ngày 10/11/2023 tại Công an thành phố L, họ tên Lò Văn N1, sinh ngày 23/8/1995, nơi thường trú: Xã Q, huyện B, tỉnh Lào Cai là của cùng một người. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về kết luận giám định trên.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, biển kiểm soát 24K4-6474, quá trình điều tra xác định là tài sản của bà Lò Thị D (Mẹ đẻ của Lò Văn N1), bà Lò Thị D không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý, ngày 20/11/2023 đã trả lại cho bà Lò Thị D chiếc xe trên là phù hợp.
[9] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 điều 136- Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52 - Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Lò Văn N1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Lò Văn N1 09 (Chín) tháng tù giam. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ bị cáo 05/11/2023.
- Về vật chứng: Áp dụng khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giữ 01 điện thoại nhãn hiệu Oppo A3s màu đỏ đen, số Imei 1: 869347036121098, số I 2: 869347036121080, bị vỡ màn hình, máy đã qua sử dụng để đảm bảo công tác thi hành án
(Vật chứng thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/12/2023)
- Về án phí: Áp dụng điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội bị cáo Lò Văn N1 phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định.
"Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự: thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự".
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Nga |
6
Bản án số 193/2023/HS-ST ngày 29/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI về hình sự sơ thẩm (tội trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 193/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: LÒ VĂN N
