PTÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 193/2024/HNGĐ-ST Ngày 29-7-2024 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thúy Hà
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Phạm Mạnh Hùng
Bà Nguyễn Thị Luyến
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thủy Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
Ngày 29 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án thụ lý số 186/2024/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 192/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Phương H; nơi cư trú: Tổ dân phố D, phường M, quận Đ, thành phố Hải Phòng; vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt;
- - Bị đơn: Anh JEON CHUN KI; nơi cư trú: 44 Dongseo-daero 1352 Beon-gil, J-gu, D, Hàn Quốc; vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Phương H trình bày:
Chị Nguyễn Thị Phương H và anh Jeon Chun K kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân quận Đ, thành phố Hải Phòng vào ngày 22/10/2018. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống với nhau một thời gian ngắn tại Việt Nam, sau đó anh Jeon C Ki trở về Hàn Quốc và làm thủ tục bảo lãnh cho chị H sang Hàn Quốc. Do vợ chồng sống mỗi người một nơi nên ngày càng ít liên lạc. Chị H chờ đợi rất lâu nhưng anh J Chun Ki không về Việt Nam sống cùng chị H và cũng không bảo lãnh cho chị H sang đoàn tụ vợ chồng. Do vậy, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là vợ chồng sống xa nhau quá lâu, phong tục tập quán khác nhau nên tình cảm vợ chồng không còn, không ai còn quan tâm đến ai. Nay vợ chồng không còn tình cảm và cũng không còn muốn đoàn tụ vợ chồng nên chị H đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết cho chị H được ly hôn với anh Jeon Chun K.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị Phương H và anh J Chun Ki không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Phương H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Bản tự khai đã được pháp hóa lãnh sự, anh Jeon Chun K trình bày như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Về quan hệ hôn nhân: Anh Jeon Chun K thống nhất với lời trình bày của chị Nguyễn Thị Phương H về quan hệ hôn nhân và mâu thuẫn vợ chồng. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn và không có khả năng đoàn tụ nên anh J Chun Ki đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết cho anh J Chun K được ly hôn với chị Nguyễn Thị Phương H.
Về con chung: Anh Jeon Chun K và chị Nguyễn Thị Phương H không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Anh Jeon Chun K và chị Nguyễn Thị Phương H không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Thị Phương H có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn giữa chị và anh J Chun Ki nên quan hệ pháp luật trong vụ án là “Ly hôn”. Nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Phương H có nơi cư trú tại Hải Phòng, bị đơn là anh Jeon Chun K hiện đang sinh sống tại Hàn Quốc. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Phương H và bị đơn là anh Jeon Chun K vắng mặt nhưng cùng có yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Do vậy, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung:
[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Phương H và anh Jeon Chun K kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân quận Đ, thành phố Hải Phòng vào ngày 22/10/2018. Theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, chị Nguyễn Thị Phương H và anh J Chun Ki xảy ra mâu thuẫn do phong tục tập quán khác nhau, vợ chồng mỗi người ở một nơi, anh J Chun Ki không làm được thủ tục bảo lãnh cho chị H sang Hàn Quốc. Cả hai anh chị đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng mỗi người ở một nơi và không có khả năng đoàn tụ. Nay chị Nguyễn Thị Phương H yêu cầu xin ly hôn với anh Jeon Chun K, anh Jeon Chun K đồng ý. Như vậy, mâu thuẫn anh chị đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên cần áp dụng Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Phương H về việc xin ly hôn với anh Jeon Chun K.
[4] Về con chung: Chị Nguyễn Thị Phương H và anh Jeon Chun K cùng xác nhận anh chị không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét, giải quyết.
[5] Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Phương H và anh J Chun Ki không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét, giải quyết.
[6] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Phương H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Phương H và anh Jeon C Ki được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Phương H.
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Phương H được ly hôn anh Jeon Chun K.
1.2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị Phương H và anh Jeon Chun K cùng xác nhận anh chị không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét, giải quyết.
1.3. Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Phương H và anh J Chun Ki không yêu cầu giải quyết nên không xem xét, giải quyết.
2. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Phương H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000482 ngày 28 tháng 6 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Nguyễn Thị Phương H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo:
Chị Nguyễn Thị Phương H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Anh Jeon Chun K được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014./.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Thúy Hà |
Bản án số 193/2024/HNGĐ-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn
- Số bản án: 193/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
