Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐIỆN BIÊN

TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 193/2024/HS-ST

Ngày 27 - 8 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Châm

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mùa A Phềnh

Ông Lò Văn Chương

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thuý Dần - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 197/2024/HSST ngày 06 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 198/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Cà Văn T; tên gọi khác: Không; sinh năm: 1983, tại: tỉnh Điện Biên; Nơi ĐKTT và chỗ ở trước ngày bị bắt: Bản H, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cà Văn T1 và bà Lò Thị H; có vợ là Tòng Thị L (đã ly hôn) và 02 người con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 28/8/2011 bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xử phạt 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội Trộm cắp tài sản (Bản án này bị cáo đã được xóa án tích). Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 21/5/2024 sau đó bị tạm giam cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lò Thị Ư, sinh năm 1976. Địa chỉ: Bản N, xã H, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. (có mặt)

- Người làm chứng: Anh Lường Văn C, sinh năm 1984. Địa chỉ: Bản N, xã H, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 21/5/2024, Cà Văn T mượn xe mô tô nhãn hiệu SYM ELEGANTS-SAS, màu sơn đen bạc, biển kiểm soát 27B1- 154.45 của chị Lò Thị Ư (bạn gái T) đi đến khu vực đường thuộc bản N, xã H, huyện Đ để tìm mua ma tuý sử dụng. Đến nơi, T gặp và hỏi mua được của một người phụ nữ dân tộc Mông khoảng 50 tuổi (không biết tên, địa chỉ) 01 viên nén màu hồng được gói ngoài bằng mảnh nilon màu hồng, với giá 20.000 đồng. Mua xong, T cất gói ma tuý vào bên trong chiếc mũ lưỡi trai màu đen T đang đội trên đầu, rồi điều khiển xe mô tô về nhà. Khi T đi đến khu vực đường thuộc bản N, xã H, huyện Đ, thì Lường Văn C xin đi nhờ xe về nhà, T đồng ý. Hồi 19 giờ 30 phút cùng ngày, khi T đang điều khiển xe chở Lường Văn C về đến khu vực bản Nậm Hẹ 2, xã H, huyện Đ thì bị tổ công tác Công an xã H, huyện Đ phát hiện, bắt quả tang, thu giữ trong chiếc mũ lưỡi chai màu đen T đang đội trên đầu 01 gói nilon màu hồng bên trong chứa 01 viên nén màu hồng. Tổ công tác mời người chứng kiến lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng.

Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng ngày 22/5/2024 tại Công an huyện Đ, tỉnh Điện Biên đã xác định: 01 viên nén màu hồng thu giữ của Cà Văn T có khối lượng là 0,1 gam, gửi toàn bộ làm mẫu vật giám định chất ma tuý. Tại bản kết luận giám định số: 862/KL-KTHS ngày 27/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ đã kết luận: 01 viên nén màu hồng thu giữ của Cà Văn T gửi giám định là chất ma túy loại Methamphetamine. Không hoàn lại mẫu vật gửi giám định.

Tại Bản cáo trạng số: 138/CT-VKSHĐB ngày 06/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Cà Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo từ 14 tháng đến 17 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 mảnh nilon màu hồng và 01 chiếc mũ lưỡi chai màu đen, trên mũ có chữ adidas màu trắng, đã qua sử dụng; trả lại cho bà Lò Thị Ư chiếc xe mô tô biển kiểm soát 27B1 - 154.45. Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, không tranh luận và hoàn toàn nhất trí với bản Cáo trạng, Luận tội của Kiểm sát viên.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lò Thị U trình bày: Bà là bạn gái của bị cáo, ngày 21/5/2024 bị cáo mượn của bà chiếc xe mô tô biển kiểm soát 27B1- 154.45, nói là để đi làm, bà không biết bị cáo mượn xe để đi mua ma túy. Chiếc xe của bà đã cũ, đã qua sử dụng. Bà đề nghị Tòa án tuyên trả lại cho bà chiếc xe mô tô và không yêu cầu bị cáo bồi thường.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi của bị cáo: Hồi 19 giờ 30 phút ngày 21/5/2024 tại khu vực bản Nậm Hẹ 2, xã H, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, Cà Văn T bị bắt quả tang khi đang có hành vi cất giấu trái phép 0,1 gam Methamphetamine, mục đích để bản thân sử dụng. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng, Kết luận giám định, Kết luận điều tra và các bản cung có trong hồ sơ vụ án cũng như Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp và đã hoàn thành. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2] Về tính chất, mức độ, động cơ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy đối với bản thân và cộng đồng cũng như nhận thức được chính sách pháp luật hình sự của nhà nước đối với những hành vi mua bán, tàng trữ,... trái phép chất ma túy nhưng để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân, bị cáo đã bất chấp các quy định của pháp luật, cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm những quy định của nhà nước về chế độ quản lý, sử dụng các chất ma túy mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn. Tội phạm mà bị cáo vi phạm là tội phạm nghiêm trọng, vì vậy bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Nhân thân: Ngày 22/8/2011, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xử phạt 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội: Trộm cắp tài sản; ngày 06/8/2012 bị cáo chấp hành xong hình phạt, tính đến ngày phạm tội mới đã được xoá án tích nhưng thể hiện bị cáo là người có nhân thân xấu.

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Tại giai đoạn điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về hình phạt đối với bị cáo: Sau khi xem xét về hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

Hình phạt chính: Cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo có điều kiện cai nghiện đồng thời giáo dục, cải tạo bị cáo thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội. Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự nhưng bị cáo làm nông nghiệp, thu nhập không ổn định, không có tài sản có giá trị. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về vật chứng của vụ án: 01 mảnh nilon màu trắng không còn giá trị sử dụng; 01 chiếc mũ lưỡi chai màu đen, trên mũ có chữ adidas màu trắng, đã qua sử dụng là công cụ dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần bị tịch thu tiêu hủy theo điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự

Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 27B1- 154.45 đã qua sử dụng là tài sản của bà Lò Thị Ư, bà Ư không biết bị cáo sử dụng chiếc xe vào việc đi mua ma túy, vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại chiếc xe cho bà Lò Thị Ư.

[6] Các vấn đề khác: Đối với người phụ nữ đã bán ma tuý cho bị cáo do bị cáo không biết tên tuổi và địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có cơ sở điều tra làm rõ được, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lò Thị Ư không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với Lường Văn C, quá trình điều tra đã xác định C không biết việc bị cáo cất giấu ma tuý trên người nên không đề cập vấn đề xử lý, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự nhưng bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở nơi có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo thuộc hộ cận nghèo và tại phiên toà có ý kiến xin miễn án phí hình sự sơ thẩm. Căn cứ quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.

[9] Về các hành vi và Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc có khiếu nại gì về hành vi, Quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng huyện Đ, tỉnh Điện Biên đã thực hiện đều hợp pháp, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tội danh: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự: Tuyên bố bị cáo Cà Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Cà Văn T 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 21/5/2024).
  3. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
    • Tịch thu tiêu hủy 01 mảnh nilon màu hồng và 01 chiếc mũ lưỡi chai màu đen, trên mũ có chữ adidas màu trắng, đã qua sử dụng.
    • Trả lại cho bà Lò Thị Ư 01 chiếc xe mô tô: Biển kiểm soát 27B1 – 154.45, Loại xe: Hai bánh từ 50 - 175cm3; Nhãn hiệu: SYM; Số loại: ELEGANTS-SAS; Màu sơn: Đen bạc; Số máy: VMSACEH021823; Số khung: RLGSC10MHCH021823; Dung tích xi lanh: 97cm3, xe có cắm 01 chìa khoá; Tình trạng xe cũ, đã qua sử dụng.
    • (Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/8/2024 giữa Công an huyện Đ, tỉnh Điện Biên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên).
  4. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136/BLTTHS và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
  5. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 27/8/2024); Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 27/8/2024).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Điện Biên;
  • - VKSND tỉnh Điện Biên;
  • - Sở tư pháp tỉnh Điện Biên;
  • - VKSND huyện Điện Biên;
  • - Công an huyện Điện Biên;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện Điện Biên;
  • - Bộ phận HSNV CA huyện Điện Biên;
  • - Chi cục THADS huyện Điện Biên;
  • - Bị cáo; Người có QL,NVLQ;
  • - Lưu: Hs, hs THAHS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Châm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 193/2024/HS-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 193/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo Cà Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger